Pham Ton’s Blog

Tháng Sáu 27, 2013

Văn bình luận, nghiên cứu, lý luận văn chương trên Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:33 chiều

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 1 tháng 7 năm 2013.

 

Văn bình luận, nghiên cứu, lý luận văn chương trên Nam Phong tạp chí

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thuận

Trưởng khoa Ngữ văn Đại học Hải Phòng

(Bài đăng trên các trang 40-46, tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học- Viện Khoa học Xã hội

Việt Nam, số tháng 5/2013)

Sau 18 năm tồn tại (1917-1934), với 210 số (thật ra là 211 số, ra cả số Tết Mậu Ngọ 1918 – PT chú), Nam Phong tạp chí là tờ tạp chí có vị trí chủ đạo trong tiến trình hiện đại hóa văn học nước nhà giai đoạn đầu thế kỷ XX. Ngay từ năm 1942, trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: “Nam Phong tạp chí sinh sau Đông Dương tạp chí bốn năm, nhưng sống lâu hơn và ở vào một thời thích hợp nên ảnh hưởng về đường văn chương đối với quốc dân Việt Nam đã to tát hơn nhiều” (Vũ Ngọc Phan: Nhà văn hiện đại, tập 1, NXB Văn Học, H., 1998, tr.119). Một trong những phương tiện cơ bản mà Nam Phong tạp chí đã làm được, góp phần không nhỏ vào tiến trình hiện đại hóa văn học và đưa văn học Việt Nam hội nhập với văn học thế giới, đó là tờ tạp chí “đã nhập tịch cho văn chương nước ta hầu hết các loại văn chương: tiểu thuyết, kịch, luận thuyết, phê bình” (Phạm Quỳnh – Tuyển tập và di cảo (1992), Phạm Thị Hoàn soạn, An Tiêm, Paris, tr.378). Chính những thể loại văn chương này đã làm nên sự đổi thay to lớn cả về tính chất và diện mạo của văn chương nước nhà trong ba, bốn mươi năm đầu thế kỷ XX. Ngoài một số bài dịch đăng của các tác giả nước ngoài nhằm giới thiệu, định hướng về lý thuyết cho các cây bút nước ta tiếp cận với văn lý luận, nghiên cứu, phê bình của văn chương phương Tây và Trung Quốc ở mấy số đầu, Nam Phong tạp chí đã cho đăng nhiều công trình, bài viết về thể loại văn lý thuyết của các cây bút nghiên cứu, lý luận được xem là “tiên phong” của nước ta. Thống kê cho thấy Nam Phong tạp chí đã cho đăng 63 bài ở các lĩnh vực cụ thể như sau: Văn bình luận, phê bình văn chương có 13 bài; Văn nghiên cứu có 46 bài; Văn lý luận có 4 bài.

Sự giao thoa giữa các thể loại khiến việc phân biệt cho thật rạch ròi giữa các bài nghiên cứu, phê bình, bình luận và thậm chí cả các bài lý luận về văn chương đăng trong tờ tạp chí này chỉ là tương đối.

  1. Ngay từ số 1 (tháng 7 năm 1917), mục “Văn học Bình luận” đã được thiết kế với bài bình luận đầu tiên của Phạm Quỳnh: Một bộ tiểu thuyết mới: “Nghĩa cái chết”, phê bình tiểu thuyết của nhà văn Pháp Paul Bourget. Sau khi phân tích tác phẩm, tác giả đã hé lộ mục đích của việc bình luận văn học: “Cái mục đích chúng tôi trong những bài bàn này là muốn giới thiệu những sách văn chương hay của Âu châu cho người nước ta biết… Cho hay cái quốc văn ta mới nở còn non nớt chưa đủ sức mà ra vẫy vùng trong bể ngôn luận. Bởi vậy mà ta phải luyện cho nó cái tư cách ấy. Bài này cũng tức là một bài luyện tập như thế”. Liền mấy số tiếp sau là các bài: Nghĩa gia tộc (số 2,tr.89-92), Bình phẩm sách mới: tập thơ Một tấm lòng của Đoàn Như Khuê (số 2, tr.123-125); Bàn về bộ tiểu thuyết Vua bể của Eugène Menchior De Vogue (số 3, tr.159-167); Mộng hay mỵ, bình luận về tập Giấc mộng con của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (số 7, tr.23-25) và Pháp văn tiểu thuyết bình luận: Phục thù cho cha của Paul Bourget, tất cả cũng đều là của tác giả Phạm Quỳnh. Ông quả là một chủ bút uyên bác, “có thể bàn luận một cách vững vàng và sáng suốt bất cứ về một vấn đề gì” (Lê Thanh: Nghiên cứu và phê bình văn học (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn). NXB Hội Nhà văn – Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, H.2002, tr.462).

Ngòi bút Phạm Quỳnh thường vượt ra ngoài phạm vi bình luận tác phẩm cụ thể để hướng tới khái quát các vấn đề của lí luận văn học, chẳng hạn, nhân Bàn về bộ tiểu thuyết Vua bể, ông đề cập đến đề tài của một tác phẩm tiểu thuyết: “Cái phạm vi của tiểu thuyết thật là không có nhất định: có khi rất hẹp, mà có khi rất rộng; có khi chỉ chủ một người, chỉ khu trong một nhà, một xóm, có khi gồm cả thế giới” (số 3, tr.159); về bút pháp miêu tả trong tiểu thuyết: “Phàm tiểu thuyết hay phải tả được cái tình trạng trong xã hội cùng cái tâm lý trong người ta. Muốn tả cái tình trạng hiển nhiên, phải có nét bút tài hoa, nhời văn sán lạn, mới diễn được hết những cảnh phiền phức trong đời người, muốn giải cái tâm lý u âm, phải có con mắt sáng suốt, trí nghĩ thâm trầm mới gỡ được hết những mối phân vân trong tình tính. Hai đằng đều phải có tài mới được, nhưng cái tài trên lưu lộ ra ngoài, mà cái tài dưới uẩn súc ở trong. Lộ ra ngoài thì dễ đẹp, ẩn ở trong mới cảm sâu”. Những chỉ dẫn này đối với người sáng tác vào thời điểm bấy giờ hẳn có rất nhiều bổ ích!

“Văn học Bình luận” còn có các bài bình luận văn học Việt Nam: thơ nôm với Nam âm thi thoại của Chương Dân (các số 8, 10, 11, 17), Nam âm thì văn khảo biện (số 18, 19, 20…) của Nguyễn Hữu Tiến, và hai bài Quốc âm thi văn tùng thoại (số 173, 176) của tác giả Sở Cuồng… Những bài viết này cũng cung cấp những tiền đề lí thuyết trong việc tìm hiểu thơ ca dân tộc cho lí luận văn học sau này. Thao Chương Dân, “thi thoại là một lối trước thuật chuyên nói về chuyện làm thi. Trong một quyển thi thoại thường cóp nhặt những câu thi hay và thỉnh thoảng cũng có phần bình phẩm phán đoán, cốt để cho lưu truyền những câu đắc ý của văn sĩ tao nhân, mà mong rằng thi giới nhờ đấy cũng có phần phát đạt” (số 8, tr.80). Còn trong Nam âm thi văn khảo biện Nguyễn Hữu Tiến cho rằng: “Văn chương quốc âm nước ta tuy bắt chước Tàu mà làm ra cũng nhiều lối, nhưng có lối riêng hẳn của ta là thượng lục hạ bát, đó mới thực là thơ quốc phong của tổ quốc ta truyền lại đã từ mấy ngàn năm nay” (số 18, tr.340). Ông “khảo biện văn chương nước ta từ thời Trần trở xuống và xác định có “ba thời đại: 1. Phôi thai thời đại, 2. Phát đạt thời đại; 3. Toàn thịnh thời đại”. Các bài viết này đã cung cấp cho độc giả một khối lượng thơ văn cùng với những lời thẩm bình khá xác đáng.

Có thể nhận thấy, với hơn 110 trang của những bài viết trong phần văn bình luận, phê bình văn chương trên Nam Phong tạp chí thuở mới khai sinh chịu ảnh hưởng từ lối phê bình của văn phương Tây khá rõ nét. Lối cảm thụ, thẩm bình truyền thống cùng với lối diễn đạt của văn biền ngẫu cũng mất dần. Tính lý luận văn học gia tăng. Đặc biệt, các khái niệm, thuật ngữ đã được người viết xác định rõ. Đó chính là sự khác biệt so với các bài thẩm bình văn chương của các tác giả thời trung đại.

  1. Văn nghiên cứu trên Nam Phong là bộ phận có nhiều thành tựu đáng kể. Các bài viết thể hiện sự công phu, nghiêm túc, tinh thần trách nhiệm của người viết, góp phần làm tăng tính học thuật cho tạp chí. Có thể phân loại các bài theo đối tượng nghiên cứu như sau:

Nghiên cứu văn chương thế giới có cả thảy 9 bài, gồm: Văn học Hy Lạp của Nguyễn Mạnh Bổng (số 4, tr.226-229; số 5, tr.297-300; số 6, tr.372-373; số 8, tr.82-84); Pháp văn thi thoại viết về Baudelaire của Phạm Quỳnh (số 6, tr.367-371); Bàn về hý kịch của ông Moliére do Thượng Chi (tức Phạm Quỳnh – PT chú) biên dịch (số 35, tr.377-395); Khảo về các lối văn Tàu của Đông Châu (số 72, tr.480-484); Một nhà danh sỹ nước Pháp – ông Maurice Barrès của Thượng Chi (số 81, trang 176-186); Một nhà đại thi sỹ Ấn Độ của Trương Trúc Đình, viết về nhà thơ Rabindranath Tagor, (số 83, tr.396-405); Lược khảo về văn học sử nước Pháp do Hồng Nhân (tức Phạm Quỳnh – PT chú) biên dịch (đăng trên 4 số: số 92, 96, 102, 112); và Văn mới của người Tàu của Nguyễn Tiến Lãng (số 210, tr.319-323).

Nghiên cứu về thơ của Baudelaire, Phạm Quỳnh chỉ ra hai mối quan hệ giữa cảm hứng sáng tạo của nhà thơ với hình thức thể hiện của bài thơ: “Đã có cảm hứng thì tất tìm được âm điệu xứng đáng; không có cảm hứng thì dẫu âm điệu hay, chẳng qua cũng mới là thợ, chưa gọi là thơ được. Thường nhận ngày nay những hạng “thợ thơ” thực là nhiều, mà nhà thi nhân thì thực là ít” (trang 368). Rồi ông khẳng định: “Và xưa nay tình tứ lạ với nhời thơ hay vẫn là do một nguồn mà ra vậy” (tr.369). Viết về Tagor, Trương Trúc Đình dẫn nhập: “Nhà thi sĩ là người tưởng tượng kỳ diệu, nhãn lực dị thường và có tài đem diễn ra lời văn đẹp đẽ, cảm sâu và động xa. Nhưng một nhà đại thi sĩ không những thế mà thôi, lại phải kiêm cả địa vị một nhà triết học, nhà luân lý nữa”. Để từ đó, sau phần giới thiệu và phân tích tư tưởng nghệ thuật của Tagor, tác giả khẳng định: “Ánh sáng bao giờ cũng phát hiện ở Đông phương”, như người Âu châu đã nói, và cũng như người Nhật, ông gọi Tagor tiên sinh là nhà “Đại biểu văn hóa Á Đông”.

Các bài nghiên cứu văn chương nước ngoài trên chắc chắn đã giúp độc giả nước ta thời đó mở rộng nhãn quan nghệ thuật, góp phần đưa văn học nước ta hội nhập với văn học thế giới ngay từ những năm đầu thế kỷ XX.

(Còn một kỳ)

N.Đ.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: