Pham Ton’s Blog

Tháng Ba 8, 2013

Trường hợp Phạm Quỳnh: Không có bằng chứng gì để kết tội Phạm Quỳnh là phản quốc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:11 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 3 tháng 3 năm 2013.

TRƯỜNG HỢP PHẠM QUỲNH

Thanh Lãng

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong Từ điển Văn học – Bộ mới (NXB Thế Giới, Hà Nội, 2004) Trần Hải Yến viết: “Thanh Lãng (23 –XII-1924 – 17-XII-1978). Linh mục, nhà giáo dục, nghiên cứu văn học Việt Nam. Tên thật là Đinh Xuân Nguyên, sinh tại Tam Tổng, Nga Sơn, Thanh Hóa.

(…) Thời kỳ chuyên tâm nhất cho văn chương (1960-1975) Thanh Lãng đã viết (…) tập trung vào các vấn đề: lịch sử phát triển chữ quốc ngữ và quá trình hình thành văn chương quốc ngữ, chương trình giảng dạy văn chương trong nhà trường, ngoài ra, ông còn chú ý đến một số tác giả văn chương, báo chí như Nguyễn Du, Nhất Linh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh… Những bài viết đó cho thấy tác giả hết sức quan tâm đến lịch sử phát triển của văn học dân tộc, đặc biệt là thời kỳ chữ quốc ngữ bắt đầu hình thành. (…) Hai quyển (Thượng và Hạ) của Bảng lược đồ Văn học Việt Nam tuy chỉ được viết “rất sơ lược” “các nét chính của văn học Việt Nam, tức là các thời kỳ hay thế hệ văn học cùng các trào lưu tư tưởng, trào lưu tình cảm, trào lưu nghệ thuật và những chứng nhân tiểu biểu nhất, đại diện nhất của mỗi trào lưu”, nhưng đây lại là đóng góp lớn hơn cả của tác giả cho cách nhìn và phương pháp viết lịch sử văn chương (…) Do được tiếp cận với văn hóa phương Tây, lối nghiên cứu của Thanh Lãng nổi rõ chất lý trí tỉnh táo và căn cứ tư liệu thực tế”.

Để cung cấp cho các bạn quan tâm đến Thượng Chi – Phạm Quỳnh, chúng tôi sẽ trích đăng dần bài viết đặc sắc, công phu của giáo sư Thanh Lãng nhan đề Trường hợp Phạm Quỳnh, đã đăng trên tạp chí Văn Học, xuất bản tại Sài Gòn, các số 3,4,5,6 trong các tháng 1,2,3,4 năm 1963. Đây là một tư liệu nhiều bạn cần mà nay rất khó kiếm. Chúng tôi chỉ lược bỏ một ít đoạn nay xét thấy không cần thiết và đặt nhan đề cho từng phần trích đăng để bạn đọc dễ theo dõi. Mong các bạn thông cảm.

—o0o—

7. KHÔNG CÓ BẰNG CHỨNG GÌ ĐỂ KẾT TỘI PHẠM QUỲNH LÀ PHẢN QUỐC

Theo tôi dự đoán thì cái nhóm trẻ mà giáo sư Trung nói đến là để chỉ những người hoạt động văn hóa từ năm 1932, là năm mà ông cho là tình thế chính trị đã thay đổi hẳn.

Điều thứ nhất tôi muốn ghi chú là những người mà giáo sư Trung gọi là nhóm trẻ và thuộc về sau năm 1932, thực ra chẳng trẻ gì hơn Phạm Quỳnh: Đào Duy Anh, Nguyễn Tường Tam đã suy tôn Kiều từ năm 1920 và vẫn suy tôn Kiều cả sau năm 1932, cho nên chẳng thể gọi họ là nhóm trẻ đến sau được.

Điều thứ hai tôi muốn ghi chú là chẳng hiểu căn cứ vào đâu mà giáo sư Trung đặt ra giả thuyết tự Pháp sáng kiến đề ra chính sách làm văn hóa để cho quên chính trị.

Giáo sư Nguyễn Văn Trung chưa minh chứng được điều đó.

Tuy nhiên, nghĩ rằng, muốn minh chứng điều đó, tưởng cũng rất dễ. Nếu chúng ta cho rằng Pháp có cả một chiến lược trong vấn đề thực dân, vấn đề bình trị dân thuộc địa, thì việc khai thác, huy động toàn lực ra để đi đến thành công là điều dễ hiểu. Việc bình trị phải bao hàm cả quân sự, cả chính trị và dĩ nhiên cả văn hóa nữa. Chính sách làm văn hóa để cho quên chính trị thực ra chỉ là một hệ luận tất nhiên của một chính sách. Tôi đồng ý đối với giáo sư Trung rằng chính sách ấy có thể có.

Điều làm tôi bỡ ngỡ không phải là sự hiện hữu của chính sách đó mà là ở chỗ giáo sư Nguyễn Văn Trung cho chính sách đó như chỉ bao vây có một mình Phạm Quỳnh, chinh phục có một mình Phạm Quỳnh, mua chuộc các hành động khách quan của một mình Phạm Quỳnh chứ không nhằm các nhà văn hóa khác.

Tôi cũng chẳng hiểu tại sao, đột ngột, sau năm 1932, tình thế chính trị đã khác hẳn. Mấy tiếng “tình thế chính trị đã khác hẳn” ở đây nghĩa là gì? Phải chăng là Pháp thôi thi hành chính sách lợi dụng văn hóa để củng cố địa vị chính trị thực dân? Phải chăg vì nó bất lợi? Phải chăng vì nó thừa? Do tài liệu nào mà giáo sư Trung biết được rằng Pháp đình chính sách ấy lại từ năm 1932?

Tôi ngỡ rằng không có sự cho đình chính sách ấy năm 1932, vì Pháp dại gì mà cho đình lại đang khi chính sách ấy đem lại thành quả tốt đẹp cho chiến lược của họ. Có chăng là lúc ấy chính sách của Pháp đã xây được cơ sở hoàn toàn vững chắc rồi, Pháp không cần phải vất vả, tung cán bộ trung kiên như thời xưa nữa, bởi vì mọi người đều coi việc văn hóa thuần túy để quên chính trị như là một việc tự nhiên, không có mặc cảm, không có nghi kỵ nữa.

Có phải như vậy chăng? Nếu phải như vậy, thì cái tình thế mà giáo sư Trung bảo là khác hẳn ấy chỉ là một tình thế bi đát và những người hoạt động văn hóa để cái tình thế ấy được duy trì, được kéo dài càng có tội to hơn, càng phản bội hơn Phạm Quỳnh.

Thực ra , tôi thấy trước năm 1932 hay sau năm 1932, tình thế chính trị không thể nói là khác hẳn nhau. Năm 1932 là năm Bảo Đại hồi loan, là năm Bảo Đại lập nội các mới. Nước Pháp lúc ấy tuyên bố là muốn áp dụng một đường lối chính trị mới hơn, mới ở đây là có nghĩa khoan hồng, rộng rãi hơn, cho tự do hơn. Cũng có một đôi phần thực là Pháp nới rộng chút ít tự do. Trước kia (nghĩa là trước năm 1932) tuy kiểm duyệt rất ngặt ngã, ngặt ngã đối với các vấn đề chính trị, đã vậy mà ngặt ngã nhất là đối với các vấn đề luân lý, những điều phạm thuần phong mĩ tục bị cấm nghiệt ngã. Nhưng từ sau năm 1932, Pháp cho tự do hầu như thả cửa trong vấn đề làm nghệ thuật vị nghệ thuật.

Tội nghĩ rằng, cái chiến lược văn hóa rất lợi hại như vậy, vì nó có sức làm cho người ta, vì say mê nghệ thuận thuần túy mà quên chính trị, thì Pháp không dại gì mà bỏ nó.

Nếu Pháp không bỏ nó thì tức là nó vẫn còn được Pháp giật giây, và những người lao mình vào con đường làm văn hóa, trước năm 1932 hay sau năm 1932, đều bị Pháp giật giây, đều là làm lợi cho chiến lược của Pháp và đều đáng tội với tổ quốc.

Như vậy, thực chất của mọi hoạt động văn hóa dưới thời thực dân chỉ có thể là thực chất chính trị mà thôi. Bởi thế Pháp đã đề ra một chính sách văn hóa thì mọi sinh hoạt văn hóa chỉ có thể hoặc là bất lợi, ngược với chính sách ấy hoặc là có lợi, phù hợp với chính sách ấy. Không thể có một sinh hoạt văn hóa có thực chất thuần văn hóa được.

Cũng như Phạm Quỳnh, có thể là các nhà văn hóa thời ấy không theo Pháp, không biết rằng có một chính sách văn hóa do Pháp đề ra, nhưng một việc họ khách quan tham dự vào sinh hoạt văn hóa, thì họ cũng khách quan ủng hộ chính sách của Pháp, khách quan làm lợi cho Pháp. Cho nên khách quan họ cũng theo Pháp, là tay sai của Pháp mà chủ tâm của họ có thể không nghĩ tới.

Sự suy luận trên đây tất nhiên dẫn chúng ta đến kết luận là ta phải kết án là theo Tây, là phản bội, là bán nước, không riêng gì Phạm Quỳnh, không riêng gì các nhà làm văn trước năm 1932, mà tất cả các nhà làm văn trước năm 1945. Chỉ mỗi một hạng người được trắng án dó là hạng người làm văn hóa như Ngô Đức Kế với chủ đích rõ ràng là tương kế tựu kế. Nói cách khác, chỉ những người biết có sự lợi dụng của Pháp, biết có sự bủa lưới của Pháp trong địa hạt văn hóa, mà biết quyết định chống lại sự lợi dụng đó, tố cáo thủ đoạn nấp dưới hình thức văn hóa, chỉ những người như vậy mới có thể được coi là làm văn hóa đứng đắn không phản dân hại nước.

Tôi không hiểu chủ tâm của giáo sư Nguyễn Văn Trung có quả quyết như vậy hay không chứ lý luận khách quan tự tại của bài diễn văn khiến độc giả phải hiểu như vậy.

Tôi còn đọc tiếp bài diễn văn của giáo sư Nguyễn Văn Trung.

Trong phần cuối bài diễn văn, giáo sư đề cập đến mấy điều sau đây:

1. Tìm hiểu lý do tại sao Ngô Đức Kế mạt sát Kiều mà không mạt sát Hoa Tiên.

2. Tìm hiểu lý do sâu xa khiến Ngô Đức Kế chống đối Phạm Quỳnh

3. Quả quyết Ngô Đức Kế không phải là một hủ nho lạc hậu.

4. Thẩm định toàn sự nghiệp văn học của Phạm Quỳnh.

Theo giáo sư Nguyễn Văn Trung, Ngô Đức Kế khắc nghiệt với truyện Kiều không phải vì truyện Kiều mà chỉ vì Kiều đã bị Phạm Quỳnh lợi dụng. Rất có thể điều giáo sư Trung quả quyết là đúng. Tuy nhiên chứng cớ chưa có gì là minh bạch. Chứng cớ độc nhất mà ông nêu ra là đem Kiều so sách với Hoa Tiên để xác nhận, về phương diện luân lý, hai tác phẩm KiềuHoa Tiên cùng trình bày những vấn đề luân lý tương tự “cũng nửa đêm chạy sang nhà gái, cũng nhảy qua tường” (nguyên văn).

Tôi đoán có lẽ ông lầm Hoa Tiên với Phan Trần chăng: các cụ ta xưa cấm con trai đọc Phan Trần và cấm con gái đọc Kiều.

Cho ngay rằng, về tác dụng luân lý, hai tác phẩm  ấy xấu xa ngang nhau đi nữa, thì có phải là Ngô Đức Kế không thích Hoa Tiên mà việc đả kích Kiều tất nhiên phải có lý do chính trị? Tôi nghĩ Ngô Đức Kế không đả kích Hoa Tiên hay Phan Trần không tất nhiên vì những tác phẩm ấy không bị chính trị lợi dụng, mà có lẽ chỉ vì chúng ít phổ thông, không được ai tuyên truyền cổ võ, cho nên được coi như là không có nguy hại gì cho đạo giáo. Và việc đả kích Kiều không tất nhiên vì Kiều bị chính trị lợi dụng mà có lẽ chỉ vì Kiều dễ hiểu, phổ thông trong dân gian, đã vậy mà lại còn được nhiều người cổ võ cho nó, ông có thể đánh nó và đánh tất cả những ai bênh vực nó vì sợ ảnh hưởng của nó tai hại cho đạo giáo, chứ không tất nhiên vì nó bị chính trị lợi dụng.

Muốn bênh vực lập trường của Ngô Đức Kế, giáo sư Nguyễn Văn Trung quả quyết Ngô Đức Kế không phải là nhà nho thủ cựu như bọn hủ nho lạc hậu. Không những không phải là hủ nho, Ngô Đức Kế hay Huỳnh Thúc Kháng còn là những nhà nho tiến bộ, kịch liệt đả kích khoa cử, đề xướng tân học.

Điều này không chối cãi. Tuy nhiên, có phải vì có tư tưởng tiến bộ về chính trị, về xã hội mà tất nhiên có tư tưởng tiến bộ về nghệ thuật, mà tất nhiên có khả năng thẩm định chính xác các giá trị nghệ thuật hay không? Những thẩm định chính trị, cho dù là chính trị quốc gia dân tộc gì đi nữa, không tất nhiên bảo đảm cho giá trị thực tại của các phán đoán nghệ thuật. Nói cách khác, không phải vì “tranh đấu cho chính trị yêu nước là tranh đấu cho văn học thực sự”, mà người tranh đấu như vậy tất nhiên phải là một nhà phê bình chân chính. Ngược lại tất cả mọi đam mê, phương chi là đam mê đạo đức luân lý thường là dễ xuyên tạc tình cảm nghệ thuật chân thành.

Giáo sư Nguyễn Văn Trung không công nhận rằng Phạm Quỳnh có thể thành thực yêu quốc văn được. Ông luận thế này: “Tại sao ông Quỳnh yêu quốc văn, muốn lấy quốc văn làm phương tiện gây dựng độc lập, ông Kế cũng yêu quóc văn, cũng muốn lấy quốc văn làm phương tiện gây dựng độc lập, mà hai ông lại chống nhau. Nếu cùng một tâm hồn, một chủ đích, tại sao không gặp nhau được. Tại truyện Kiều, quốc văn một lợi khí bản chất là tốt đã bị địch lợi dụng mất rồi và ông Quỳnh lại phụng sự quốc văn trong phe địch” (nguyên văn).

Thực ra người ta ghét nhau không phải vì mục đích mà xung đột nhau, mà thường khi mục đích càng gần nhau người ta càng ghét nhau vì quyền lợi hay đường lối tương phản nhau. Có thể Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh cùng chung nhau một mục đích là xây dựng một nền văn học dân tộc nhưng đường lối của hai ông khác nhau. Có thể Ngô Đức Kế chống Phạm Quỳnh vì đường lối của Phạm Quỳnh là đường lối cởi mở, thiên trọng về nghệ thuật vì nghệ thuật, còn đường lối của Ngô Đức Kế là nghệ thuật vì nhân sinh, vì đạo đức luân lý.

Rất có thể vì cái khác ấy mà hai ông đánh nhau chứ không tất nhiên phải là Phạm Quỳnh phản dân hại nước.

Còn như việc cho rằng “sự nghiệp văn hóa của Phạm Quỳnh là bậc thang chính trị đưa Phạm Quỳnh từ một thầy thông ngôn vô danh lên làm đến chức thượng thư triều đình”, tôi sợ điều nhận định ấy không đúng với sự thực và có thể oan cho Phạm Quỳnh. Không phải từ một “thầy thông ngôn vô danh” Phạm Quỳnh đã nhảy vọt lên chức thượng thư. Theo chỗ tôi biết thì Phạm Quỳnh có học trường thông ngôn và tốt nghiệp trường ấy năm 1908. Nhưng hình như ông không làm thông ngôn thì phải. Ngay khi tốt nghiệp, ông được tuyển vào làm nhân viên Trường Viễn Đông Bác Cổ. Năm 1917, ông đứng chủ trương Nam Phong; năm 1918, sáng lập Hội Khai Trí Tiến Đức và giữ chân tổng thư ký cho đến năm 1932; năm 1920 đến 1924, là hội viên Hội tư vấn Hội đồng thành phố Hà Nội; năm 1924 đến 1932 giảng viên môn Bác ngữ học và Văn chương Hán Việt tại trường Đại Học Hà Nội, từ 1925 đến 1928, Chủ tịch Hội Khuyến học Bắc Kỳ; từ 1926 đến 1932, hội viên Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ; từ 1926 đến 1931, phó chủ tịch Đại Hội đồng Kinh tế và Tài chánh Đông Pháp; từ 1931 đến 1932, phó chủ tịch Hội Địa dư Hà Nội và tổng thư ký hội Bảo trợ xã hội Bắc Kỳ.

Với tất cả những huy hiệu oai danh lẫm liệt như vậy chứ đâu phải chỉ là một thầy thông ngôn vô danh mà Phạm Quỳnh tiến lên chức thượng thư.

Nhưng điều quan hệ hơn cả mà giáo sư Nguyễn Văn Trung đề ra là yêu cầu duyệt lại vai trò của Phạm Quỳnh trong văn học sử: “Không thể vô tình cứ đề cao Phạm Quỳnh như một học giả, một đấng văn hào” (nguyên văn).

Theo giáo sư Trung, có hai lý do khiến phải duyệt lại thái độ đối với Phạm Quỳnh của các nhà biên soạn văn học sử bấy lâu nay:

Thứ nhất là lý do chính trị, thứ hai là giá trị tự tại của chính sự nghiệp văn hóa của Phạm Quỳnh.

Theo giáo sư Trung, giá trị nghệ thuật bị gắn liền với chính trị. Tôi không hiểu rõ lắm thâm ý của giáo sư Trung, nhưng cứ nguyên văn thì xem ra ông muốn quả quyết rằng con người phản quốc không thể có một giá trị gì về nghệ thuật.

Hành động phản quốc làm cho mọi công trình nghệ thuật tự nó mất hết giá trị nghệ thuật. Có thể đấy cũng là một quan niệm nghệ thuật. Mà thực quan điểm nghệ thuật ấy vẫn có từ xưa đến nay ở khắp vòm trời Đông Tây. Các cụ ta xưa đòi nghệ thuật phải gắn liền với luân lý đạo đức, vì thế không thể có nghệ thuật phi luân lý, huống hồ là nghệ thuật phản luân lý. Quan điểm ấy chẳng riêng gì Đông phương mình chủ trương mà ngay cả Tây phương đời xưa cũng như đời nay vẫn còn nhiều người bênh vực.

(…) Tôi không bảo đấy là nên hay không nên làm mà chỉ có ý nêu lên rằng cái quan điểm bắt nghệ thuật phải lệ thuộc vào một chủ trương hoặc là tôn giáo, hoặc là luân lý, hoặc là chính trị… cũng là một quan điểm có thế lực.

(…) Riêng về trường hợp Phạm Quỳnh, tôi thấy cho dù có muốn theo quan điểm nghệ thuật vì quốc gia đi nữa, ta cũng chưa có dủ dữ kiện để mà kết án.

Giáo sư Trung cho rằng sở dĩ tất cả sự nghiệp của Phạm Quỳnh hỏng hoàn toàn là vì ông đã đứng ra “tiếp nhận một chính sách của địch và lãnh đạo thi hành chánh sách đó” .Tôi thấy chỉ mới là một suy luận chứ chưa phải là một biện minh lịch sử, cho nên sự nghiệp của Phạm Quỳnh chưa hẳn đã bị luận tội theo quan điểm nghệ thuật vì quốc gia.

Sau khi đã lấy chính trị để mà chém vỡ mặt Phạm Quỳnh; sợ rằng bị hiểu lầm là thiên kiến, giáo sư Trung còn căn cứ vào chính sự nghiệp tự tại của Phạm Quỳnh để mà thẩm định ông.

Không những sự nghiệp văn hóa của Phạm Quỳnh kém cỏi vì nó phản dân, hại nước mà còn chính bởi nó tầm thường về mặt giá trị. Theo giáo sư Trung, Phạm Quỳnh chỉ là một dịch giả, soạn giả phổ thông, không phải là một nhà nghiên cứu sâu sắc đề ra được một quan điểm nào về văn học hay đưa ra những ý kiến mới.

Tôi nghĩ điều quả quyết trên đây có nhiều khắc nghiệt quá với Phạm Quỳnh. Phạm Quỳnh không phải chỉ là một dịch giả. Mà cho ngay rằng Phạm Quỳnh chỉ là một dịch giả có tài như ông đã làm kể ra cũng không đến nỗi tầm thường quá đáng. Phạm Quỳnh không hẳn là một nhà nghiên cứu sâu sắc, vì thường ra các bài biên khảo của Phạm Quỳnh như các bài về sử học, về triết học, về Khổng học, về Phật học, về tiểu thuyết hay kịch đều là tổng lược lại các bài nghiên cứu của các học giả Pháp. Điều ấy ai cũng có thể đồng ý với giáo sư Trung. Nhưng sự nghiệp của Phạm Quỳnh không phải chỉ có thế mà còn có cái gì hơn nữa.

Xét đến sự nghiệp của Phạm Quỳnh ta phải xét về hai phương diện, nếu đứng về phương diện ảnh hưởng, về cái mà Phạm Quỳnh đã khua động được, tức là gây một phong trào văn học mới, là xây dựng được cơ sở cho nền văn học phôi thai thì công nghiệp của Phạm Quỳnh vô cùng to tát. Điều này tôi đã làm trong hơn 10 chương của bộ lịch sử văn học thế hệ 1913 (1913-1932), sắp xuất bản nay mai.

Nếu đứng về giá trị tự tại của nó mà xét sự nghiệp nghệ thuật của Phạm Quỳnh có vô giá trị hoàn toàn không? Tôi thấy là không! Người ta có thể chối giá trị nghệ thuật của các bài biên khảo của ông chứ ai mà có thể chối giá trị nghệ thuật của các bài tùy bút trong đó Phạm Quỳnh đã để chan chứa những tình cảm say sưa. Phương chi các thiên hồi ký của ông như các thiên Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Ba tháng ở Paris… thì ta phải công nhận là những tập hồi ký có giá trị, giá trị vì những nhận xét tỉ mỉ, những nét tả linh động, giá trị nhất là ở tình cảm say sưa của một nghệ sĩ chảy tràn lan trên giấy: Phạm Quỳnh là một nhà thơ viết văn xuôi.

Có đọc các tập hồi ký ấy ta mới thấy Phạm Quỳnh không phải xa chúng ta lắm, xa dân tộc, xa quê hương đất nước như người ta tưởng.

Nói như vậy tôi không có ý quả quyết trăm phần trăm rằng Phạm Quỳnh không thể là một người phản quốc.

Tôi chỉ có ý nói rằng: với các dữ kiện và sự kiện như ta có bây giờ, chưa có gì bắt buộc ta phải coi Phạm Quỳnh là một tên phản bội, coi sự nghiệp của ông như là bùn đen hay phân bón. Công việc tôi làm trong mấy số báo Văn Học này chỉ là đọc lại kỹ lưỡng bài diễn văn của giáo sư Nguyễn Văn Trung và đặt ra các nghi vấn mà tôi chưa giải quyết nổi. Tôi mong giáo sư Nguyễn Văn Trung sẽ nghiên cứu để cho chúng tôi thấy nhiều dữ kiện mới để làm sáng tỏ vấn đề.

Tôi vui mừng được tin giáo sư Nguyễn Văn Trung đang xoay trần ra để đọc tài liệu và sắp cho công bố một thiên nghiên cứu dày có trên 3,4 trăm trang về Phạm Quỳnh hay đúng hơn là về một giai đoạn lịch sử chính trị văn học.

T.L.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: