Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 29, 2012

Đã đến lúc lịch sử cần đánh giá đạo đức và tài năng của Thượng Chi – Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:14 chiều

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 2 tháng 12 năm 2012.

 

ĐÃ ĐẾN LÚC LỊCH SỬ CẦN ĐÁNH GIÁ ĐẠO ĐỨC VÀ TÀI NĂNG CỦA THƯỢNG CHI – PHẠM QUỲNH

        Nguyễn Văn Thịnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: 9:39 phút sáng ngày 22/9/2012, chúng tôi nhận được thư điện tử của bạn Xuân Mừng Nghiêm (xuanmung79@gmail.com) như sau:

“Tôi là Nghiêm Xuân Mừng – Giảng viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, rất hâm mộ và kính trọng cụ Phạm Quỳnh. Vừa rồi tôi được một nhà văn trong Thành phố Hồ Chí Minh gửi cho bài báo, trong đó có nói về trường hợp cụ Phạm, vậy xin gửi trang PhamTon blog. ĐT của tôi: 0914902907”.

Kèm theo bạn còn gửi cho chúng tôi bảy trang A4 bài Mấy lời gởi ông Tô Nhuận Vỹ của tác giả Nguyễn Văn Thịnh. Cuối bài còn cẩn thận ghi rõ “Tuần báo Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh số 220, thứ năm ngày 20 tháng 9 năm 2012.

Chân thành cảm ơn bạn. Do Blog PhamTon chỉ chuyên về Thượng Chi-Phạm Quỳnh, cho nên chúng tôi xin trích đăng những phần liên quan và mạn phép tác giả đặt tên bài là  Đã đến lúc lịch sử cần đánh giá đạo đức và tài năng của Thượng Chi-Phạm Quỳnh.

—o0o—

Giữa tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, nhằm dịp lễ Vu lan, đêm 30/8/20012 (14/7ÂL), Hội đồng họ Phạm ở Thừa Thiên-Huế tổ chức ra mắt tập II cuốn sách Phạm Quỳnh – Một góc nhìn của Tiến sỹ sử học Nguyễn Văn Khoan. Trước đông đảo cử tọa, có nhiều nhà nghiên cứu và văn nghệ sỹ, trong bài phát biểu Điều gì còn băn khoăn về Phạm Quỳnh, ông Tô Nhuận Vỹ, sau khi giảng thuyết rằng: “Khái niệm địch ta, bên này bên kia trong nhiều trường hợp phải hết sức cẩn trọng”, ông nói: “Chúng ta đã trả lại đúng giá trị cho Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Tường, một số tác giả trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm, cho Léopold Cadière…” để rồi kết lại: “Với Phạm Quỳnh, tôi nghĩ với nhiều lý do chính xác, đã đến lúc Nhà nước, ở đây là Bộ Văn Hóa Thể Thap & Du Lịch cần kết luận và vinh danh chính thức sự đóng góp lớn lao cho văn hóa dân tộc của ông”.

(…) Phạm Quỳnh thông minh học giỏi, 15 tuổi đã được tuyển vào làm việc ở Viện Viễn đông bác cổ danh giá của nước Pháp văn minh tân tiến hàng đầu lúc ấy. Với ý chí ham học hỏi tìm tòi càng sớm nổi danh là người hiểu sâu biết rộng. Vào đời bằng nghề làm báo, 24 tuổi đã làm chủ tạp chí Nam Phong, càng có dịp mở rộng các mối quan hệ xã hội, nhậy cảm với thời cuộc và vốn kiến thức càng phong phú. Ở tuổi “nhi bất hoặc”, ông hăm hở “dấn thân vào hoạn lộ tưởng sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng” để rồi hối hận vì đã lỡ lầm.

Quan Thượng thư Bộ Học sau qua Bộ Lại Phạm Quỳnh nhậm chức trong cảnh dân nước điêu linh dưới ách nô lệ của đại quốc Phú-lang-sa. Mọi việc triều chính nhất nhất đều dưới quyền điều hành của viên Khâm sứ người Pháp. Cả vua và quan đều biết rõ chỉ là thân bù nhìn. Dân tình ngột ngạt trong cảnh cá chậu chim lồng. Người có tâm thì đau lòng miễn cưỡng lựa lách theo thời thế. Kẻ háo danh trục lợi thì an phận tay sai. Trong hoàn cảnh ấy thì với thần dân trăm họ cả vua lẫn quan đều phải làm ngơ bỏ ngoài tai trước lời thị phi là “phường bán nước buôn dân”. Phạm Thượng thư than thở: “Khi tôi ra đời nước đã mất rồi còn đâu mà bán!”.(…)  Hai người bạn vong niên đồng cảnh đồng môn Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh đều là những nhà văn hóa xuất chúng, cùng yêu tiếng ta, một lòng với tiếng ta nhằm giữ nguyên hồn nước, hoạt động rất hăng hái, về chính trị cùng ôn hòa mà mỗi người một cách. Ông Vĩnh sôi nổi muốn kéo cả nước cùng chui vào cái rọ “trực trị” mong được bình đẳng với người Tây. Ông Quỳnh mềm dẻo với tài khéo nói tích cực vận động cho một chính thể “quân chủ lập hiến” lấp lửng với ông vua mà quyền hạn do dân kiểm soát, vừa giữ được thể diện quốc gia và bản sắc văn hóa dân tộc lại vừa có độc lập tự do. Dịp viên Tổng trưởng Bộ Thuộc địa Pháp P.Reynaud qua Hà Nội, ông gửi thư thỉnh nguyện: “Hãy cho chúng tôi một Tổ quốc để tôn thờ vì đối với dân tộc Việt Nam, Tổ quốc đó không phải là nước Pháp”. Lời lẽ thì ôn hòa mà ý chí thì quyết liệt. Viên Khâm sứ Trung kỳ Haelewyn gửi báo cáo lên Toàn Quyền Đông Dương Jean Decoux nhận xét như sau: “Thượng thư Bộ Lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật… Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc kỳ và Trung kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam kỳ, tiến tới hình thành một quốc gia Việt Nam… Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hòa hoãn nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành bất di bất dịch nơi ông ta”.

(…) Vào lúc giao thời ấy, dù học giả Thượng Chi đã về ở ẩn tại tư gia cặm cụi mải mê dịch thơ, viết ký… thì cả bên này bên kia vẫn nhìn ở vị cựu Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh còn tiềm ẩn tài năng lớn! Đó là mầm mống cho nỗi oan nghiệt với con người “kinh luân chứa một túi đầy” này. Ngay lúc được tin cụ Phạm bị bắt, Cụ Hồ đăm chiêu nói với những người giúp việc: “Bất tất nhiên!”, nghĩa là không nhất thiết phải làm như thế. “Không thể đem chuyện cũ ra mà làm án mới!”. Sau Cụ Hồ lại nói với hai người con gái lớn của cụ Phạm rằng: “Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm. Đó không phải là một người xấu. Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ khó tránh được sự lầm lẫn. Các con cháu cụ cứ vững tâm đi theo cách mạng”. Ông Hoàng Hữu Nam vừa là thân hữu với gia đình họ Phạm lại đang giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Nội vụ lúc bấy giờ đã khuyên hai bà con gái đại ý là: Bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng nên phải giữ cụ tại một nơi yên ổn. Các chị không nên vào Huế vì nhân dân đang nổi dậy có khi lại bị bắt giữ lôi thôi. Ông Nam nhận sẽ “tư” vào Huế đưa gia đình cụ ra Hà Nội. Kết cục là toàn bộ gia đình cụ Phạm gồm 14 người cả nam và nữ, từ con nít và người đang tuổi thanh xuân đến bà già được đưa ra Hà Nội đoàn tụ gia đình an toàn cùng nguyên vẹn các đồ đạc tư trang. Riêng cụ Thượng Chi thì bị “khử” chưa rõ trong hoàn cảnh nào. Nhận được tin này, Cụ Hồ thốt lên: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? cách mạng lợi lộc gì?… Thật là không may cho cụ Thượng Chi, không may cho gia đình cụ Phạm!”. Cách mạng là sự đổi thay khởi nguồn từ những mâu thuẫn xã hội sâu xa. Cuộc cách mạng nào cũng nhân danh sự công bằng bác ái nhưng bị kích động cực đoan hoặc vì tư thù hay vụ lợi đã xảy ra không ít điều bất nhẫn làm mờ đi cái thiện căn của nó và hằn sâu những hận thù. Thực tế là từ cấp trung ương tới thành phố Huế của chính quyền mới không từng lập một phiên tòa nào kết án “Phạm Quỳnh làm tay sai cho giặc Pháp” để ghép tội tử hình. Tình trạng lộn xộn trong những ngày đầu khởi nghĩa, không chỉ ở một nơi là điều hiển nhiên ai cũng biết. Vậy có thể coi cái chết của vị học giả lớn này như một trong những tai họa giữa “phen thay đổi sơn hà”! Tất nhiên là với những người thân thích ruột rà thì nỗi thương đau cứ đeo đẳng mãi và cũng là sự thiệt thòi lớn khó bù đắp được cho nền văn hóa nước nhà. Còn việc đánh giá các trước tác của người quá cố lớn mức nào và ảnh hưởng xã hội tới đâu không chỉ là công việc của vài người trong một thời gian. Cái chết của cụ Thượng Chi được mọi người, mọi giới trong xã hội thật lòng thương tiếc thì việc phục hồi danh dự cho nhà văn hóa Phạm Quỳnh dù có gặp lực cản nào cũng dễ vượt qua. Như Cụ Hồ đã nói: “Cụ Phạm là người của lịch sử sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. Đã đến lúc lịch sử cần đánh giá và khó có lý do nào để khắt khe trước đạo đức và tài năng của cụ.

(…) Trong bài viết, ông Tô Nhuận Vỹ dẫn lời của triết gia J.P.Sartre rằng: “Yếu tố thời gian lịch sử nếu bỏ qua sẽ là acide sulfuric phá hủy hết mọi giá trị”. Tuy nhiên với lịch sử thành văn, nó lại như một base mạnh làm vô hiệu mọi loại acide, cụ thể là những ý đồ xuyên tạc sự thật lịch sử nhằm đạt mục tiêu của ai. Người viết xin được dẫn ra vài lời nói mang tính tiêu biểu của hai nhân vật lịch sử này (Phan Thanh Giản và Phạm Quỳnh – PT chú) còn được giữ trong thư tịch để tùy bạn đọc suy ngẫm:

Thượng thư Phan Thanh Giản: (…)

Thượng thư Phạm Quỳnh:

– Người An Nam không thể coi nước Pháp là Tổ quốc được vì chúng tôi đã có một Tổ quốc…

– Chính trị và văn hóa một đàng là gốc, một đàng là ngọn. Gốc có vững thì ngọn mới tốt được. Nước Nam ta hiện chưa được là một nước chân chính, hiển nhiên ai cũng biết. Sở dĩ chưa được là một nước chân chính là bởi vì không có chủ quyền về chính trị. Điều đó hiển nhiên ai cũng biết. Một nước đã mất quyền chính trị mà muốn thu phục lại thì chỉ có hai cách: một cách là bạo động, một cách là ôn hòa.

Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn… Tiếng là nước. Tiếng còn thì nước còn, tiếng mất thì nước mất, mà mất đó mới thật là mất hẳn không sao vãn hồi được nữa.

– Khi sang Paris được mời diễn thuyết tại trụ sở Viện hàn lâm, ông khéo chọn đề tài Sự tiến hóa của dân An Nam từ khi đặt ách bảo hộ Pháp để nói lên ý chí của mình: “Người Pháp phải tôn trọng truyền thống văn hóa Việt Nam. Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng ai muốn viết gì lên cũng được. Mà là một quyển sách cổ đầy đặn những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy chỉ có thể đóng lại theo lối mới cho hợp với thời trang chứ không thể đem một thứ chữ khác in lên những trang đã đầy chữ rồi”, đã được những cử tọa vào hàng danh giá tinh hoa của nước Pháp lắng nghe và vỗ tay tỏ lòng biệt đãi khách phương xa là điều chưa từng thấy.

– “Công bộc” là làm đầy tớ chung, không cho riêng ai, nghĩa là cho dân cho nước. Cái tiếng “công bộc” vẻ vang biết chừng nào. Muốn làm một kẻ “công bộc” cho xứng đáng phải có sự nghiệp gì cho ích quốc lợi dân, không phải là dễ dàng. Chứ muốn bề ngoài giữ lấy cái hư danh “công bộc” cho dân mà bề trong làm đầy tớ riêng cho một ông “quan thầy” nào để mong che chở cho những hành vi bất chính đáng của mình thì thật là dễ lắm mà cũng hèn lắm. Cho nên ai ôi! Làm “công bộc” mới khó chứ làm “tư bộc” vẫn dễ , làm “công bộc” mới danh giá chứ làm “tư bộc” thật đê hèn. Cái huy hiệu “công bộc” đã tốt đẹp như thế , cái địa vị “công bộc” đã vẻ vang như thế, các ngài trong quan trường ta không phải ngu gì mà không biết đem đổi cái tên “phụ mẫu” của dân cũ rích kia lấy cái tên “công bộc” của dân mới mẻ này. Các ngài làm như thế  để tỏ ta là người thức thời, một là cứu vớt được cái đoàn thể quan trường đương đắm đuối, hai là thuận được cái phong trào tự do bình đẳng thời nay và bớt được lòng oán hận của công chúng.

– Khóc bạn Nguyễn Văn Vĩnh: Sống lại như tôi là sống nhục – Chết đi như bác chết là vinh – Suối vàng bác có dư dòng lệ – Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.

Cả hai ông quan đầu triều này lúc sinh thời được dư luận khen là sống liêm khiết và thanh bạch. Khi chết đi, cụ Thượng Chi để lại gia tài là cái biệt thự tư Hoa Đường trong đó có một thư viện sách cổ kim đủ loại vào hàng lớn nhất kinh thành Huế bấy giờ.

N.V.T.

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: