Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 17, 2013

Câu chuyện thái độ với tuổi trẻ hay là một bài học từ Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:59 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 4 tháng 5 năm 2013.

Câu chuyện thái độ đối với tuổi trẻ hay là một bài học từ Phạm Quỳnh

(Bài đăng trên Văn Hóa Nghệ An, thu từ http://vanhoanghean.com.vn thứ sáu, 15 tháng 3 năm 2013, 21:20)

 Lại Nguyên Ân

Phạm Quỳnh (1892-1945) là một trong những nhà hoạt động văn hóa có ảnh hưởng nhất trong những năm 1920-1945 ở Việt Nam. Cái chết tức tưởi của ông, sự đánh giá miệt thị và bất công đối với sự nghiệp và di sản tinh thần của ông từ phía dư luận chính thống ở Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (1945-76) và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (từ 1976) tuy cho đến nay vẫn chưa được tháo gỡ hoàn toàn, nhưng ít nhiều đã được nêu ra ở dư luận của các giới trí thức Việt Nam trong và ngoài nước.

Thiết nghĩ, tiểu sử và sự nghiệp Phạm Quỳnh, giá trị và ý nghĩa của di sản Phạm Quỳnh sẽ còn được tiếp tục làm sáng rõ hơn trong sự tiếp cận của các giới nghiên cứu sử học, văn hóa, văn nghệ hiện tại và tương lai.

Trong bài báo nhỏ này, chỉ xin nêu một chuyện nhỏ về ứng xử với giới trẻ trong đời Phạm Quỳnh, một ứng xử mà lẽ ra ông không nên mắc phải ở những người lớn tuổi, nhất là người thuộc giới tai mắt, giới chính khách.

Xin gọi đây là một bài học.

Chuyện xảy ra khoảng cuối năm 1931 đầu năm 1932, vào dịp Tổng trưởng Bộ thuộc địa và tư pháp của chính phủ Pháp là Paul Reynaud (1878-1966) thăm Đông Dương, phóng viên Jean Dorsenne của tờ Petite Parisien đi cùng và lúc qua Hà Nội đã có dịp hỏi chuyện Phạm Quỳnh, khi ấy đang là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong. Bài ghi chi tiết cuộc trò chuyện ấy đăng trên một tờ báo Pháp xuất bản tại Pháp, hẳn sẽ ít hoặc chậm được biết đến ở Việt Nam nếu như không được một tờ báo chữ Pháp xuất bản tại Hà Nội thuật lại và có thêm lời bình luận. Đó là tờ “Pháp-Việt tạp chí” (Revue Franco-Annamite), tờ tạp chí song ngữ Pháp-Việt; tác giả bài bình thuật chính là vị chủ nhiệm tạp chí: nhà báo A. E. Babut (1878-1962), một nhà hoạt động nhân quyền, một đảng viên đảng xã hội Pháp. Rồi nội dung bài báo chữ Pháp của A. E. Babut được tờ Đông Tây tuần báo ở Hà Nội dịch đăng, nhân đó chủ bút “Đông tây tuần báo” Hoàng Tích Chu mở ra một cuộc bút chiến nhắm vào thái độ đối với thanh niên của nhà báo chủ nhiệm Nam Phong.

Ta hãy nghe nội dung ý kiến Phạm Quỳnh qua lời ghi của phóng viên Jean Dorsenne, được Babut trích dẫn (bản dịch chữ Việt của Đông tây tuần báo, s. 173, ra ngày thứ tư 25 Mai (tháng 5 – PT chú) 1932):

“Ông Phạm Quỳnh thực là người làm đại biểu cho hạng nhà nho phong nhã lịch duyệt, khôn khéo mà cẩn thận. Ông khen mãi cái tài của người Pháp; ông nói cho tôi biết tất cả những điều sở đắc của ông ở tư tưởng học thuật nước Pháp. Ông cảm phục một cách chính đáng cái công cuộc tốt đẹp mà nước Pháp đã làm ở Đông Dương, ông rất lấy làm khen ngợi những đường, những sông, những cầu đã giúp cho dân nhiều điều ích lợi, mà nếu không có người Pháp chúng ta, tất không thể có được. Ông tỏ ra một người ơn nước Pháp vô cùng về sự đã làm cho 5 xứ Đông Dương được yên ổn.”…

Ý kiến này của Phạm Quỳnh mà J. Dorsenne thuật lại, nhà báo Babut không lạ, vì ông đã từng biết điều ấy không ít lần từ ngòi bút chủ nhiệm Nam Phong; tuy nhiên nhà hoạt động nhân quyền A. E. Babut vẫn muốn lưu ý: “Chúng tôi vẫn thường nhắc đi nhắc lại rằng: cái chính sách của nước Pháp ở Đông Dương cần phải là cái chính sách làm cho người An Nam mến người Pháp để lợi cho người An Nam chớ không phải mến người Pháp vì người Pháp”. (bài đã dẫn).

Nhưng nội dung thứ hai trong ý kiến của Phạm Quỳnh về giới trẻ đương thời, hoặc hẹp hơn, về một bọn trẻ du học từ Pháp về, đã khiến A. E. Babut không thể đồng tình. Đây là nội dung ý kiến ông chủ nhiệm Nam Phong (mà J. Dorsenne thuật lại, Babut trích dẫn, Đông tây tuần báo dịch):

“…Ông Phạm Quỳnh phàn nàn: ông không theo kịp thời buổi này. Ông trạc độ bốn mươi nhăm tuổi, người cao và mềm mại, mắt lóng lánh đằng sau đôi kính trắng, miệng nhạo đời. “Ông thử nhìn tôi xem – ông Phạm nói – tôi chưa hẳn đã già, phải không? Vậy mà tất cả những thiếu niên ở Pháp về, không kiêng nể ai, không hiểu những ý kiến của tôi. Theo ý họ, tôi là người không được hăng hái cho lắm…” Rồi ông nói, giọng chua cay: “Họ đã coi tôi là một người già lão rồi! Những hạng thiếu niên ấy đều là những ranh con vô giáo dục. Họ chằng biết kính ai cả; họ muốn phá hoại tất cả mọi việc, họ tự đắc, tưởng đã đủ tài đức để tự lập”.
“Thiếu niên nước tôi đang đua nhau học, – ông Phạm nói nối tiếp – nhưng những luật sư, y sĩ, kỹ sư còn hiếm lắm. Nếu nước Pháp bỏ mặc chúng tôi một mình, chúng tôi sẽ trở ra sao?”… (bài đã dẫn)

A. E. Babut không tán thành sự xét đoán trên đây của Phạm Quỳnh; ông còn biết nguyên do của thái độ ấy.
“Chúng tôi vẫn biết đã lâu, ông Phạm Quỳnh không ưa, không mến thiếu niên cho lắm. Về việc ấy, có lẽ riêng phần ông, cũng hơi có sự cay đắng do ở sự người ta phạm đến tính tự trọng của ông và làm ông thất ý. Chắc hẳn ông Phạm Quỳnh cũng đã có hy vọng làm hướng đạo cho thiếu niên An Nam. Ông thấy họ không theo ông nên ông đâm ghét.” (bài đã dẫn)

A. E. Babut cho rằng tuổi trẻ xứ này cũng chẳng khác gì tuổi trẻ các xứ khác, vốn có những ý kiến hăng hái, quá đáng, hay ưa những phe đảng quá khích. Ông dẫn lời chính khách Clémenceau: Khi còn trẻ cũng nên có tính ngông cuồng một chút, nên có tính khảng khái, không chịu nhường ai, nên hăng hái, rồi dần dần năm nọ sang năm kia sẽ có tính ôn hòa; đó là cách hay nhất để đến khi lớn tuổi trở nên người có tư tưởng tự do và biết tin theo lẽ phải. Babut cũng biết thanh niên Việt Nam đôi khi tự phụ đến mức khó chịu, muốn thay đổi tất cả, không muốn những thứ thuốc chỉ chữa một vài chứng bệnh, một vài cải cách, mà thường làm như đã có trong tay thứ thuốc chữa bách bệnh; họ muốn tổ quốc họ được tự do hơn tình trạng hiện tại, v.v… Nhưng theo A. E. Babut “Nếu họ lại không có một sự ham muốn gì mới thực đáng lo!” Ông viết tiếp: “Vậy chúng tôi thiết tưởng họ không đáng bị những lời bình phẩm quá nghiêm của ông Phạm Quỳnh. Chúng tôi trách ông Phạm Quỳnh đã không phân biệt kẻ hay người dở. Đối với thiếu niên An Nam ngày nay, ông chủ nhiệm Nam Phong đã nói vơ đũa cả nắm”.

Dịch đăng bài trên đây của A. E. Babut, tuần báo Đông Tây của Hoàng Tích Chu (1897-1933) – vốn tự nhận là “tờ báo của thanh niên” đương thời – ngay từ đầu đã hứa sẽ có lời đáp lại sự xét đoán của Phạm Quỳnh, đồng thời tuyên bố mở rộng cột báo cho tất cả những ai là thanh niên muốn có ý kiến đáp lại nhà “học phiệt” này (“học phiệt” là chữ do nhà báo Phan Khôi mệnh danh cho chủ bút Nam Phong nhân việc ông này lờ đi không đáp lại bài bút chiến của Huỳnh Thúc Kháng, năm 1930, khơi lại cuộc luận chiến về Truyện Kiều từ nhiều năm trước).

Trong không khí làng báo đương thời, không phải ai cũng sẵn sàng lên tiếng; bởi thế, ở những việc thế này, hầu như ai nêu ra việc gì thì phải tự mình theo đuổi việc ấy. Bên cạnh Hoàng Tích Chu, đáng kể nhất là ý kiến Lãng Nhân (Phùng Tất Đắc, 1907-2008) cây bút trẻ của “Đông tây” góp chuyện bằng một bài hài đàm rất ngắn, với một nhan đề diễu nhại: “Ranh con mất dạy!”

“Mãi đến tuổi 36, Nguyễn Công Trứ mới hết đời long đong. Còn trong lúc thiếu niên, cụ chỉ là một anh “công tử sác”. Vậy mà danh tiếng cụ còn lại nghìn thu, cũng chỉ vì mấy câu ca hát buổi hàn vi, đem tài hoa ngầm giận cùng non nước.

Ông Tú Xương chỉ sống có một đời thanh niên, đem cái khí phách ngang tàng mà mỉa mai chế diễu người đời, trăm năm để tiếng con người ngông nghênh.

Racine viết xong vở kịch đầu, đem hỏi ý kiến Corneille; Corneille khuyên Racine nên biết điều thôi hẳn nghề văn tự. Về sau tên Racine rạng rỡ hơn tên Corneille.

Erasme, nhà bác học có tiếng nhất của châu Âu trong thế kỷ XVI, thuở còn nhỏ, ai cũng bảo không có khiếu gì thông minh. Đến nỗi vào làm trẻ hát trong nhà thờ mà cũng phải đuổi vì không đủ tư cách…

Erasme, Racine, Tú Xương, Nguyễn Công Trứ, ví hồi nhỏ có gặp nhà “học phiệt” kia thì tiên sinh kính trắng đã lại bĩu cái môi, tắc cái lưỡi là lẩm bẩm: “Đồ ranh con mất dạy!” (Đông Tây, s. 177, ngày 02 Juin (Tháng sáu – PT chú) 1932)

Sau bài của Lãng Nhân khá lâu không thấy động tĩnh gì từ phía Nam Phong, nên báo Đông Tây thông báo “xếp câu chuyện ấy” lại. Có vẻ như ông chủ nhiệm Nam Phong biết mình đã trót quá lời trước một phóng viên ngoại quốc nên rốt cuộc đành lại lấy im lặng làm giải pháp, dù có thêm một lần cấp chứng cứ cho làng báo mệnh danh mình là người “học phiệt”!

Thế nhưng Trần Khánh Giư (Khái Hưng, 1896-1947) trên tờ Phong Hóa lại lên tiếng trách chủ nhiệm Đông Tây đã từng kiếm cơm ở tờ Nam Phong mà nay lại nói phạm ông chủ của nó! Vậy là Hoàng Tích Chu buộc phải đáp lại: “Tôi đã làm cho Nam Phong. Nếu tôi đã được điều gì ở ông Quỳnh, tôi chẳng từng quên, tôi cũng đã từng nhiều lần nói lên trên báo. Nhưng ông Quỳnh không phải là ông Trời con trọn vẹn mà Kế Thương này [Kế Thương là một bút danh của Hoàng Tích Chu – người viết ghi chú] chưa hẳn là cục thịt đứng yên. Trên trường ngôn luận, trong vòng chánh giới, cái điều hay của người, ta không nên dấu, thì cái dở của người, ta có phép nào che”. (Đông Tây, s. 205, ngày 4&5 Juillet (Tháng bảy – PT chú) 1932).

Tiếp đó, Hoàng Tích Chu viết liền mấy bài ngắn, so sánh Nguyễn Văn Vĩnh với Phạm Quỳnh. Sau khi giải thích với công chúng “tôi xét ông Quỳnh bằng lối người vô học trông người có học, người trẻ tuổi nhìn người nhiều tuổi”, “ấy chỉ là một bài học cho bọn thiếu niên về môn xét người xét việc”, Hoàng Tích Chu thẳng thắn nhận xét: “ông Quỳnh hẹp lượng hơn ông Vĩnh” (Đông Tây, s. 206, ngày 6 Juillet (Tháng bảy – PT chú)  1932); ông Quỳnh lúc là học trò là “học trò chăm học”; lúc là thày ký vẫn là “thày ký chịu học”; khi là nhà báo vẫn là “nhà báo còn học”; đến khi làm quan, làm chính trị gia, vẫn là “nhà chính trị còn có mùi học”… nhưng – theo Hoàng Tích Chu – cũng vì thế mà “cái óc nghĩ của ông Quỳnh không được rộng, nó thật gay go như óc nghĩ của mấy ông đầu hói trong bộ Latinh bên Pháp: ai nói động đến là cuống lên, không mấy khi dự hội, ra phố; ghét nhà báo đến phỏng vấn” (Đông Tây, s. 208, ngày 8 Juillet (Tháng Bảy – PT chú) 1932; s. 209, ngày 9 Juillet  (Tháng Bảy – PT chú) 1932).

Quả là thiệt đơn thiệt kép cho ông chủ nhiệm Nam Phong!

Sau này, trên sách báo ở miền Nam những năm 1960, một số tác giả như Tế Xuyên, Dương Thiệu Thanh… đã nêu lại việc “gây sự” này của tuần báo “Đông tây” với ông chủ nhiệm tạp chí Nam Phong, coi vụ việc này như là cái cớ để tờ Đông Tây bị đóng cửa (sau số 222, ngày 25 Juillet (Tháng bảy – PT chú) 1932), bởi Phạm Quỳnh luôn luôn được nâng đỡ, bênh vực bởi Louis Marty, khi đó đang là cố vấn chính trị của Toàn quyền Đông Dương. Tuy vậy, đấy là một giả thuyết cần được nghiên cứu riêng.

Trở lại câu chuyện Phạm Quỳnh trót đưa ra những xét đoán quá nghiêm khắc đến mức bất công đối với một nhóm thanh niên du học trở về. Rõ ràng đây là một sự quá lời rất tai hại. Có lẽ không chỉ Phạm Quỳnh mà bất cứ người lớn tuổi nào, nhất là những người có tiếng, những chính khách, càng nên nhớ lấy bài học loại này.

16/12/2012.

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: