Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 18, 2012

Giới thiệu Toàn tập truyện ngắn Nam Phong

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:36 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 4 tháng 10 năm 2012.

Sách mới của Nhà xuất bản Văn Học:

Toàn tập truyện ngắn Nam Phong

Lời dẫn của Phạm Tôn: Cách đây hơn 20 năm, tại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ta đã xuất hiện một tập Truyện ngắn Nam Phong in một số truyện đã đăng trên 211 số báo Nam Phong. Nhưng lần này, mới là lần đầu tiên xuất bản toàn tập truyện ngắn đã đăng trên Nam Phong do Tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo sưu tầm và biên soạn,  Nhà xuất bản Văn học xuất bản với 540 trang sách khổ 15x23cm, in xong và nộp lưu chiểu năm 2012.

Sau đây là Lời mở đầu tập sách của Phó giáo sư Lê Chí Dũng nguyên Trưởng khoa Ngữ văn Trường Đại học Đà Lạt, giới thiệu tập sách này.

—o0o—

Vào đầu thế kỷ XX, khi nước ta đã trở thành một bộ phận của thế giới hiện đại, khi thành thị Việt Nam đang tư sản hóa cùng với sự xuất hiện của tầng lớp thị dân, khi văn hóa nước ta giao lưu mạnh mẽ với văn hóa phương Tây, chủ yếu là với văn hóa Pháp, và một tầng lớp trí thức Tây học ra đời thay thế cho tầng lớp trí thức Nho học đang tàn tạ, thì vấn đề đổi mới văn học, đưa văn học vào quỹ đạo chung của văn học thế giới đã trở thành yêu cầu cấp bách. Văn học Việt Nam lúc đó đứng trước hai khả năng phát triển: hoặc cách tân dần dần văn học truyền thống để đi đến văn học hiện đại; hoặc học tập văn học phương Tây, theo hệ thống thể loại văn học ấy để nhanh chóng xây dựng văn học hiện đại nước nhà.

Trong hoàn cảnh như vậy, việc phát triển truyện ngắn, đương nhiên cũng đứng trước hai khả năng: đổi mới dần dần truyện ngắn truyền thống; hoặc nương theo thể loại truyện ngắn phương Tây, mau chóng tạo ra truyện ngắn hiện đại Việt Nam.

Các nhà nho, như Phan Bội Châu, Nguyễn Khắc Hiếu, đã chọn khả năng thứ nhất. Phan Bội Châu dùng văn học để tuyên truyền, cổ động cho sự nghiệp cứu nước. Nhà chí sĩ đã cách tân nhiều thể loại văn học truyền thống, trong đó có thể loại truyện kể ngắn; đó là những sáng tác bằng văn xuôi chữ Hán, như các truyện Nguyễn  Hàm, Trần Quý Cáp, Đặng Thái Thân, Nữ liệt sĩ Đinh phu nhân, Tái sinh sinh, Nhà sư ăn rau, Chân tướng quân, Phạm Hồng Thái truyện, và các truyện được viết bằng tiếng Việt, như Truyện ông Lý Hồ, Anh Khờ, Kểnh và Càng. Đọc những truyện này, độc giả cảm nhận rõ ảnh hưởng của liệt truyện – một thể loại được Tư Mã Thiên sử dụng để viết Sử ký, một thể loại rất thông dụng đối với nghệ sĩ ngôn từ ở Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam thời trung đại. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đến với văn học nước nhà giữa lúc các thể loại văn học truyền thống bị “xuống giá” so với hệ thống thể loại văn học phương Tây tràn vào Việt Nam, “xuống giá” tới mức không chỉ khiến Nguyễn Bá Học nói một cách cực đoan rằng thơ, phú, lục của nhà nho “tô điểm sai cả cảnh thực”, “dù cho quỷ khốc thần kinh cũng không đáng giá một đồng tiền kẽm”, mà còn làm Ngô Đức Kế buộc lòng thú nhận văn học cũ “chỉ tả được những cảnh kiều sương, điếm nguyệt, mục thụ, tiều phu, không lấy gì cho lạ tai mới mắt, thêm tri thức, thêm học vấn”. Sáng tác văn chương, “nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng”, trong đó có viết truyện, Tản Đà mong muốn thể hiện trên trang giấy “những điều ta nghe, mắt thấy”, “không kể điều hay nhẽ dở, sự nhỏ việc to trong xã hội”, “để nơi nọ biết được sự tình của người nơi kia, kẻ sinh sau được nghe câu chuyện về thuở trước”. Đọc truyện của Tản Đà, như Thề non nước, Thần tiên, độc giả thấy ông kế thừa lối viết truyện của tác giả Truyền kỳ mạn lục.

Các nghệ sĩ ngôn từ thuộc tầng lớp trí thức Tây học, như Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, đã chọn khả năng thứ hai. Ở Nguyễn Công Hoan truyện ngắn đã đạt tới hiện đại ở giáp ranh những năm cuối 1920 – đầu những năm 1930 và trong truyện ngắn của ông lối kể chuyện dân gian rất rõ. Nếu nói rằng truyện ngắn hiện đại là cuộc phiêu lưu vô tận của nhà văn vào thế giới tâm lý của nhân vật, thì truyện ngắn của Thạch Lam và Nam Cao là truyện ngắn hiện đại loại đó.

Trong sự vận động và phát triển của văn xuôi tự sự nói chung và của truyện ngắn nói riêng, độc giả có thể thấy Đặng Thai Mai viết truyện ngắn bằng tiếng Pháp, in trên các báo ở Hà Nội; Cung Giũ Nguyên viết tiểu thuyết bằng tiếng Pháp. Đây là một hiện tượng nhất thời trong văn học hiện đại Việt Nam.

Nguyễn Ái Quốc trong những năm cuối 1910 và những năm 1920 viết văn chính luận, truyện ngắn, ký và tiểu phẩm báo chí, in trên báo ở Paris. Những văn phẩm này của Nguyễn Ái Quốc theo các chuyến tàu biển từ Pháp về Việt Nam, lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp, và đến các nước thuộc địa và phụ thuộc khác của chủ nghĩa thực dân. Những sáng tác văn chương ấy của Người đã đặt nền móng cho văn học cách mạng của giai cấp vô sản Việt Nam và chắc chắn đã góp phần xây dựng nền văn học cách mạng ở các nước từng là thuộc địa và phụ thuộc của chủ nghĩa thực dân trên thế giới. Viết văn bằng tiếng Pháp, Nguyễn Ái Quốc hướng sự tuyên truyền, vận động và tổ chức cách mạng vào quần chúng nhân dân, nhưng thông qua cái cầu nối là những người yêu nước, đồng thời thông thạo tiếng Pháp, thích văn học Pháp và tiếng Pháp trong sáng, tinh tế. Đó là chỗ khác biệt căn bản giữa Nguyễn Ái Quốc và những người kể trên khi dùng tiếng Pháp sáng tác văn chương. Chỗ khác biệt nữa giữa Nguyễn Ái Quốc và những người ấy là: viết truyện ngắn bằng tiếng Pháp, như Les lamentations de Trung Trac (Những lời than của bà Trưng Trắc), Incognito (Vi hành), Turlupinades ou Varenne et Phan Boi Chau (Những trò lố hay Varenne và Phan Bội Châu), La tortue (Con rùa), L’enfume’ (Con người biết mùi hun khói), D’un commun accord (Đồng tâm nhất trí), Nguyễn Ái Quốc kế thừa truyền thống giáo dục bằng lịch sử, bằng các nhân vật anh hùng trong lịch sử, bằng người thật, việc thật, sử dụng nghệ thuật ngụ ngôn…của văn học trung đại Việt Nam.

Như vậy, người Việt Nam viết văn bằng tiếng Pháp, dù với những mục đích khác nhau, chỉ là hiện tượng nhất thời, không tạo ra một dòng văn chương bằng tiếng Pháp bên cạnh dòng văn chương bằng tiếng Việt trong con sông văn học hiện đại Việt Nam.

Nhìn lại những điều đã được trình bày ở trên, có thể rút ra điều sau đây: những truyện ngắn của Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc, của Tản Đà, Thạch Lam và Nam Cao, tuy viết bằng chữ Hán, bằng tiếng Pháp hay bằng tiếng Việt, và theo đuổi những mục đích khác nhau, nhưng đều cho thấy thể loại đang sống trong hiện tại bao giờ cũng nhớ đến quá khứ của mình.

Các tác giả của những truyện ngắn in trên Nam Phong tạp chí đã chọn khả năng nào trong hai khả năng phát triển của truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỷ XX và những truyện ngắn đó có vị trí như thế nào trong tiến trình xây dựng và phát triển truyện ngắn hiện đại Việt Nam? Nhằm mục đích cung cấp tư liệu để các nhà nghiên cứu văn học và bạn đọc có thể trả lời một cách xác đáng, cụ thể câu hỏi đó, tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo đã sưu tập toàn bộ truyện ngắn – hơn 60 truyện đã được đăng tải trên tạp chí tồn tại từ 1917-1934 ấy. Đó là cống hiến tủa tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo.

Các tác giả của những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí  đã cố gắng kể lại cho hệt những điều tai nghe, mắt thấy hoặc nếm trải trong cuộc sống – xã hội đời thường, một cuộc sống – xã hội khiến cho nhiều người đương thời phải than thở:

Ngồi buồn nghĩ chuyện vẩn vơ,

Quái, con ngựa sắt bây giờ đi đâu?

Anh hùng vắng mặt từ lâu,

Trên đầu phành phạch chiếc tàu nó bay”;

một cuộc sống – xã hội đầy rẫy những thối nát, bất công, thù địch với con người… Thi thoảng thấy đôi đốm sáng về người tốt, việc tốt trong những truyện ngắn ấy, thì ở thuật giả cũng pha tạp cảm hứng ngợi ca với cảm hứng phê phán. Nghĩa là truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí né tránh những vấn đề quốc sự (đọc hơn 60 truyện ngắn trên tạp chí này, chỉ gặp được một dòng có quan hệ đến quốc sự ở cuối truyện Câu chuyện ra ở đời của Tam Phủ: “ […] thuật giả nghe nói một người bị bắt, vì việc cộng sản, dây dưa thế nào, thuật giả lấy làm lạ; còn người kia được tin thời nghe nói ngồi khóc, […]” ).

Một điều đáng chú ý ở những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí là: những truyện ngắn này đã lọc qua chủ trương “điều hòa tân cựu”, “thổ nạp Á- Âu”. Có thể thấy rõ điều này nơi những tác giả các truyện ngắn: Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục là những người cựu học; những người cựu học chuyển sang tân học: Nguyễn Bá Học và Hoàng Ngọc Phách; những người tân học: Phạm Duy Tốn và Lê Đức Nhượng. Ở truyện của Đông Châu và Tùng Vân không có chút gì gọi là truyện ngắn. Ở truyện ngắn Nguyễn Bá Học là sự mô tả khách quan, nhưng không vượt thoát được quan niệm văn học cũ; vừa làm quen với lối kể chuyện, mô tả, đối thoại của truyện ngắn hiện đại, vừa sử dụng văn biền ngẫu và chưa ra khỏi cách xây dựng hình tượng của văn học trung đại. Lê Đức Nhượng, không chỉ viết được nhiều truyện ngắn hơn, mà còn viết khéo hơn so với Nguyễn Bá Học. Về Phạm Duy Tốn, có nhà nghiên cứu đánh giá rằng “[…] lấy một truyện của Phạm Duy Tốn đem đặt cạnh một truyện cổ điển, ta thấy có một sự ly dị, một sự gián cách đột ngột, bất ngờ cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật” (Thanh Lãng). Quả là truyện ngắn của Phạm Duy Tốn là một bước tiến về phía trước so với truyện ngắn của Nguyễn Bá Học, nhưng vẫn chưa thể nói đó là một “sự ly dị, một sự gián cách đột ngột, bất ngờ cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật” so với “truyện cổ điển” được. Truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, kể cả truyện ngắn nổi tiếng của ông Sống chết mặc bay, vẫn chưa đạt tới truyện ngắn hiện đại.

Nói đến sự vận động và phát triển của thể loại truyện ngắn của văn học hiện đại nước nhà, không thể quên vị trí đi đầu của truyện ngắn Nam Bộ, trong đó có truyện Thày Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản – tác phẩm được nhiều nhà nghiên cứu văn học coi là tác phẩm hiện đại đầu tiên của văn học Việt Nam – đã được xuất bản tại Sài Gòn năm 1887.

Truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí xuất hiện chậm hơn truyện ngắn Nam Bộ hai thập niên;nhưng cả truyện ngắn trên Nam Phong, cả truyện ngắn Nam Bộ đều ở bước đi đầu tiên của truyện ngắn hiện đại Việt Nam và đều nằm trong quỹ đạo của sự lựa chọn khả năng thứ hai cho sự phát triển của truyện ngắn nước nhà.

Năm 1965, ở miền Bắc, sinh viên khoa Ngữ văn của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã soạn Mục lục tư liệu văn hóa, văn học trên Nam Phong tạp chí  theo sự hướng dẫn của giáo sư Nguyễn Lộc; năm 1968, ở miền Nam, Nguyễn Khắc Xuyên soạn và ấn hành Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong (công trình này được nhà xuất bản Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa Đông Tây tái bản, Huế, 2002). Nhờ những công trình như thể, độc giả hôm nay vô cùng thuận lợi tìm “địa chỉ” của những truyện ngắn in trên Nam Phong tạp chí . Tuy nhiên để đọc được những sáng tác đó, độc giả phải vào thư viện, tiếp xúc với bụi và mọt, với microfilm dưới ánh đèn nhức mắt, ngày này qua ngày khác. Độc giả ở Hà Nội và ở thành phố Hồ Chí Minh có thể đọc những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí theo cách này. Độc giả ở những nơi khác thì đành…chào thua!

Sưu tập toàn bộ những truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí để ấn hành, trao tận tay bạn đọc, tiến sĩ Nguyễn Đình Hảo cũng tính đến những điều ấy…

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc gần xa Toàn tập truyện ngắn Nam Phong.

PGS.TS Lê Chí Dũng

Nguyên Trưởng khoa Ngữ văn

Trường Đại học Đà Lạt

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: