Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 10, 2013

Trường hợp Phạm Quỳnh: Thực ra chưa chắc Ngô Đức Kế ghét Phạm Quỳnh vì “theo Tây”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:31 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 3 tháng 5 năm 2013.

TRƯỜNG HỢP PHẠM QUỲNH

THỰC RA CHƯA CHẮC NGÔ ĐỨC KẾ GHÉT PHẠM QUỲNH VÌ “THEO TÂY”

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ mười kể từ ngày ra đời Blog PhamTon,

tính đến 6 giờ ngày 23/4/2013 đã có 13.774 lượt người truy cập.)

Thanh Lãng

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon ra đời đã được hơn ba năm. Trong thời gian ấy, Blog PhamTon đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Không ít bài đã có trên dưới 10.000 lượt người truy cập. Toàn bộ Blog PhamTon đã đạt hơn một triệu lượt người truy cập. Có ngày lên hơn 10.000.

Đó là điều đáng chú ý đặc biệt. Vì Blog PhamTon là một blog cá nhân lại chỉ chuyên viết các đề tài liên quan đến một con người đã ra đi cách ngày nay ngót 70 năm trời.

Từ kỳ này, chúng tôi sẽ lần lượt đăng lại để bạn đọc không có điều kiện theo dõi thường xuyên đọc được những bài được đông đảo bạn đọc truy cập trong ba năm qua, mong bạn đọc chú ý theo dõi.

Xin chân thành cảm ơn các bạn đã có lòng yêu mến Thượng Chi – Phạm Quỳnh và do đó quan tâm theo dõi cuộc sống của Blog PhamTon chúng tôi.

* Bài Thực ra, chưa chắc Ngô Đức Kế ghét Phạm Quỳnh vì theo Tây là phần 4 trong toàn bộ 7 phần của bài Trường hợp Phạm Quỳnh của Thanh Lãng. Tính đến ngày 26/4/2012 đã có 13.583 lượt người truy cập.

—o0o—

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong Từ điển Văn học – Bộ mới (NXB Thế Giới, Hà Nội, 2004) Trần Hải Yến viết: “Thanh Lãng (23 –XII-1924 – 17-XII-1978). Linh mục, nhà giáo dục, nghiên cứu văn học Việt Nam. Tên thật là Đinh Xuân Nguyên, sinh tại Tam Tổng, Nga Sơn, Thanh Hóa.

(…) Thời kỳ chuyên tâm nhất cho văn chương (1960-1975) Thanh Lãng đã viết (…) tập trung vào các vấn đề: lịch sử phát triển chữ quốc ngữ và quá trình hình thành văn chương quốc ngữ, chương trình giảng dạy văn chương trong nhà trường, ngoài ra, ông còn chú ý đến một số tác giả văn chương, báo chí như Nguyễn Du, Nhất Linh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh… Những bài viết đó cho thấy tác giả hết sức quan tâm đến lịch sử phát triển của văn học dân tộc, đặc biệt là thời kỳ chữ quốc ngữ bắt đầu hình thành. (…) Hai quyển (Thượng và Hạ) của Bảng lược đồ Văn học Việt Nam tuy chỉ được viết “rất sơ lược” “các nét chính của văn học Việt Nam, tức là các thời kỳ hay thế hệ văn học cùng các trào lưu tư tưởng, trào lưu tình cảm, trào lưu nghệ thuật và những chứng nhân tiểu biểu nhất, đại diện nhất của mỗi trào lưu”, nhưng đây lại là đóng góp lớn hơn cả của tác giả cho cách nhìn và phương pháp viết lịch sử văn chương (…) Do được tiếp cận với văn hóa phương Tây, lối nghiên cứu của Thanh Lãng nổi rõ chất lý trí tỉnh táo và căn cứ tư liệu thực tế”.

(…)

Để cung cấp cho các bạn quan tâm đến Thượng Chi – Phạm Quỳnh, chúng tôi sẽ trích đăng dần bài viết đặc sắc, công phu của giáo sư Thanh Lãng nhan đề Trường hợp Phạm Quỳnh, đã đăng trên tạp chí Văn Học, xuất bản tại Sài Gòn, các số 3,4,5,6 trong các tháng 1,2,3,4 năm 1963. Đây là một tư liệu nhiều bạn cần mà nay rất khó kiếm. Chúng tôi chỉ lược bỏ một ít đoạn nay xét thấy không cần thiết và đặt nhan đề cho từng phần trích đăng để bạn đọc dễ theo dõi. Mong các bạn thông cảm.

—o0o—

4. THỰC RA CHƯA CHẮC NGÔ ĐỨC KẾ GHÉT PHẠM QUỲNH VÌ “THEO TÂY”

Trong khoảng này (1917-1932 – PT chú), hoạt động nói được là có hình thức chính trị, chỉ có việc Phạm Quỳnh giữ chân hội viên tư vấn Hội đồng thành phố Hà Nội (Năm 1920- PT chú).

Nếu chỉ làm cái ông cố vấn của một hội đồng thành phố mà bị ghép vào tội phản dân hại nước thì chẳng riêng gì Phạm Quỳnh mà hầu hết các nhà văn hóa đương thời vẫn được quốc dân công nhận là đứng đắn như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Bá Học, và sau này, hầu hết các nhà văn như Tú Mỡ, Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, đều là công chức của Pháp. Tôi nghĩ Ngô Đức Kế đả kích Phạm Quỳnh chắc không phải vì Phạm Quỳnh giữ chân hội viên tư vấn Hội đồng thành phố Hà Nội.

Nếu không phải vì cái chức cố vấn mà lúc ấy, năm 1924, Phạm Quỳnh còn đang nắm giữ, thì phải chăng vì một bài báo viết ra mãi từ năm 1917, bài báo mà giáo sư Nguyễn Văn Trung đã trích một đoạn với lời buộc tội là Phạm Quỳnh “đề cao, biện hộ cho chế độ thực dân trong khi biết bao nhà ái quốc ngã gục trước họng súng của cái chủ nghĩa mà Phạm Quỳnh cho là nhân đạo, là xả kỷ”.

Về cái bài Khái luận về văn minh học thuật nước Pháp này, điều thứ nhất ta cần nhận định đó là một nhận định không phải do Phạm Quỳnh viết ra mà chỉ là tường thuật bài La civilisation (Nền văn minh – PT chú) của ông Victor Giraud viết năm 1916. Có đọc cả cái bài khái luận này mới thấy rằng chủ trương của bài khái luận không phải là biện minh cho chế độ thực dân.

Bài khái luận chia làm 6 phần, phân tích những đặc tính của nền văn minh của Pháp là một nền văn minh lấy “nhân đạo” làm cốt yếu. Giraud minh chứng tính cách nhân đạo ấy của nền văn minh Pháp được bộc lộ qua văn chương Pháp, qua triết học Pháp, qua tôn giáo Pháp, qua  lịch sử Pháp. Chính do cái phần Victor Giraud phân tích tính cách nhân đạo của Pháp qua lịch sử của Pháp này mà giáo sư Nguyễn Văn Trung buộc tội Phạm Quỳnh là muốn biện hộ, đề cao chế độ thực dân.

(…)

Tôi chưa có dữ kiện đủ để biện hộ cho Phạm Quỳnh là một chiến sĩ quốc gia chống Pháp mà tôi cũng chưa thấy có gì đáng ghép Phạm Quỳnh vào tội buôn dân bán nước qua một đoạn văn viết như trên kia.

(…) Do sự phân tích trên đây, tôi thấy không thể chỉ vì một đoạn văn vỏn vẹn có ngần ấy câu mà ghép Phạm Quỳnh vào tội buôn dân bán nước, là đề cao hay biện hộ cho chế độ thực dân.

Và Ngô Đức Kế, khi đả kích Phạm Quỳnh năm 1924, chắc không phải vì các đoạn văn vỏn vẹn ấy viết ra từ năm 1917.

Đàng khác, nếu chỉ căn cứ vào một đoạn văn mà buộc tội thì tôi thiết tưởng người ta có thể buộc tội cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là hai nhà cách mạng và anh hùng dân tộc ở đầu thế kỷ, vậy mà cả hai nhà đại cách mạng đều lâm thời chấp nhận sự kiện bảo hộ như là một sự kiện nếu không cần thiết thì cũng không thể tránh được.

Phan Chu Trinh, trong bức thư gửi cho chính phủ Pháp ngày 15/8/1918, hình như không những chấp nhận sự kiện bảo hộ của Pháp mà còn coi đó như một điều cần thiết cho sự an toàn của dân ta trong hoàn cảnh lịch sử lúc ấy: “Ôi, ham mến tự do, mưu toan độc lập, xấu hổ làm nô lệ cho người, lấy cái đó mà ngờ cho dân tộc Âu châu là phải rồi, chớ còn như lấy đó mà ngờ cho dân An nam thì có khác gì ngờ người có bệnh tê bại leo tường ăn cắp, ngờ đứa con nít ba tuổi đốt nhà giết người; chẳng qua cái thói đa nghi đó mà thôi. Chớ cứ nói thật ra, trong một nước mà học thuật không ra sao, phong hóa bại hoại, liêm sỉ mất hết, kiến thức không có một chút gì, ngay đến trong một làng, một ấp mà cũng coi nhau như cừu địch thì còn mong mỏi gì liên kết đoàn thể mà chống giữ với ai? Mà ví thử có muốn đem võ lực để kháng cự với chính phủ bảo hộ đi nữa, thì không những đất dụng võ không có, tàu to súng lớn không có, lương thực không có, mà cứ nói ngay ra ví thử bây giờ người Pháp cho người Nam độc lập, giao cho mấy ngàn khẩu súng, cấp cho đất đai mấy tỉnh, rồi cho tự trị lấy, không hỏi gì đến nữa, thì chỉ trong vòng mấy năm là tranh giành tước vị, cướp bóc của cải, báo thù báo oán, chém giết lẫn nhau đến chết thì thôi, còn mong gì mở mày mở mặt với thế giới được; ấy mình đối với mình còn thế, còn mong gì đối với ai.” (Trích theo Thế Nguyên, Phan Chu Trinh , Tân Việt, trang 97-98).

Qua đoạn văn trên này, Phan Chu Trinh nhận định hai điều:

Điều thứ nhất là dân tộc ta trong hoàn cảnh đương thời không thể nào đánh lại được người Pháp.

Thứ hai có vẻ cay đắng, bi đát hơn, đó là việc giả sử người Pháp có trao quyền tự trị hay độc lập cho dân tộc mình thì người mình lúc ấy cũng không cai trị nổi nhau mà chỉ có cấu xé lẫn nhau “chỉ trong mấy năm là tranh giành tước vị, cướp bóc của cải, báo thù, báo oán, chém giết lẫn nhau đến chết thì thôi”.

(…) Đã có chủ trương rõ rệt như vậy, cho nên Phan Chu Trinh chống bạo lực, muốn thành tâm cộng tác với Pháp chứ không muốn nổi dậy làm cách mạng bạo động. Đó là ý tưởng ông bàn đến nhiều lần trong bài diễn văn Đạo đức và luân lý Đông Tây ông đọc tại Sài Gon đêm 19/11/1925.

Trong bài đó tôi chú trọng đến đoạn sau này hơn cả:

Cái thương nước tôi nói đây không phải là xúi dân tay không nổi lên, hoặc đi lạy nước này cầu nước khác về phá loạn trong nước đâu! Tôi xin thưa: Nước ta đã hư hèn bị mắc trong tay người ta rồi, thì bây giờ ta phải đem lòng thương nước, bênh vực lẫn nhau, mà giúp cho nhau để cứu chuộc lại cái danh giá cùng lợi quyền của ta về sau. Hễ người ta làm việc gì bất công thì mình phải hiệp sức nhau lại mà chống, còn làm việc gì phải chăng thì mình cũng phải nhìn nhận, chớ có thấy chính quyền mình mất rồi mà đem lòng căm tức không kể đến việc hay của người ta. Thế thì lòng thương nước của dân Việt Nam có làm gì hại đến quyền lợi người Pháp không? Tôi xin thưa rằng: không!. Dân Việt Nam thấy người nào làm hại cho nước nó thì nó ghét, ấy là lẽ tự nhiên”.

(Trích theo Thế Nguyên, Phan Chu Trinh, Tân Việt, trang 144).

Theo Phan Chu Trinh, lòng yêu nước, tức tinh thần quốc gia, tức bổn phận làm một công dân yêu nước, một chiến sĩ quốc gia không cần phải xung đột với Pháp: “Thế thì lòng yêu thương nước của dân Việt Nam có làm hại gì đến quyền lợi của người Pháp không? Tôi xin thưa rằng: không!”

Đây chưa phải là chỗ thẩm định tư tưởng của Phan Chu Trinh mà chỉ muốn trích hai văn kiện của một nhà Đại Cách Mạng Việt Nam được mọi giới yêu kính, văn kiện thứ nhất đề năm 1918, văn kiện thứ hai đề năm 1925, để minh chứng rằng, thuộc vào khung cảnh lịch sử của nó, những bài văn, bài báo như của Phan Chu Trinh hay của Phạm Quỳnh không thể hiểu thẳng băng theo ngữ ngôn của thời đại ta. Mà nếu hiểu theo ngữ ngôn của thời đại ta thì Phan Chu Trinh có vẻ còn đề cao, còn biện hộ cho chế độ thực dân mạnh hơn Phạm Quỳnh nhiều.

Không những xem ra đề cao, biện hộ cho chế độ thực dân mà Phan Chu Trinh còn kết án cả cái lối làm cách mạng theo lối Ngô Đức Kế nữa kia, điều mà Phạm Quỳnh trong thâm tâm không biết ông nghĩ thế nào, chứ chưa hề công khai dám tuyên bố táo bạo như Phan Chu Trinh:

“Cái thương nước tôi nói đây không phải xúi dân tay không nổi lên, hoặc đi lạy nước này, cầu nước khác về phá loạn trong nước đâu.”

Nếu bài báo của Ngô Đức Kế ra đời sau năm 1924 là năm rồi đây Phạm Quỳnh sẽ tham gia nhiều hoạt động có tính cách chính trị, nhất nữa là ra đời vào khoảng sau năm 1933 là năm Phạm Quỳnh sẽ chìm sâu vào chính trị thì sự giải thích của giáo sư Nguyễn Văn Trung có lẽ mới thích hợp. Ngô Đức Kế viết bài Chánh học cùng tà thuyết vào thượng tuần tháng 9 năm 1924, nghĩa là hơn một tuần sau khi có cuộc lễ kỷ niệm Tiên Điền Nguyễn Du vào tuần cuối tháng 9 năm 1924. Tôi muốn nói: Từ năm 1924 trở về trước, cuộc đời của Phạm Quỳnh chưa có gì đáng cho Ngô Đức Kế hay dư luận nghi là buôn dân bán nước, là theo Tây.

Hình như giáo sư Nguyễn Văn Trung đã bắt Ngô Đức Kế nhìn thấy cả đời chính trị của Phạm Quỳnh về sau này, khi ông viết bài Chánh học cùng tà thuyết năm 1924.

Thực ra giáo sư Nguyễn Văn Trung biết Phạm Quỳnh đã làm chính trị, đã làm thượng thư, một thứ thượng thư Bộ Học rồi đến Bộ Lại mà chưa tranh đấu được gì cả cho dân tộc như người ta từng chờ mong, chứ Ngô Đức Kế thì không những năm 1925, ông không thể biết các việc ấy được, mà cho ngay sau này ông cũng chẳng có thể đoán được là Phạm Quỳnh có sẽ làm thượng thư hay không, vì Ngô Đức Kế chết năm 1930 mà mãi đến 1933 Phạm Quỳnh mới ra tham chính. Tôi nêu lên sự kiện này là có ý lưu ý giáo sư Nguyễn Văn Trung là rất có thể chúng ta đem ghép cho Ngô Đức Kết cái tâm tính của ta về Phạm Quỳnh. Thực ra tôi cũng như giáo sư Nguyễn Văn Trung, chúng ta chỉ biết Phạm Quỳnh như một đại thần của triều đình Huế, nghĩa là một người mà tuổi thanh niên chúng ta lúc ấy (khoảng năm 1938 – 1945) mong phải có những hành động kinh thiên động địa. Thú thật chính tôi cũng đã rất ghét Phạm Quỳnh hồi ông đang làm thượng thư. Chứ thời kỳ ông còn ở báo Nam Phong thì tôi còn nhỏ xíu, ngay đến năm 1924 khi xẩy ra cuộc cãi lộn giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh, thì cả giáo sư Nguyễn Văn Trung lẫn tôi chưa một ai sinh ra.

Như vậy Phạm Quỳnh có thể bị ghét về nhiều phương diện, chúng ta những người sinh sau, đã ghét Phạm Quỳnh về phương diện chính trị vì chỉ biết hay chỉ nghe nhiều về Phạm Quỳnh chính trị, Phạm Quỳnh Thượng Thư mà không ngờ rằng Phạm Quỳnh còn có thể bị ghét về nhiều phương diện khác nữa. Có thể ta đã bắt Ngô Đức Kế ghét Phạm Quỳnh theo phương diện của ta đang khi thực ra Ngô Đức Kế có thể ghét Phạm Quỳnh về một phương diện không giống chúng ta. Chúng ta ngày nay đã nhìn tổng lược cả cuộc đời của Phạm Quỳnh mà bị ám ảnh bởi cuộc đời làm quan của Phạm Quỳnh hơn là cuộc đời làm văn hóa của ông, nhưng Ngô Đức Kế lo sợ sẽ cuốn bay tất cả, phá hoại tất cả không phải là thái độ theo Tây hay chống Tây của các học giả mà là thái độ đề cao Kiều có vẻ quá mức của các ông hồi bấy giờ.

Tôi còn tiếp tục đọc lại bài diễn văn của giáo sư Nguyễn Văn Trung và còn tiếp tục đặt ra các nghi vấn.

T.L.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: