Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 12, 2012

Hai tư liệu tham khảo dành cho nhà báo Đặng Minh Phương

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:42 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 3 tháng 10 năm 2012.

HAI TƯ LIỆU THAM KHẢO DÀNH CHO NHÀ BÁO ĐẶNG MINH PHƯƠNG

Lời dẫn của Phạm Tôn:  Tạp chí Hồn Việt số 61 (tháng 8/2012), số 62 (tháng 9/2012) và số 63 (tháng 10/2012) có đăng bài Người cùng thời với Phạm Quỳnh nói về Phạm Quỳnh của Đặng Minh Phương.

Năm 2006, tạp chí Công Giáo và Dân Tộc (Thành phố Hồ Chí Minh) đăng bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước và bài Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta, tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (Thừa Thiên Huế) đăng bài Phạm Quỳnh, nặng lòng với nhà và tạp chí Xưa và Nay (của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) đăng bài Người nặng lòng với nước của chúng tôi. Sau đó hai năm, năm 2008 nhà báo lão thành Đặng Minh Phương đã mở đầu cuộc thảo luận về Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh do Hồn Việt tổ chức với bài Ông Phạm Quỳnh và báo Nam Phong nhằm phản bác “Một số người cứ muốn “đặt lại vấn đề” làm sai lệch những gì đã diễn ra trong lịch sử chưa xa.” (Nguyên văn câu kết luận của bài này). Vì thế, chúng tôi lại phải gởi Hồn Việt đến bốn bài, có hai bài mang nhan đề Ông quả thật là người nặng lòng với nước (1 và 2) mà Hồn Việt đã đăng. Suốt đợt “thảo luận”, chúng tôi là người duy nhất được đăng hai bài.

Sau bốn năm nghiền ngẫm sưu tầm, năm nay nhà báo lão thành lại đưa ra bài mới này. Nói là “bài”, chứ Đặng Minh Phương viết rất ít, tuy vậy những gì ông viết không khỏi khiến người đọc phải “thán phục”.

Ví như ngay phần đầu bài này (trong số 61) mang tiêu đề Thi sĩ Tản Đà: Không thương nước mà viết lời ái quốc thì không lừa gạt được ai, ông Đặng Minh Phương “mạnh dạn” viết: “Ông Phạm Quỳnh biện luận nhiều về yêu nước, quốc hồn, quốc tuý, nhưng ông đã cúc cung phục vụ bọn thống trị Pháp, nhân cách của ông bị người đời rất coi khinh. Năm 1927, thi sĩ Tản Đà viết trên Đông Pháp Thời Báo, số 641 bài Người làm văn, người đọc thấy rất tương đồng với con người ông Phạm Quỳnh”.

Thì ra Tản Đà không hề nói gì đến Phạm Quỳnh, là người chủ bút thi sĩ từng cộng tác từ khi Tạp chí Nam Phong mới ra đời, mà “người đọc Đặng Minh Phương”… 85 năm sau lại đọc thấy ngay là “rất tương đồng với con người ông Phạm Quỳnh”…. chọn ngay bài nhỏ này làm phần mở đầu cho bài đại luận phê phán Phạm Quỳnh của mình.

Đến kỳ thứ ba (số 63 tháng 10/2012) thì không thấy đề tên tác giả dưới tên bài, những tưởng có người “hưởng ứng” cùng tham gia, hoá ra cuối bài lại là Đặng Minh Phương, dưới đó là hai chữ sưu tầm. Lẽ ra cả hai bài trước cũng nên viết như vậy rồi.

Kỳ ba này có năm phần thì đến ba phần là trích từ cuốn sách của Nguyễn Văn Trung Trường hợp Phạm Quỳnh xuất bản ở Sài Gòn trước ngày giải phóng mà Blog PhamTon chúng tôi đã phê phán nhiều trong mấy năm sau.

Ông Đặng Minh Phương thuộc số rất ít người luôn một lòng “trung thành” với cái cũ, thành thật tin chắc là mỗi lời “trên” đã nói ra đều là đúng (theo kiểu nhất ngôn cửu đỉnh), mỗi việc “trên” đã cho in vào sách báo đều không thể sai, dù thời thế có thay đổi, dù ai có nói gì, viết gì, hội thảo gì, ông vẫn giữ một lòng “trung” với “trên”, “trung” với những nhận thức cũ, bất chấp đất nước ta đã đổi mới hơn một phần tư thế kỷ rồi…

Chúng tôi vốn trọng ông, suốt cuộc đời gian khổ phấn đấu, cần mẫn làm việc, sống liêm khiết, trong sạch, một lòng vì nước vì dân, vậy mà tiếc thay ông lại dành những năm tháng quí báu cuối đời để làm một việc như ông đang làm là tiếp tục xông vào bôi bác Phạm Quỳnh, những tưởng như vậy là làm “theo ý trên”, “trung với lý tưởng”, trong khi chưa chắc “trên” vẫn còn muốn như thế, mà lại muốn nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, nói đúng sự thật lịch sử, nói lên nguyện vọng, ý chí của nhân dân. Tiếc thay…

Chỉ còn biết mong ông luôn mạnh khoẻ (mặc dù biết ông bao giờ cũng như vậy), càng mong ông minh mẫn, sáng suốt để sống thanh thản những ngày cuối đời.

Bởi cứ sống tiếp đi, rồi sẽ thấy…

*

*    *

Nhân kỳ thứ hai bài đại luận của ông Đặng Minh Phương có các phần: Ngô Tất Tố: Không phải đánh bốc, đánh bài tây đấyPhạm Quỳnh bị sinh viên Hà Nội tát tai, chúng tôi xin cung cấp hai tư liệu đã đăng trên Blog PhamTon để nhà báo lão thành và quí bạn đọc có thêm tư liệu tham khảo.

 KÉP TƯ BỀN

VỚI HẢI TRIỀU, HOÀI THANH VÀ NGUYỄN CÔNG HOAN

Nguyễn Trung

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Kép Tư Bền tập tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan đã làm sôi nổi hẳn cuộc tranh luận nổi tiếng một thời giữa hai phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh ở nước ta nửa sau những năm 1930. Hôm nay, chúng tôi đưa lên blog tư liệu sưu tầm của Nguyễn Trung trích  từ bài Cuộc tranh luận về quan điểm nghệ thuật thời kỳ 1935-1939 của Giáo sư Nguyễn Đình Chú, Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội, đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học của Viện Văn học – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam số 4/2011 và sách Đời viết văn của tôi của Nguyễn Công Hoan, Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, năm 1971.

*

*          *

I. Trích bài Cuộc tranh luận về quan điểm nghệ thuật thời kỳ 1935-1939

của Nguyễn Đình Chú (từ trang 44 đến trang 48)

 (…) Nhân dịp tập truyện ngắn mang tên Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan được xuất bản (1935), trên Tiểu thuyết thứ bảy số 62 ra ngày 2/8/1935, Hải Triều viết bài Kép Tư Bền – một tác phẩm thuộc về trào lưu “Nghệ thuật vị nhân sinh” ở nước ta, trong đó, ông tỏ rõ khoái chí đã có Kép Tư Bền để chứng minh cho sự thành công của quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh. Hải Triều viết: “Ở xứ này muốn chủ trương một vấn đề gì mà đến khi tìm vài cái chứng giải thiết thực về xã hội, thật nhiều khi không biết vớ vào đâu. Tôi nhận thấy ở nước ta, trong văn học giới đã bắt đầu có cái triều lưu “nghệ thuật vị nhân sinh”; “tôi đã thừa nhiều cơ hội để đề khởi đến nó và đã có phen bút chiến với ông Thiếu Sơn về vấn đề ấy (Báo Đời mới số 1,3,4). Nhưng đến khi ai hỏi tôi cái tư triều văn nghệ vị dân sinh nước ta đâu nào? Thật tôi cũng thấy lúng túng không biết kiếm đâu cho ra một cái chứng cứ đích xác. Nhưng đến ngày nay, tôi đã có thể tự đắc nói rằng: “Có rồi, có rồi, ông cứ xem quyển Kép Tư Bền đi. Cái chủ trương “nghệ thuật vị nhân sinh” của tôi ngày nay đã biểu hiện bằng những bức tranh rất linh hoạt dưới ngòi bút tài tình của nhà văn sĩ Nguyễn Công Hoan mà người ta đã tặng cho cái tên hay là “nhà văn của hạng người khốn nạn”. “Cái mục đích của thuyết nghệ thuật vị nhân sinh đến đây có thể gọi là có chút thành quả vậy”; “Kép Tư Bền có thể nói rằng đã mở một kỷ nguyên mới cho cái tư triều văn nghệ tả thiệt và xã hội ở nước ta”…Và lần này thì không phải Hải Triều mà chính Hoài Thanh đã chủ động tấn công. Trên báo Tràng An số ra ngày 15/8/1935, Hoài Thanh cho in bài Văn chương là văn chương (đáp lại bài Phê bình văn nghệ của ông Hải Triều ở TTTB số 62). Trong đó, ông viết: “Ông Hải Triều có lẽ là một người đối với thời cuộc có tấm lòng nhiệt thành đáng trọng, một nhà xã hội học, một nhà triết học hay gì… học đi nữa tôi không biết. Nhưng rõ ràng ông không phải là một người hiểu văn chương. Người ta vẫn có thể đứng về phương diện xã hội phê bình một văn phẩm cũng như người ta phê bình về phương diện triết lý, tôn giáo, đạo đức… Nhưng có một điều không nên quên là bao nhiêu phương diện ấy đều là phương diện phụ. Văn chương muốn gì thì trước hết cũng phải là văn chương đã”; “Ông Hải Triều chán những tác phẩm ấy không phải vì nghệ thuật thấp kém mà ông thích quyển Kép Tư Bền cũng không phải vì nghệ thuật quyển này có cao hơn. Nghệ thuật là cái gì đó mà ông không biết đến. Ta hãy nghe ông nói: “Thời các ngài đọc các truyện như Người ngựa và ngựa người, Thằng ăn cắp, Kép Tư Bền… các ngài sẽ thấy trong xã hội một số đông người phải bán thân nuôi miệng, hoặc các ngài sẽ thấy những đứa bé cùng khốn quá, quyết ăn lường để chịu đấm, hoặc các ngài thấy một giai cấp đủ ăn, đủ mặc, chực mua cái cười vui bên cái sầu cái khổ của kẻ nghèo”. Nếu phải nhờ đến Kép Tư Bền ra đời mới biết trong xã hội này phải có người bán thân nuôi miệng, có người ăn lường chịu đấm… thì xin lỗi độc giả – công chúng nước Nam này rặt là người ngu. Có ngu mới không thấy những điều tầm thường như vậy, một đứa trẻ lên mười cũng thừa hiểu. Dẫu sao tôi cũng tin ở trí thông minh của công chúng hơn. Công chúng thích tập truyện ngắn Kép Tư Bền không phải thích xem những chuyện họ vốn thừa biết từ bao giờ mà thích những câu văn ngộ nghĩnh, có ý tứ mà Nguyễn Công Hoan đã khéo léo lắp vào trong những cốt truyện không có gì. Người ta xem một cuốn truyện chứ có phải xem một thiên phóng sự đâu?”.

(…) Sau bài viết của Hoài Thanh hai tuần lễ, Hải Triều đã có bài Nghệ thuật và sự sinh hoạt xã hội (Đáp lại bài Văn chương là văn chương của ông Hoài Thanh ở báo Tràng An số 11/8/1935). Đến lượt mình, Hải Triều cũng lại cho Hoài Thanh là người không hiểu nghệ thuật và “vô ý đã mài gươm tự sát”. Hải Triều viết: “Ông Hoài Thanh bảo: “Khi thưởng thức một tác phẩm về nghệ thuật, lẽ cố nhiên phải để nghệ thuật lên trên, lẽ cố nhiên phải chú ý tới cái đẹp, trước khi chú ý tới những tính cách phụ, những hình thức tạm thời của nó”. Căn cứ vào cái quan niệm ấy, ông bảo chúng ta rằng cái giá trị quyển Kép Tư Bền không phải ở chỗ Nguyễn Công Hoan tả những nỗi đau thương của hạng người nghèo khó hay những cái xấu xa hèn mạt của một chế độ xã hội hủ bại, mấy cái ấy đối với ông Hoài Thanh, ông đều liệt vào “cái tính cách phụ” hay những “hình thức tạm thời”. Chính giá trị quyển Kép Tư Bền theo ý ông là những câu văn ngộ nghĩnh, có ý cứ mà Nguyễn Công Hoan đã khéo lắp vào những cốt truyện không có gì”… Tôi thiết tưởng muốn đáp lại bài của ông Hoài Thanh, tôi chỉ khuyên ông ấy chịu khó đọc lại những bài mà tôi đã viết về vấn đề ấy. Nó sẽ là những tiếng đáp lại rất vững vàng chắc chắn cho ông rồi. Ông Hoài Thanh cho tôi nói câu này: Ông bàn về nghệ thuật mà thực ông chưa hiểu về nghệ thuật là cái gì. Nói đến cái đẹp trong nghệ thuật – nói gồm lại là trong văn nghệ – mà ông chỉ chú ý có một phương diện về hình thức câu văn cho ngộ nghĩnh, cho du dương, thì đã có gì là đẹp đâu, đã có gì là nghệ thuật đâu? Không, ông ạ, khi nói đến nghệ thuật, ông phải chú ý đến cả hai phần: hình thức (forme) và nội dung (fond). Hai cái phân tích ấy nó đắp nổi, nó bồi bổ cho nhau, không cái nào là thực thụ, cái nào là tạm thời, cái nào là chính thức, cái nào là phụ thuộc. Bên này ông Hoài Thanh không thế. Trong khi ông thưởng thức văn nghệ, ông chỉ chú trọng câu văn hay, chẳng khác nào con người ta có hai chân, ông cưa bớt đi một chân rồi bảo thế là đẹp, thì chẳng biết đẹp ở cái gì nhỉ?”…

(…) Hoài Thanh đã có bài viết tiếp cũng lấy nhan đề là Văn chương là văn chương(Đáp lại ông Hải Triều và ông Phan Văn Hùm trên Tin Văn) đăng ở báo Tràng An số 62 ngày 1/10/1935. Ở đây (…) Hoài Thanh cãi lại: “Tôi đọc bài của hai ông, đọc đi đọc lại rồi ngẫm nghĩ, tôi chỉ thấy hai ông trách tôi ở chỗ này: không cho nhà văn làm công việc xã hội. Sao các ông không thấy trong bài trước tôi đã có câu: “Nhà văn là một người sống giữa xã hội cố nhiên phải tùy sức mình, làm hết phận sự đối với xã hội. Tôi muốn nói nhà văn có lúc phải biết bênh vực kẻ yếu, chống lại sức mạnh của tiền tài, của súng đạn, nhưng trong lúc đó nhà văn không làm văn nữa mà chỉ làm cái phận sự của một người cầm bút mà thôi. Ta nên nhớ rằng càm bút chưa phải là viết văn. Văn chương là một vật quý có đâu được nhiều thế. Cũng trong bài trước, tôi nhận rằng một quyển sách có tính cách văn chương vẫn có thể đèo thêm nhiều tính cách khác nữa như chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, v.v… Tôi chỉ muốn người ta phân biệt các tính cách ấy ra và trong lúc xét quyển sách về phương diện nghệ thuật, phải để ý đến tính cách khác… tôi lại muốn người ta nhận rằng một quyển sách chuyển tải nỗi khổ của kẻ lao động chưa phải là sách hay, hay là ở chỗ biết cách tả. (Hoài Thanh – Bình luận văn chương. NXB Giáo Dục, 1992, tr.28-39) cũng cần nói thêm là trong quãng thời gian giữa hai bài viết cùng một nhan đề Văn chương là văn chương (Từ 15/8/1935 đến 1/10/1935), ngày 14/9/1935, trên Tiểu thuyết thứ bảy số 68, trong bài Phê bình văn, với tinh thần phê phán tình trạng viết văn phê bình nhàm chán đương thời, Hoài Thanh cũng lại có ý kiến về Kép Tư Bền và Hải Triều. Ông viết: “Còn như lặp đi lặp lại những điều trơ trơ ra trước mắt, thì viết làm gì mất công. Như gần đây trong bao nhiêu bài phê bình quyển Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan, tôi chỉ thấy có bài của ông Hải Triều là còn có một hai chỗ đặc sắc, tuy ông Hải Triều không đứng về phương diện văn chương. Ngoài ra, người nào cũng khen Nguyễn Công Hoan có lối văn trào phúng và hay tả những cảnh khốn nạn. Thì hai cái đặc tính ấy của văn Nguyễn Công Hoan người ta đã nói đến những bao giờ. Nói lại làm gì nữa, nếu không có thể nói lại một cách hay hơn”. Cũng cần nói thêm rằng: trong khi Hoài Thanh và Hải Triều bút chiến với nhau chung quanh tác phẩm Kép Tư Bền thì tác giả Nguyễn Công Hoan có thể nói vẫn là người của cả hai bên, thậm chí là còn của Hoài Thanh nhiều hơn (Chúng tôi nhấn mạnh – N.T). Cụ thể: nhân dịp Kép Tư Bền ra mắt bạn đọc, Nguyễn Công Hoan vào Huế chơi, ở ngay trong nhà Hoài Thanh. Còn Hải Triều chủ nhiệm nhà sách Hương Giang thì chỉ mời ông đến cho độc giả chữ ký. Sau này, trong Đời viết văn của tôi, (nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1971), Nguyễn Công Hoan đã kẻ lại: “Khi tôi ở Huế, nhà sách Hương Giang tổ chức một buổi mời tôi đến ký tên vào những tác phẩm của tôi do độc giả đưa lại… Nhà Hương Giang còn mở một cuộc trưng cầu ý kiến các bạn hàng xem những cuốn nào được hoan nghênh. Kết quả là Kép Tư Bền được xếp lên hàng đầu. Cuốn Kép Tư Bền là đề tài cho một cuộc bút chiến giữa hai chủ trương về nghệ thuật. Phái nghệ thuật vị nhân sinh của Hải Triều đã viết nhiều bài đanh thép để công kích phái nghệ thuật vị nghệ thuật của Hoài Thanh. Tất cả những sự việc trên đã làm cho cuốn Kép Tư Bền của tôi được công chúng độc giả rộng rãi hơn trước chú ý đến. Riêng tôi việc cuốn Kép Tư Bền được hoan nghênh làm cho tôi càng tin rằng tôi viết nổi tiểu thuyết và tôi có thể theo đuổi được nghề viết văn. Còn như là tiểu thuyết xã hội, hay nhà văn tả chân, hay nhà văn trào phúng và hài hước hay nhà văn của dân nghèo, v.v… như các nhà phê bình đã nhận định về tôi, tôi cho là tùy người ta, muốn gọi gì thì gọi”.

II. Trích sách Đời viết văn của tôi của Nguyễn Công Hoan (trang 160-161)

       Trong Đời viết văn của tôi, do nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, xuất bản năm 1971, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã chân tình, ưu ái viết về Phạm Quỳnh như sau:

      “Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này thì sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Namtự đảm nhiệm lấy. Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Namtriều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền,tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối.”

(Trích ở Đời viết văn của tôi NXB Văn học Hà Nội 1971)

N.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: