Pham Ton’s Blog

Tháng Sáu 6, 2013

Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Sơn công nhận ngày sinh và ngày mất của Thượng Chi – Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:20 chiều

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 3 tháng 6 năm 2013.

Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn công nhận

ngày sinh và ngày mất của Thượng Chi – Phạm Quỳnh là 30/1/1893 – 7.IX.1945

Blog PhamTon

Blog PhamTon chúng tôi thật xúc động khi đọc trong Lời giới thiệu của Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn dòng chữ “Học giả Phạm Quỳnh (30.1.1893 -7.9.1945)” , trang 7, sách Phạm QuPham Quynh tuyen tap du kyỳnh – Tuyển tập du ký (NXB Tri Thức, quí I năm 2013).

Đây là lần đầu tiên trong sách báo viết về Phạm Quỳnh ghi nhận như vậy. Và người đầu tiên công nhận sự thật ấy chính là Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn, người đã sưu tầm và biên soạn tập sách này. Ông cũng là người đã sưu tầm và biên soạn bộ Du ký Việt Nam (tạp chí Nam Phong 1917 – 1934) ba tập dầy dặn (NXB Trẻ, 2007).

Không phải chỉ các nhà sử học, các nhà nghiên cứu văn học mới ngạc nhiên khi đọc thấy như vậy, mà cả đông đảo bạn đọc nữa, vì khác hẳn những gì họ đã thường đọc trong sách, báo ngót bảy mươi năm qua.

Để bạn đọc khỏi bỡ ngỡ, với thông tin mới này, chúng tôi xin cung cấp ba tư liệu tham khảo như sau, mong phần nào có ích cho các bạn quan tâm đến Thượng Chi – Phạm Quỳnh bấy lâu nay.

I/ Tư liệu thứ nhất: Bài Phạm Quỳnh sinh ngày 30/1/1893 của Dã Thảo trên Blog PhamTon tuần 2 tháng 1 năm 2013

Phạm Quỳnh sinh ngày 30 tháng 1 năm 1893

Theo tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, con gái thứ sáu trong mười sáu người con của Phạm Quỳnh, định cư và mất tại Pháp, tác giả Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (Introduction au Nam Phong), thì có ba “thuyết” về giấy khai sinh của Phạm Quỳnh.

“Trong Tạp chí Văn Học (Sài Gòn, tháng 10 năm 1972, trang 7) Phan Kim Thịnh có kể lại một cuộc tiếp xúc với bà Phạm Thị Hảo, chị ruột tác giả. Theo ông và căn cứ theo giấy thế vì khai sinh thì Phạm Quỳnh sinh ngày 1 tháng 12 năm 1892. Thực ra trong gia đình tôi có ba thuyết về giấy khai sinh. Sự kiện bất nhất là do trước đây, ngày sinh không được khai ngay, khiến sau đó mọi chi tiết đều căn cứ vào giấy “thế vì khai sinh” thiết lập nhờ các chứng nhân. Có một điều hiển nhiên mà chúng tôi là con, còn nhớ rõ: cha mẹ chúng tôi sinh cùng một năm và năm đó là năm Nhâm Thìn.”

The can cuoc Pham QuynhTrong thẻ căn cước của Phạm Quỳnh (trong hình dưới đây) làm tại Hà Nội ngày 13/3/1918 (trước khi đi Pháp-1922-bốn năm, còn giữ búi tó củ hành) lại cho biết ông sinh ngày 17/12/1892.

Còn theo Phạm Trọng Nhân, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng chú, anh họ bà Phạm Thị Ngoạn, định cư và mất tại Pháp, người dịch cuốn sách của bà Ngoạn Introduction au Nam Phong ra tiếng Việt, thì:

“Theo như tác giả cuốn Introduction au Nam Phong, ông Nguyễn Thọ Dực, trong một bài giới thiệu luận án đó đăng trong Etudes interdisciplinaires sur le Viet Nam Sài Gòn 1974, cho biết ông được biết rõ ngày sinh của Phạm Quỳnh vì hồi làm việc ở Triều đình Huế, ông có dịp lấy số tử vi cho Phạm Quỳnh và theo ngày tháng âm lịch Phạm Quỳnh đã  cho biết thì Phạm Quỳnh sinh vào ngày 30 tháng 1 năm 1893 tức 18 tháng chạp Nhâm Thìn. Theo tác giả Tìm hiểu tạp chí Nam Phong mà cũng là con gái Phạm Quỳnh thì “thuyết” sau này đúng hơn cả, vì cũng là một năm nhâm thìn như cả gia đình đều nhớ rõ. (cũng do Nguyễn Thọ Dực cho biết thì bà Phạm Quỳnh sinh ngày 2 tháng 2 năm 1892)”

Trích Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong, bản dịch tiếng Việt của Phạm Trọng Nhân, NXB Ý Việt, Yerres, Pháp, 1993, trang 60

 Chúng tôi xin nói rõ thêm mấy điều sau: Ông Nguyễn Thọ Dực sau này làm Trưởng ban Hán Nôm, trực thuộc phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa chính quyền Sài Gòn. Ngày giờ sinh được chính Phạm Quỳnh đưa cho ông thì chắc chắn là đúng vì có muốn biết số phận của mình thế nào thì ông mới nhờ xem tử vi, không ai lại nói sai bao giờ, nhất là với một người có đầu óc nghiên cứu khoa học và tính vốn cẩn thận như Phạm Quỳnh. Trước thời gian vào Nam năm 1955, ông Nguyễn Thọ Dực có ở tạm nhà bà chị dâu Phạm Thị Giá, là con gái trưởng của Phạm Quỳnh, ở nhà số 16 phố Hàng Da Hà Nội. Bà Giá lúc này hoạt động công tác phụ nữ khu phố, thường họp hành, có khi phải phát biểu ý kiến này nọ. Bà hay bảo cậu con trai viết thay cho bà các bài đó. Nhưng một lần, bà cần phải phát biểu về đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì cậu con xin chịu. Vừa lúc ấy, ông Nguyễn Thọ Dực đi qua, biết chuyện, ông nhận viết giúp. Bà Giá bảo bài này cần gấp thì ông xin cho giấy bút rồi ngồi vào bàn viết ngay một bài dài mấy trang giấy khổ to, về sự tích đức Phật Thích Ca Mâu Ni, trong đó đầy rẫy những năm, tháng và những chữ Nho phiên âm chữ Phạn, có phiên âm nguyên gốc bằng chữ La-tinh trong ngoặc, như Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni), Thái tử Tất Đạt Đa (Siddharta), bộ tộc Thích Ca (Sakya), vua Tịnh Phạn (Suddhahana) và Ca Tì La Vệ (Kapilavastu),… mà không hề có trong tay một sách, vở hay tài liệu tra cứu nào. Mẹ con bà Giá đều thán phục trí nhớ phi thường của ông Nguyễn Thọ Dực và chính bà Giá đã kể lại tỉ mỉ cho chúng tôi nghe và còn cho xem cả bài ông Nguyễn Thọ Dực viết nữa.

Vì thế chúng tôi tin chắc chắn là ông Nguyễn Thọ Dực nói đúng, Phạm Quỳnh sinh ngày 30/1/1893

Sau này, tình cờ chúng tôi được đọc tập Tử vi nghiệm lý, của Thiên Lương, trong các trang từ 137 đến 140 viết về Phạm Quỳnh lại có cả lá số tử vi do tác giả lập cho Phạm Quỳnh. Trang 137 có đoạn viết: “Có một ông bạn đưa ra lá số tuổi Nhâm Thìn sanh ngày 26 tháng 12 giờ Dần, nói là số của nhà học giả Phạm Quỳnh”.

Như vậy là vợ chồng đồng tuổi Nhâm Thìn, nhưng bà sinh đầu năm Thìn, ông sinh cuối năm (18/12). Điều này càng củng cố thêm lập luận rằng Phạm Quỳnh sinh đầu năm 1893.

*

*     *

II/ Tư liệu thứ hai: Trích bài Người nặng lòng với nước của Phạm Tôn (Tạp chí Công giáo và Dân tộc số 140 tháng 8 năm 2006 và tạp chí Xưa và Nay số 267, tháng 9 năm 2006)

“Tháng 2 năm 1956, nhân gia đình Ngô Đình Diệm cho người đi tìm và cải táng cha con Ngô Đình Khôi, ông Phạm Tuân, con út và bà chị là Phạm Thị Hảo đi theo để nhận di hài cha, đã biết thêm nhiều điều, do gặp nhiều nhân chứng còn sống. Nơi giam giữ cuối cùng là xưởng ép dầu tràm của bác sĩ Viên Đệ ở Cổ Bi cách làng Văn Xá 5km về phía Tây. Làng này lại cách thành phố Huế 15km, về phía Bắc trên đường Huế đi Quảng Trị. Đó là một nơi xa xôi, khó đi lại. Để tìm kiếm hài cốt, chính quyền Sài Gòn phải huy động công binh phát quang, san ủi đất làm đường, bắc cầu…trên hơn 15 km cho xe hơi đi và điều động binh sĩ giữ an ninh quanh vùng. Người canh gác xưởng kể: một đêm đầu tháng tám ta, trăng lưỡi liềm, khoảng mười một giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra, cho ăn cơm. Khó ăn, ba người xin ít nước mưa chan cho dễ nuốt. Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò. Người chèo đò kể: đi quanh đi quất trên sông Bồ, gần một giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người. Người chèo đò không được lên bờ, chỉ nghe thấy tiếng thét lớn bằng giọng Bắc “Quân sát nhân!” sau đó là ba phát súng. (Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân đều nói giọng đặc Huế). Rõ ràng, cho đến trước khi bị giết, Phạm Quỳnh vẫn không hề nghĩ là những người đã hi sinh xương máu đồng chí đồng bào để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc lại đi giết hại một người suốt đời nặng lòng với nước như ông. Chúng chỉ là những “quân sát nhân” mà thôi.

            “Một người nấp trong bụi cây gần đấy thấy Phạm Quỳnh bị đánh vào đầu bằng xẻng, cuốc rồi mới bị bắn ba phát. Ngô Đình Khôi không bị đánh chỉ bị bắn ba phát. Ngô Đình Huân hoảng sợ vùng chạy, bị bắt lại, rồi bị bắn ngay vào đầu.16 “Cả ba bị xô xuống mương rồi vội vàng lấp đất”. Phạm Quỳnh ở dưới cùng, đầu hướng về phía núi, Khôi và Huân nằm đè lên, đầu hướng về phía sông. Khi cải táng, ông Phạm Tuân thấy sọ của thân phụ có một vết nứt ngang như vết cuốc, xẻng đánh mạnh vào, “ba bộ hài cốt nằm chồng chất lên nhau…Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh tôi nhận ra được đôi mắt kính cận” ([i]Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bangMinesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ))

            “Theo các nhân chứng chứng kiến vụ sát hại thì sự việc diễn ra vào đêm trăng non mồng một tháng tám năm Ất Dậu, tức rạng sáng ngày 7/9/1945, chỉ sau ngày nước ta tuyên bố độc lập có năm ngày”

*

*     *

III/ Tư liệu thứ ba: Phạm Quỳnh trong bách khoa toàn thư mở Wikipedia (Blog tuần 3 tháng 5 năm 2013)

PHẠM QUỲNH TRONG BÁCH KHOA TOÀN THƯ MỞ WIKIPEDIA

Blog PhamTon

Năm 2011, Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA nổi tiếng thế giới long trọng tổ chức  kỷ niệm 10 năm ra đời, đã thực hiện bằng hơn 30 thứ tiếng với lượng truy cập hàng chục triệu lượt người.

Tháng 4/2013, chúng tôi mở mục Phạm Quỳnh trong Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA ra đọc thì thấy có nhiều đổi mới, phong phú hơn trước rất nhiều. Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 01:50 ngày 16 tháng 3 năm 2013.

Phạm Quỳnh sinh ngày 30-1-1893 tại nhà phố Hàng Trống, Hà Nội. Phạm Quỳnh côi cút được bà nội nuôi ăn học. Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng. Sau khi đỗ đầu bằng thành chung (tốt nghiệp) Trường Trung học Bảo hộ (tức Trường Bưởi), năm 1908, Phạm Quỳnh làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ. Làm chủ bút Nam Phong tạp chí từ 1/7/1917. Ngày 2/5/1919, ông sáng lập và là Tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Năm 1922, với tư cách đại diện cho Hội Khai Trí Tiến Đức, ông đã sang Pháp dự Hội chợ Triển lãm Marseille, rồi diễn thuyết cả ở Ban Chính Trị và Luân lý Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục. Năm 1924, được mời làm giảng viên khoa Bác ngữ học, Văn hóa, Ngữ ngôn Hoa Việt Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ bút báo France – Indochine. Từ 1925 – 1928 là hội trưởng Hội Trí Tri Bắc Kỳ. 1926 làm ở Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ, đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương. 1930, đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải lập hiến pháp, qui định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ. Năm 1931, được giao chức phó hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội. Năm 1932 giữ chức tổng thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.

11/11/1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua, ông được triệu vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại, làm Ngự tiền văn phòng, Thượng thư Bộ Học, cuối cùng giữ chức Thượng thư Bộ Lại (1944-1945).

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, ông về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên sông Phủ Cam, Huế. Ông bị Việt Minh bắt ngày 23/8/1945 và giam ở lao Thừa Phủ. Sau đó, bị giết cùng nguyên tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi và con trai là Ngô Đình Huân. Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú và được cải táng ngày 9/2/1956 trong khuôn viên chùa Vạn Phước, Huế.

Riêng phần nhận định, đầu tiên là của Hồ Chí Minh: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này”. Tiếp đó là: “Trong báo cáo ngày mồng 8 tháng 1 năm 1945 gửi cho Toàn quyền Decoux và cho Tổng đại diện Mordant, ông Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn đã báo cáo về Phạm Quỳnh như sau:

“Vị Thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí chống sự bảo trợ của Pháp và cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình… Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung KỳBắc Kỳ) khước từ chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng…”.

Khâm sứ Trung Kỳ Healewyn

“…Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập Hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884 nghĩa là chỉ đóng vai trò bảo hộ còn công việc trong nước thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng phải vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, Phạm Quỳnh được cấp 600 đồng một tháng. Món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ là để đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884. Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng trái với ý mình để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra được truyện Kép Tư Bền tả một anh kép nổi tiếng về bông lơn đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà lên sân khấu nhà hát làm trò cười ngay cái tối cha mình đang hấp hối”.

Nguyễn Công Hoan (Đời viết văn của tôi- NXB Văn học Hà Nội năm 1971).

 “Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ tù đày các nhà yêu nước (…). Nhưng mặt khác ông lại có công chuyển tải văn hóa Đông – Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỷ XX, công lao đó đáng được ghi nhận”.

Giáo sư Văn Tạo

Về gia đình, ghi rõ ông có một vợ là bà Lê Thị Vân (1892-1953) và 16 người con, ba người mất từ nhỏ.

Toàn bộ mục Phạm Quỳnh tám trang A4. Phần Ngày sinh và mất viết:

Về ngày sinh của Phạm Quỳnh

Theo ông Nguyễn Thọ Dực, trưởng Ban Cổ văn, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa chính quyền Việt Nam Cộng hòa thì hồi làm việc ở triều đình Huế, ông có được Phạm Quỳnh cho biết ngày sinh để nhờ lấy số tử vi là ngày 13 tháng Chạp năm Nhâm Thìn, tức 30/1/1893. Không ai cho ngày sinh sai để lấy số tử vi cả. Cho nên, ngày này là chính xác nhất trong số các ngày sinh đã được biết của Phạm Quỳnh khai ở nơi này nơi khác.

Về ngày mất của Phạm Quỳnh

  • Sách Từ điển Văn học bộ mới (2004), ghi mất ngày 20 tháng 8 năm 1945.
  • Một số tài liệu ghi mất ngày 23 tháng 8 năm 1945, đúng ngày có người mời ông đến chính quyền Việt Minh làm việc.
  • Một số tài liệu chép ông mất vào sáng ngày 6 tháng 9 năm 1945 (tức ngày 1 tháng 8 năm Ất Dậu; sau 14 ngày bị Việt Minh bắt).
  • Năm 1956, hai con của Phạm Quỳnh là bà Phạm Thị Hảo (1920) và Phạm Tuân (sinh năm 1936) hiện định cư tại Hoa Kỳ được theo đoàn tìm mộ cha con Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân, anh và cháu Ngô Đình Diệm để tìm di hài cha. Theo lời các nhân chứng thì Phạm Quỳnh bị hạ sát vào đêm 6 rạng ngày 7 tháng 9 năm 1945, khoảng 1 giờ sáng, có trăng câu liêm, tức ngày 1 tháng 8 năm Ất Dậu.

 Phần Liên kết ngoài, đầu tiên có ghi rõ: Blog chuyên viết về Phạm Quỳnh cung cấp nhiều tư liệu chưa được biết đến (http://www.phamquynh.wordpress.com)

Và chúng tôi vui mừng nhận thấy trong mục này, Bách khoa toàn thư mở WIKIPEDIA đã sử dụng khá nhiều thông tin, tư liệu từ Blog PhamTon chúng tôi

B.P.T.


16,17 Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bangMinesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ)

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: