Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Hai 27, 2012

Sự cống hiến của Phạm Quỳnh và báo Nam Phong vào văn học Việt Nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:35 chiều

Blog PhamTon năm thứ tư, tuần 1 tháng 1 năm 2013.

SỰ CỐNG HIẾN CỦA PHẠM QUỲNH VÀ BÁO NAM PHONG VÀO VĂN HỌC VIỆT NAM

Giáo sư Văn Tạo

(Nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Hồn Việt các số 61 (8/2012) và 62 (9/2012) có đăng bài của Đặng Minh Phương nhan đề Người cùng thời với Phạm Quỳnh nói về Phạm Quỳnh. Đến số 63 (10/2012) thì đổi nhan đề thành Người đương thời với Phạm Quỳnh và Nam Phong do Đặng Minh Phương sưu tầm. Và số 64 (11/2012) thì lai ghi tên người sưu tầm là Đặng Minh Phương và Tường An. Nói là sưu tầm, thật ra là chỉ “sưu tầm” những gì chê bai Phạm Quỳnh và Nam Phong thôi.

Giáo sư Văn Tạo vừa gửi cho chúng tôi bài viết 14 trang A4 Các quan điểm khác nhau về học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong, nhằm làm rõ về việc đánh giá Phạm Quỳnh của các nhà văn, nhà báo và nhà phê bình nghiên cứu văn học xưa nay ở nước ta.

Chúng tôi gác lại phần I. Luồng ý kiến nhấn mạnh mặt tiêu cực của Phạm Quỳnh và báo Nam Phong, chỉ đăng phần II. Luồng ý kiến coi trọng sự cống hiến của Phạm Quỳnh và báo Nam Phong vào văn học Việt Nam. Đầu đề bài này do chúng tôi đặt.

—o0o—

Tạp chí Hồn Việt tháng 11/2012 trang 41-45 đã công bố bài Người đương thời với Phạm Quỳnh và Nam Phong. Nay tôi xin công bố thêm các quan điểm về vấn đề này cho đến hiện nay, nói về mặt tích cực của Phạm Quỳnh.

Theo ông Vũ Đình Huỳnh kể lại là, bác Hồ khi nghe ông Tôn Quang Phiệt báo cáo: “Cụ Phạm Quỳnh đã bị khử mất rồi”, bác Hồ cho hai cánh tay vào sát ngực, tựa lên bàn, lặng ngắt một lúc…rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì? Cách mạng được lợi ích gì?”. Người duỗi hai tay ra mặt bàn nói: “Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm Quỳnh ở Pháp. Đó không phải là người xấu (Tư liệu do nhà văn Sơn Tùng cung cấp ngày 18/12/2008 (12/11 năm Mậu Tý)Van tao ke sach – sử liệu cận đại quý giá đối với chúng tôi.

Đến nay khi đi sâu vào tìm hiểu, tôi bắt gặp hai luồng ý kiến đánh giá khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về Phạm Quỳnh và báo Nam Phong.

Một luồng nhấn mạnh đến mặt tiêu cực, thậm chí là phản động của Phạm Quỳnh và báo Nam Phong

Một luồng chú ý nhiều đến mặt tích cực, mặt cống hiến cho văn học dân tộc của Phạm Quỳnh và tờ báo này.

(…)

Ngay lúc báo Nam Phong ra đời (1917-1934), nhiều nhà văn, nhà báo, nhiều nhà sử học đã ca ngợi sự cống hiến của Phạm Quỳnh và báo Nam Phong vào văn học Việt Nam. Năm 1933, nhà văn Thiếu Sơn đã viết trong bài Báo giới và văn học Quốc ngữ.

“Những nhà văn hồi trước đã tập luyện quốc văn ở Đông Dương tạp chí, khi qua viết Nam Phong, đã thành những thày dạy quốc văn. Mà những ông thày này cũng đã đào luyện được nhiều ngọn bút tài tình trong những bạn trí thức của tân, cựu học, mà dem về cho văn giới, báo giớ biết bao kiện tướng, tinh binh”… “Gần hai chục năm nay, không biết tạp chí Nam Phong có giúp được chút gì cho sự gìn giữ đạo đức trong dân gian không thì tôi không biết. Chứ thực tình nó đã giúp được sự mở mang tri thức trong quốc dân nhiều lắm.”

Nhà thơ xứ Hà Tiên, Đông Hồ (Lâm Tấn Phác), trong báo Sống, ra ngày 9/4/1935 viết:

Nam Phong sở dĩ làm cảm động được lòng người, kêu gọi được các tâm hồn phất phơ, vơ vẩn của người tuổi trẻ về với non sông, đất nước một cách âu yếm, thiết tha là nhờ ở Quốc ngữ, tiếng nước nhà”.

Nhà văn Vũ Ngọc Phan, năm 1942, khi xuất bản sách Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, 1942, tập 1, tr.125-126), đã dành cho Phạm Quỳnh đến hơn 33 trang sách với hết lời ca ngợi liên quan đến những công trình khảo cứu, dịch thuật, du ký và bình luận:

“Ông là người viết nhiều nhất trong tạp chí Nam Phong. Một điều mà người đọc nhận thấy trước nhất trong những bài biên tập và trước thuật của ông là ông không cẩu thả… Phạm Quỳnh là một nhà văn có thể bàn luận một cách vững vàng và sáng suốt bất cứ về một vấn đề gì, từ thơ văn cho đến triết lý, đạo giáo, cho đến chính trị, xã hội, không một vấn đề nào là không tham khảo tường tận trước khi đem bàn trên mặt giấy. Trong lịch sử văn học hiện đại, người ta sẽ không thể nào quên được tạp chí Nam Phong, vì nếu ai đọc toàn bộ tạp chí này, cũng phải nhận là rất đầy đủ, có thể giúp cho người học giả một phần to tát trong việc soạn bộ bách khoa toàn thư bằng quốc văn.”

“… Trong 15 năm chủ trương tạp chí Nam Phong, Phạm Quỳnh đã xây lắp cho nền móng quốc văn được vững vàng bằng những bài bình luận, khảo cứu hết sức công phu…

Muốn hiểu những vấn đề đạo giáo, muốn biết văn học sử cùng học thuật, tư tưởng nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thơ ca Việt Nam từ đời Lý, Trần, cho đến ngày nay, muốn biết thêm về lịch sử nước Nam, tiểu sử các đấng danh nhân nước nhà… chỉ có đọc Nam Phong, là có thể hiểu biết được”.

“… Một người chỉ biết đọc Quốc ngữ mà có khiếu thông minh có thể dùng tạp chí Nam Phong để mở mang học thức của mình.”

Trong sách Việt Nam văn học sử yếu của cố Giáo sư Dương Quảng Hàm, phần chương trình dành cho Năm thứ ba ban Trung học Việt Nam, với những đánh giá cơ bản là rất tốt, giáo sư hầu như không để ý gì đến khía cạnh các mối quan hệ chính trị của nhân vật này trong thời cuộc lúc đó.

“Cả cái văn nghiệp của ông Phạm Quỳnh đều xuất hiện trên tạp chí Nam Phong, tạp chí ấy trong một thời kỳ, đã thành được một cơ quan chung cho các học giả cùng theo đuổi một chủ đích với ông…”, khi đánh giá chung Phạm Quỳnh bên cạnh Nguyễn Văn Vĩnh (nhóm Đông Dương tạp chí), Giáo sư Dương Quảng Hàm đưa ra kết luận để kết thúc chương sách nêu trên:

“Ông Vĩnh có công diễn dịch những diễn thuyết và kịch bản của Tây Âu và phát biểu những cái hay trong tiếng Nam ra; ông Quỳnh thì có công dịch thuật các học thuyết tư tưởng của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt được các ý tưởng mới. Đối với nền văn hóa cũ của nước ta, thì ông Vĩnh hay khảo cứu những phong tục của dân chúng, mà ông Quỳnh thường nghiên cứu đến chế độ, văn chương của tiền nhân. Văn ông Vĩnh có tính cách giản dị của một nhà văn bình dân, văn ông Quỳnh có tính cách trang nghiêm của một học giả. Tuy văn nghiệp của mỗi người có tính cách riêng, nhưng hai ông đều có công với việc thành lập quốc văn vậy”. Ngay trong quyển văn học sử có thể coi là quy mô đầu tiên của Dương Quảng Hàm nói trên, hơn một nửa số tài liệu đã được tham khảo sử dụng từ tạp chí Nam Phong, còn về bố cục và nội dung thì phảng phất gần đúng với bản chương tình Ngôn ngữ và văn chương Hán Việt do Phạm Quỳnh vạch ra năm 1924 để dùng cho việc giảng dạy của ông ở trường Cao đẳng Đông Dương, mà có người coi là mầm mống của những môn học thuộc văn khoa Việt Nam sau này.

Tiến sĩ Thanh Lãng, Giáo sư Đại học Văn khoa Sài Gòn, trong chương trình Bản lược đồ văn học Việt Nam (quyển hạ 1862-1942), (Sài Gòn, 1967, trang 610-611) đã viết: “Trong mười mấy năm trường Nam Phong hầu như giữ vai trò của một Viện Hàn lâm. Điều gì Nam Phong viết đều là hay, văn Nam Phong viết đều là đẹp, ý kiến Nam Phong làm đều là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người đều tuân theo, chữ Nam Phong chế ra mọi người đều dùng. Người ta coi Nam Phong như một bậc thầy”.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan trong Đời viết văn của tôi, do Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, xuất bản năm 1971, đã chân tình, ưu ái viết về Phạm Quỳnh như sau:

“Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này thì sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền, tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lớn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối. (Trích Đời viết văn của tôi, NXB Văn học, Hà Nội, 1971, tr.160-161).

Nhà văn Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III đã viết: “Trong cuộc đời Phạm Quỳnh, cái bước rẽ 1932 không phải là bước rẽ đưa đến nẩy nở và vinh quang mà là đưa đến chấm dứt sự nghiệp. Ngày nay chúng ta có nghiên cứu Phạm Quỳnh là nghiên cứu nhà báo và nhà văn của tạp chí Nam Phong, con người và tư tưởng trước 1932, con người tốt đẹp đã đóng một vai trò tương đối tiến bộ trong một giai đoạn lịch sử chánh trị và nhất là đã dày công xây đắp cho nền văn học mới”. (Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III. Quốc học tùng thư, 1965, tr.170).

Nhà sử học Đào Duy Anh, trong công trình Nhớ nghĩ chiền hôm năm 1972 có đoạn viết:

“Tôi tự học văn học Việt Nam và có biết viết Quốc văn, phải nói thực một phần không ít là nhờ chuyên đọc Tạp chí Nam Phong. Trong khi dạy học ở Đồng Hới, đồng thời với việc học thêm chữ Pháp theo một chương trình nhất định, tôi không bỏ việc nghiên cứu Quốc văn và Hán văn, vẫn lấy Tạp chí Nam Phong làm công cụ chính”.

Nhà báo Thép Mới trong bài: Học anh Trường Chinh làm báo và viết báo,(Nội san Nhân Dân số 2, quý II, 1985, các trang 13, 14, 15) đã khách quan nói về Nam Phong như sau:

“Anh Trường Chinh là người lãnh đạo báo chí, không những đã tích lũy kinh nghiệm công tác báo chí của toàn bộ phong trào mà bản thân anh còn là một nhà văn hóa, một nhà viết báo, nên có sự chú ý đặc biệt đến mặt văn chương của báo chí cách mạng, mặt đóng góp của báo chí cách mạng vào văn học và báo chí Việt Nam.

Cho nên ngay lần gặp làm việc với bộ phận anh em ở phong trào Hà Nội được chọn về xây dựng tờ báo Cờ Giải Phoáng ra công khai giữa Hà Nội đã rợp cờ đỏ sao vàng, ngày 27 tháng 8 mùa thu năm 1945, anh đã nói một câu đầy hoài bão “1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa, Ngày Nay; 1945 Cờ Giải Phóng”.

(…)

“1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa, Ngày Nay; 1945, Cờ Giải Phóng”. Tôi tin là nếu không có chiến tranh, không phải đi vào hai cuộc kháng chiến, tất cả phát triển hòa bình, toàn Đảng dồn sức cho nó, thì khẩu hiệu đó hoàn toàn sớm có thể thực hiện được. Đến hôm nay nhìn lại, lịch sử ta vẻ vang thật, vẻ vang vô cùng, nhưng phát triển trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt lâu dài, tất nhiên có những mặt hạn chế mà về khách quan nên có sự nhận thức đầy đủ” (Trích bài Sống động sự nghiệp báo chí , NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.93-178).

(Con tiếp một kỳ)

V.T.

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: