Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 24, 2013

Lời giới thiệu: Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký (kỳ 1)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:13 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 1 tháng 6 năm 2013.

PHẠM QUỲNH – TUYỂN TẬP DU KÝ:

Lời giới thiệu

Phó giáo sư Tiến sĩ  Nguyễn Hữu Sơn

Lời dẫn của Phạm Tôn: Quý 1 năm 2013, Nhà xuất bản Tri Thức, Hà Nội đã cho ra đời sách Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký do Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm và biên soạn. Chúng tôi xin giới thiệu với quý bạn đọc bộ sách 511 trang này qua Lời giới thiệu của Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn, chia làm hai phần, đăng kỳ 1 và 2/6/2013.

—o0o—

Công trình Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký sưu tập các bài viết của họPham Quynh tuyen tap du kyc giả Phạm Quỳnh thuộc phạm vi thể tài du ký… Giới hạn phạm vi sưu tập, tuyển chọn là các bài viết của Phạm Quỳnh trên Nam phong Tạp chí qua suốt 17 năm tồn tại (1917-1934)…

Học giả Phạm Quỳnh (30.1.1893 – 7.9.1945), còn có các bút danh Thượng Chi, Hoa Đường, Hồng Nhân; sinh tại Hà Nội; quê quán ở làng Lương Ngọc, tổng Ngọc Cục, phủ Bình Giang (nay thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Tên tuổi nhà văn hóa Phạm Quỳnh đã được khẳng định trong nhiều bộ từ điển danh nhân văn hóa, từ điển văn học, công trình nghiên cứu, chuyên khảo, luận văn; đặc biệt từ giai đoạn Đổi mới (1986) đến nay, nhiều tác phẩm quan trọng của ông đã lần lượt được sưu tập, công bố trở lại và được nghiên cứu ngày một sâu sắc hơn: Mười ngày ở Huế (2001), Luận giải văn học và triết học (2003), Pháp du hành trình nhật ký (2004), Du ký Việt Nam – Tạp chí Nam phong (1917-1934), ba tập (2007), Thượng Chi văn tập (2007), Phạm Quỳnh – Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp (2007), Hoa Đường tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ (2011), Phạm Quỳnh – một góc nhìn, Tập I (2011), Tập II (2012), Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc (2012), v.v…

Một cách khái quát, các nhà lý luận xác định: “DU KÝ – Một thể loại văn học thuộc loại hình mà cơ sở là sự ghi chép của bản thân người đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe của chính mình tại những xứ sở xa lạ hay những nơi ít người có dịp đi đến. Hình thức của du ký rất đa dạng, có thể là ghi chép, ký sự, nhật ký, thư tín, hồi tưởng, miễn là mang lại những thông tin, tri thức và cảm xúc mới lạ về phong cảnh, phong tục, dân tình của xứ sở ít người biết đến […]. Dạng đặc biệt của du ký phát huy cái chất ghi chép về miền xa lạ của nó là du ký về các xứ sở tưởng tượng, có tính chất không tưởng hay viễn tưởng khoa học […]. Dạng du ký khác đậm đà phong vị phương Đông là ghi chép cảm tưởng, nhận xét về những nơi danh lam thắng cảnh đất nước […]. Thể loại du ký có vai trò quan trọng đối với văn học thế kỷ XVIII – XIX trong việc mở rộng tầm nhìn và tưởng tượng của nhà văn. Sang thế kỷ XX, du ký mang nhiều tính chất tư liệu khoa học do các nhà địa chất, nhà dân tộc học viết. Loại du ký khoa học cũng rất thịnh hành” (Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, H., 1992)… Định nghĩa trên đây đã khái quát được những đặc điểm cơ bản nhất của du ký – mà chúng tôi duy danh là thể tài du ký. Tuy nhiên, thể tài du ký là một bộ phận văn học còn chưa được chú ý đúng mức. Khi nói đến “thể tài du ký” cần được hiểu nhấn mạnh hơn ở phía đề tài, phía nội dung và cảm hứng nghệ thuật nơi người viết, chứ không phải ở phía thể loại (du ký mang tính quan phương, công vụ; du ký viễn du – những chuyến du hành đến với các nước khác; du ký thiên về khảo cứu danh nhân lịch sử, truyền thuyết và sự tích liên quan tới một địa điểm cụ thể; du ký hướng tới khảo sát, giới thiệu cả một vùng văn hoá rộng lớn; du ký mà yếu tố “vị nghệ thuật” chiếm phần quan trọng, ở đó người viết chấm phá một vài nét phong cảnh thiên nhiên, cuộc sống đời thường bình dị hay thoáng qua niềm vui liên quan đến hoạt động văn hoá, tôn giáo, phong tục, truyền thống lễ hội, lễ nghi, lễ nhạc)… Thu hút vào địa hạt du ký có các sáng tác bằng thơ, phú, tụng và các bài văn xuôi theo phong cách ký, ký sự, phóng sự, ghi chép, khảo cứu, hồi ức về các chuyến đi, các điểm du lịch, các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, sinh thái, kiến trúc, mỹ thuật; thậm chí có thể liên quan tới nhiều phương diện của xã hội học, văn hoá học, khảo cổ học, dân tộc học và văn hoá – văn nghệ dân gian khác nữa… Do đó đã xuất hiện thực tế có tác phẩm nằm ở trung tâm thể tài du ký và nhiều trang viết khác lại nằm ở đường biên hoặc hỗn hợp, pha tạp với những sắc độ đậm nhạt khác nhau, cả về đối tượng, phạm vi đề tài, nội dung hiện thực lẫn phong cách thể loại.

Bước sang thế kỷ XX, thể tài du ký có bước phát triển mạnh mẽ. Khi thực hiện công trình Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong, 1917-1934 (Trung tâm Học liệu ấn hành, Sài Gòn, 1968. Tái bản. NXB Thuận Hoá – Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Huế, 2002), nhà thư mục Nguyễn Khắc Xuyên xác định du ký là một trong 14 bộ môn và nêu nhận xét về thể tài du ký – còn được ông gọi là du hành: “Nhiều khi chúng ta tự cảm thấy, sống trong đất nước với giang sơn gấm vóc mà không được biết tới những cảnh gấm vóc giang sơn. Thì đây, theo tờ Nam phong, chúng ta có thể một phần nào làm lại cuộc hành trình qua tất cả những phong cảnh hùng vĩ nhất, đẹp đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc chí Nam, từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến đảo Phú Quốc, từ núi Tiên Du đến cảnh Hà Tiên và Ngũ Hành Sơn, từ Cổ Loa, Hạ Long đến Huế thơ mộng… Với thời gian, hẳn những tài liệu này càng ngày càng trở nên quý hoá đối với chúng ta… Trong mục Du ký này, phải kể bài Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác, Lại tới Thần kinh của Nguyễn Tiến Lãng; Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam kỳ, và nhất là Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh”…

Thực tế cho thấy các tác phẩm du ký của Phạm Quỳnh khá đa dạng về hành trình, mục đích chuyến đi và mức độ thể hiện tiếng nói trữ tình ngoại đề của chủ thể tác giả. Mặc dù có sự đan xen, giao thoa các sắc thái khác nhau nhưng vẫn có thể chỉ ra những tâm thế, những điểm nhấn, những bảng màu khác nhau trong du ký của ông chủ bút, ký giả, nhà văn hóa, nhà chính trị Phạm Quỳnh. Ở đây có một dòng du ký mang tính quan phương, sự vụ, công vụ. Kiểu du ký này thường do các trí thức, ký giả quan lại ghi chép. Mặt khác, vì Nam Phong Tạp chí chịu sự chỉ đạo và quản lý trực tiếp của chính quyền đương thời nên buộc phải phát ngôn tiếng nói quan phương cũng là điều dễ hiểu. Tuy vậy, các trang du ký này vẫn thể hiện được niềm tự hào dân tộc và cảm xúc chân thành trước vẻ đẹp non sông đất nước. Hơn nữa, từ quan điểm lịch sử mà đánh giá sẽ thấy nhiều trang du ký của Phạm Quỳnh như Cùng các phái viên Nam kỳ (Thượng Chi); Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam kỳ, Pháp du hành trình nhật ký, Du lịch xứ Lào… lại thực sự có giá trị sử liệu để xem xét nhiều sự kiện văn hoá – xã hội và định vị hoạt động tổ chức hành chính của giai tầng công chức thượng lưu dưới thời thực dân phong kiến. Từ rất sớm, Phạm Quỳnh đã viết du ký vừa thể hiện sự hiếu kỳ, niềm vui khi khám phá một điểm di tích danh lam thắng cảnh in đậm sắc màu “vị nghệ thuật”, vừa sớm có những ý kiến đề xuất về cách thức thức tổ chức, điều hành hoạt động văn hoá lễ hội, du lịch như bài Trảy chùa Hương (ký Thượng Chi, in số 23, tháng 5-1919)… Lại có một dòng du ký viễn du – những chuyến du hành vượt biên giới, đòi hỏi cả nguồn kinh phí, yêu cầu công việc và ý chí của người ham hoạt động, ham xê dịch. Đặt trong bối cảnh văn hoá – xã hội đương thời thì các du ký này quả đã mở ra những chân trời nhận thức mới, đưa lại niềm phấn khích bởi những trang ghi chép, miêu tả sống động của người trong cuộc, người trải nghiệm, chứng nghiệm. Vượt ra ngoài biên giới, Phạm Quỳnh có Pháp du hành trình nhật kýThuật chuyện du lịch ở Paris, sau này có thêm Du lịch xứ Lào… Trên thực tế việc phân chia các phương thức, kiểu loại, nội dung du ký của Phạm Quỳnh như trên chỉ có ý nghĩa tương đối. Song dù có khác nhau thế nào thì các tác phẩm du ký của ông vẫn hướng tâm ở phương thức ĐI và XEM, đặt cược vào tính tích cực chủ thể là người trực tiếp Chứng Nghiệm – Trải Nghiệm và vươn tới phẩm chất “vị nghệ thuật” chân – thiện – mỹ cao đẹp, ít nhiều gián cách với thế tục lầm than.

Trong số các du ký viết về Huế hồi đầu thế kỷ thì tiểu loại khảo cứu có ý nghĩa cung cấp thêm tư liệu lịch sử, ghi lại được chính xác nhiều chi tiết, cảnh quan văn hoá xưa mà nhiều mảng màu ngày nay đã phôi pha hoặc không còn nữa. Vào hồi đầu thế  kỷ, do chữ Quốc ngữ phát triển và nhu cầu thông tin, giao lưu văn hoá tăng mạnh khiến cho loại du ký phong tục, ghi chép về lễ hội, tường thuật các  cuộc triển lãm – đấu xảo – chợ phiên có dịp nảy nở… Khác với Hà Nội và Sài Gòn có dân số đông, nền kinh tế phát đạt thì xứ Huế vẫn trang trọng như là một nơi bảo lưu được vẻ cổ kính, truyền thống xưa cũ, xứng đáng là nơi đế đô,  đất “thần kinh”. Học giả Phạm Quỳnh trong bài Mười ngày ở Huế (Nam phong Tạp chí, số 10, tháng 4-1918) đã không chỉ phác thảo cảnh quan xứ Huế mà còn cảm nhận lại được cái “cữ thời gian” hợp lý nhất để đi du lãm lăng miếu, thắng cảnh: “Có người Pháp rất mến cái cảnh những nơi lăng tẩm của ta đã từng nói, muốn đi xem lăng phải đi vào những ngày gió thu hiu hắt, giời đông u ám thì mới cảm được hết cái thú thâm trầm”; hoặc cả chiều sâu kinh nghiệm trong cách lựa chọn kiểu cách và phương tiện đi du lịch: “Đi xem lăng có thể đi xe tay từ Huế, ước mất bốn năm giờ đồng hồ. Nhưng đi xe không bằng đi thuyền, tuy mất nhiều thì giờ hơn mà thú hơn nhiều. Thuyền chèo từ nửa đêm, ước tám giờ sớm mai tới nơi, đi xem suốt một ngày, chiều tối chèo về, nửa đêm đến Huế, cả thảy không đầy hai đêm một ngày mà được nằm nghỉ thảnh thơi ngắm cảnh sông Hương, không mỏi mệt như ngồi trên xe”… Ấy là nói cái thú và tốc độ sinh hoạt của người sống cách hôm nay dư tám chục năm rồi, chứ chuyện tầu xe bây giờ chắc đơn giản lắm! Trong thiên du ký Mười ngày ở Huế, tác giả không chỉ xem cảnh ngắm đền, miêu tả tỉ mỉ ngày lễ Tế giao đích nhật đêm 12 rạng 13 tháng 2 năm Mậu Dần, tức 24 và 25-3-1918 (cũng có đủ cả múa Bát dật, hát Võ thiên uy, Văn thiên đức) mà gắng tìm hiểu chiều sâu phong hoá xứ Huế – những con người vốn là chủ nhân ông của Huế: “Đêm khuya nghe tiếng chuông chùa với tiếng gà gáy xa đưa văng vẳng ở giữa khoảng giời nước long lanh mà cảm đặt thành câu ca cho con trẻ hát, ấy mới rõ tính tình của người xứ Huế. Cho nên ở Huế, phong cảnh đã xinh, những nơi lăng tẩm đã đẹp, mà dễ quí nhất là những nhân vật của xứ Huế vậy. Tôi tiếc vì không ở được bao lâu, trong khoảng mười ngày lấy đâu mà biết cho khắp những bậc danh sĩ cao nhân, thường là người ẩn dật, không phải hằng ngày mà gặp được “… Rồi tác giả dành hơn một trang dẫn chứng về Nữ sử Đạm Phương và dòng văn Nguyễn Khoa, lại đặc cách giới thiệu hai bài thơ Nhớ cảnh núi và thêm bài Nhớ bạn theo lối liên hoàn của bà. Vào khoảng cuối xuân năm 1918, Phạm Quỳnh từng gặp bà Đạm Phương ở Huế đã hết lời ngợi ca bà là bậc “Nữ sử”, “hay thơ”, “Có lắm bài làm theo lối liên hoàn, lối hồi văn khéo lắm. Phu nhân lại có làm thơ Nôm và biết chữ Pháp nữa, hiện đương tập lược dịch một bộ tiểu thuyết Tây”, “Đức ông không được người con giai nào, nhưng được người con gái như phu nhân tưởng cũng là xứng đáng lắm vậy”, “Chính phu nhân cũng có hai cô con gái học Pháp văn đã thông lắm”…

Vào cuối thập niên thứ hai của thế kỷ XX, học giả Phạm Quỳnh cũng đã đến Sài Gòn – Gia Định và để lại những trang du ký sinh động qua tác phẩm Một tháng ở Nam Kỳ (Nam phong Tạp chí, số 17, tháng 11-1918 và số 19+ 20, tháng 1+2-1919). Chuyến đi của ông nhằm ngày 22-8-1918 theo đường tàu biển Hải Phòng, đến ngày thứ tư cập cảng sông Sài Gòn. Qua suốt hai tuần lễ đầu “chỉ chơi quanh ở Sài Gòn, Gia Định”, ông Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Tạp chí Nam phong ở tuổi 25 đã ghi lại cảm xúc và nhận xét sâu sắc về thiên nhiên, con người và cuộc sống, từ con đường đến dinh thự, công sở, từ tác phong làm việc đến hoạt động kinh tế và văn hóa, đặc biệt nhấn mạnh sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Nam Kỳ. Trên mỗi lĩnh vực cụ thể, Phạm Quỳnh thường có những so sánh kỹ lưỡng với thực trạng ở Hà Nội và Bắc Kỳ.

Vừa bước chân đến Sài Gòn, Phạm Quỳnh đã có nhận xét đầy thiện cảm về phong cách nghiêm túc của những người phụ việc: “Quan cảnh sát lên kiểm giấy thông hành, ước một khắc đồng hồ thì cu ly mỗi đứa cái thẻ đồng ở tay ồ vào tranh nhau khiêng đồ hành lý. Tuy vậy coi còn nghiêm hơn cu ly Hải Phòng, vì bọn đó chừng có pháp luật riêng phải theo, không dám làm nhũng”… Chính nhờ có điều kiện đi nhiều nên Phạm Quỳnh có điều kiện so sánh, thấy rõ những sự tương đồng và cái khác biệt, nhấn mạnh cái mới ở vùng đất mới: “Người ta thường gọi Sài Gòn là cái “hạt báu của Á Đông” (la perle de l’Extrême Orient)”. Ông so sánh đường phố, công sở và kiến trúc hai phủ Toàn quyền Sài Gòn – Hà Nội: “Đẹp nhất, coi trang nghiêm nhất là con đường đi thẳng vào phủ Toàn quyền (người Sài Gòn thường gọi là tòa Chánh soái). Hai bên có hai khu vườn trồng những cây lớn, tối trông như hai đám rừng nhỏ, ở giữa một con đường rộng chạy thẳng băng tự đầu tỉnh đằng kia cho tới ngang cửa phủ. Coi thật là có bề thế, có vẻ tôn nghiêm, xứng đáng với một nơi tướng phủ. Mà phủ Toàn quyền ở đây, qui mô cũng đẹp hơn ở Hà Nội. Phủ Toàn quyền Hà Nội tựa hồ như một đống gạch xếp vuông, trông có vững vàng bền chặt mà nặng nề biết bao nhiêu! Ở Sài Gòn thì như hình chữ đinh, nét ngang trên là chính dinh, nét sổ dưới là các tơ tào. Mặt trước ở gian giữa có bậc lên, hai bên hai con đường dốc quanh lại như hình bán nguyệt, trông ra cái vườn rộng thênh thang, giữa có bãi cỏ phẳng lì như một tấm thảm xanh, trên chỉ trồng hai khóm trúc in nhau như hệt”; so sánh hai dinh Đốc lý: “Nhưng đẹp nhất là nhà Thị Sảnh Sài Gòn… Kiểu đại khái cũng giống như các nhà thị sảnh bên Tây, trên có cái chòi vuông mấy từng cao chót vót… Chẳng bì với nhà Đốc lý Hà Nội ta, thật so sánh mà thẹn thay. Mà Hà Nội lại là nơi thủ đô của Đông Dương… Xin các ông hội viên phải lưu tâm đến sự đó, thật là có quan hệ cho danh dự Hà Thành ta”…; so sánh hai nhà thờ: “Nhà thờ Sài Gòn tuy không có cái nền đá cao như nhà thờ Hà Nội mà có hai cái tháp nhọn cao ngất trời, những khi trời sáng sủa đi tự ngoài Vũng Tàu (Cap Saint Jacques) cũng trông rõ”…; so sánh hai khu chợ: “Còn Chợ Mới Sài Gòn cũng có cái nhà chòi ở cửa giữa thật là vĩ đại, vừa cao vừa vững vàng lực lưỡng, coi như một cái pháo đài vậy. Mà trong chợ thì rộng mênh mông, chợ Đồng Xuân Hà Nội chẳng thấm vào đâu”… Rồi Phạm Quỳnh hào hứng so sánh trên tổng thể: “Nói tóm lại, cái hình thức của thành phố Sài Gòn sánh với thành phố Hà Nội còn hơn nhiều. Từ cách đặt đường phố cho đến cách dựng cửa nhà, từ cách thắp đèn điện cho đến cách đặt máy nước ở các nhà, cho đến cách tuần phòng vệ sinh trong phố xá, nhất nhất đều có tiến bộ hơn Hà Thành ta cả. Ở Sài Gòn thật là có cái cảm giác một nơi đô hội mới, nghĩa là một nơi đô hội theo lối Tây. Vào đến Chợ Lớn thì lại ra cái cảm giác một nơi đô hội theo lối Tàu. Còn các châu thành khác ở lục tỉnh thì những nơi quan sở là Tây mà chốn phố phường là Tàu, phần An Nam thật ít lắm. Xét về phương diện đó thì những đô hội Bắc Kỳ tuy coi cũ kỹ mà còn có cái vẻ An Nam hơn. Người khách ngoại quốc nào sang du lịch đây, nếu không có cái chủ ý quan sát phong tục người dân thì ở Sài Gòn sướng tiện hơn, nếu muốn biết cái chân tướng sự sinh hoạt dân An Nam thì cứ đi chơi qua phố phường Hà Nội cũng đủ làm một cái kho khảo cứu không cùng. Tuy vậy, các tỉnh thành khác không nói làm gì, mà Hà Nội đã là nơi thủ đô của Đông Dương thì về phần hình thức mới cũng không nên kém Sài Gòn mới là phải. Nếu cái hình thức mới cũng đủ mà cái đặc sắc cũ vẫn còn thì mới thật là xứng đáng vậy”…

Đi sâu khảo sát thực địa và kiểm lại vốn tri thức lịch sử, Phạm Quỳnh lược tả địa giới Sài Gòn – Gia Định: “Gần Sài Gòn có tỉnh lỵ Gia Định cách đô thành một cây lô mét. Có con đường lớn đi vòng quanh… Nay có con đường xe lửa nhỏ, qua Gia Định, Gò Vấp, tới Hóc Môn. Đất Gia Định là đất cổ nhất ở Nam Bộ, có quan hệ lịch sử bản triều nhiều lắm. Khi bản triều mới khai thác xứ Nam dựng cơ sở ở đấy. Rồi sau Đức Cao Hoàng ta hưng đế nghiệp, đánh Tây Sơn, đặt Nam trấn cũng ở đó. Cho nên trước kia cái tên Gia Định thường dùng để chỉ chung cả đất Nam Kỳ vậy”… Đồng thời ông miêu tả kỹ lưỡng vị trí và đặc điểm “hai cái cổ tích có tiếng” là Lăng Ông (tức mộ và đền thờ Tả quân Lê Văn Duyệt) và Lăng Cha Cả (chỉ kiến trúc lăng mộ và bài văn bia Giám mục người Pháp Bá – đa – lộc, nguyên tên là Pierre Joseph Georges Pigneau de Behaine, thường viết Pigneau de Behaine, 1741-1799 )…

Trong những ngày ở Sài Gòn, Phạm Quỳnh cảm thấy phấn chấn, tin tưởng: “Cho nên cái cảm giác của người mới bước chân tới đây là cái cảm giác vui, vui mà tin cậy ở cái tương lai, chớ không phải buồn mà thương tiếc cho sự ký vãng”… Trước hết là niềm vui và sự tin cậy nơi con người, những bậc trí giả đầy năng lực, những đồng nghiệp cần mẫn, năng động, những người cùng chí hướng mới lần đầu gặp mặt mà như quen thân tự bao giờ. Trong khoảng một tháng, Phạm Quỳnh đã gặp các ông chủ bút Nam Kỳ tân báo (Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phú Khai), gặp cha con chính khách Diệp Văn Cương – Diệp Văn Kỳ và nhiều vị quan chức khác. Nhân thăm các bạn nhà báo, Phạm Quỳnh nêu rõ quan niệm và chức phận nghề làm báo cùng tình bằng hữu Bắc Nam: “Mấy bữa sau đi thăm các bạn “đồng nghiệp”, tức là các anh em làm báo ở Sài Gòn. Gặp ông nào cũng được chuyện trò vui vẻ lắm, mới biết kẻ Nam người Bắc tuy ít dịp gần nhau thân nhau, mà mỗi lần biết nhau, thật là dễ nên cái tình thân ái vậy. Cho hay người một nước một nhà, dẫu xa cách mà cũng là anh em, miễn là đối với nhau lấy lòng thành thực, đừng có cái thói ghẻ lạnh người thường, thì khó gì mà chẳng nên thân mật được? Huống bọn mình lại cùng theo đuổi một nghề, tức là cái nghề khua chuông gõ mõ trong quốc dân, đem những lời hay lẽ phải mà bàn bạc với bạn đồng bào, mong gây lấy một mối tư tưởng cảm tình chung, mưu cho nước nhà giống nhà sau này được cường mạnh vẻ vang, có ngày được mở mặt mở mày với thế giới, thì cái mục đích cao xa ấy há lại không đủ khiến cho ta đồng tâm hiệp lực mà cùng nhau đạt cho tới ru?”… Quan sát hoạt động báo chí, Phạm Quỳnh xác định: “Báo giới trong Nam Kỳ thạnh lắm, phát đạt hơn ngoài Bắc nhiều. Hiện có đến mười tờ báo bằng quốc ngữ… Cứ lấy cái “lượng” (quantité) mà xét thì thật đủ khiến cho Bắc Kỳ, Trung Kỳ phải thẹn với Nam Kỳ rằng về đường ngôn luận còn chậm kém xa quá”… Tiến thêm một bước, Phạm Quỳnh lý giải những khác biệt và ưu thế của vùng đất sách báo Nam Kỳ từ chiều sâu đặc điểm cơ sở kinh tế – văn hóa và tâm lý xã hội: “Ta vừa nói nghề làm sách: nghề làm sách ở Nam Kỳ cũng thịnh lắm, có phần lại thịnh hơn nghề làm báo nhiều. Tuy vài năm gần đây đã bớt đi nhiều mà trong khoảng năm năm mười năm về trước, cái số những sách quốc ngữ xuất bản ở Sài Gòn không biết bao nhiêu mà kể… Song có một điều nên chú ý, là báo nhiều như thế, sách nhiều như thế, mà bán được chạy, có nhiều người mua, thời cũng là một cái chứng rằng dân Nam Kỳ có tính ham đọc sách và có tiền thừa mua sách. Như vậy là nếu có những báo thiệt tốt, sách thiệt hay cho mà đọc thì ích lợi biết bao nhiêu. Chẳng bù với dân Bắc Kỳ, Trung Kỳ, trăm người chưa được một người đọc thông chữ quốc ngữ, mười người đọc thông chữ quốc ngữ chưa được một người thích xem văn quốc ngữ, lại thêm dân nghèo, bỏ ra mấy đồng bạc mua báo một năm đã lấy làm một món tiền nặng; đến những bậc sĩ phu thì phần nhiều những quẩn quanh trong vòng danh lợi mà sao nhãng những việc văn chương; nghề làm báo làm sách thật không được đủ điều tiện lợi như Nam Kỳ. Cho nên khá tiếc thay cho những bậc trí thức trong Lục châu không biết khéo lợi dụng cái cơ hội tốt ấy mà đặt để ra những sách vở hay có ích cho phong hóa, nỡ để cho cái lòng ham đọc sách của người dân ấy ngập vào những sách vở hoặc vô vị, hoặc tầm bậy không ra gì, thật uổng quá”…

Không chỉ ở Sài Gòn – Gia Định, Phạm Quỳnh còn hăng hái đi thăm mấy tỉnh miền tây, trải khắp Mỹ Tho, Cái Bè, Vĩnh Long, Sa Đéc, Long Xuyên, Cần Thơ và thức nhận biết bao điều mới mẻ về đời sống xã hội, cảnh quan, cư dân, ngôn ngữ, phong tục, tập quán con người nơi đây… Sau cuộc du ngoạn, sau tất cả những điều tai nghe mắt thấy và trở về xứ Bắc, nhà văn hóa Phạm Quỳnh đi đến đoạn kết như một lời ước nguyện: “Tôi càng đi du lịch trong Nam Kỳ lại càng thấy cái cảm giác rõ ràng rằng người Nam người Bắc thật là con một nhà, nếu biết đồng tâm hiệp lực thì cái tiền đồ của nước Nam ta không thể nào hạn lượng cho được. Tôi xin đốt lửa thắp hương mà cầu nguyện cho cái mối đồng tâm ấy ngày một bền chặt, thật là may mắn cho nước nhà lắm lắm”…

N.H.S.

(Còn tiếp một kỳ)

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: