Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 5, 2013

Thăm ông Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:55 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 2 tháng 7 năm 2013.

NĂM NAY THƯNG CHI-PHM QUNH TRÒN 120 TUI (1893-2013)

THĂM ÔNG PHẠM QUỲNH

Nguyễn Văn Kiêm

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài đăng trên Nam Phong số 174 – Juillet (Tháng Bảy – PT chú) 1932 trang 25-29. Khi đăng, Nam Phong có chú thích sau: “Bài này của ông Nguyễn Văn Kiêm ở Nam-trung gửi ra đã mấy tháng nay, bản-chí có ý ngần ngại không muốn đăng, nhưng sợ phụ lòng tác giả, là một bạn nhiệt thành của quốc văn và của bản-chí bấy lâu nay. Vậy kỳ này đăng báo, duy có bỏ bớt đi mấy đoạn có ý quá khen –N.P.”

—o0o—

Sài Gòn hạ tuần tháng 11 năm 1931

Một nhà khách sạn lớn gần mé sông Sài Gòn.

–          Phòng số… Phía nào?

–          Đây. Có ông ở nhà đây.

Người coi phòng vội gõ cửa, cánh cửa mở hé sẵn.

Phía trong có tiếng cho vào. Lại có tiếng giày đi rất mạnh.

–          Ông là ông Phạm?

–          Ông Kiêm?

Ông Phạm Quỳnh hỏi tôi như thế, rồi cười và cùng đi vào trong, phía gần cửa sổ, được trông ngọn mấy cây me dưới đường. Hôm nay trời tỏ rõ, cảnh vật bao quanh đều vui lòng chào đón ánh sáng buổi sớm.

Tôi lâu nay, tuy được xem mấy bức thơ tự tay ông viết, được ông tỏ lòng thương đến, nhưng gặp ông lần thứ nhất này không khỏi lúng túng bỡ ngỡ. Thế mà thấy ông tiếp đãi niềm nở quá, nên các mối bỡ ngỡ đều theo khói mây mà tiêu tan hết cả.

Ông Phạm nói:

–          Mời ông ngồi đây.

Rồi thì cứ nói chuyện, trong lòng tôi thật vui vẻ quá. Có mấy khi kẻ Nam người Bắc mà được gần như thế này!

*

*   *

Tình cờ mà tôi nhớ chuyện ông Vương Dương Minh. Nào ông Vương Dương Minh đã dấu ai điều gì, cắt nghĩa chú thích sách vở cũng không dấu ai điều gì. Mà ngày nọ có người học sinh đến tìm ông để hỏi nghĩa câu: Học hi thánh hi hiền, là phải học như thế nào?

Vương tiên sinh hỏi: – Thầy đi đường khó nhọc không, có hao tiền của không, có đau ốm không?

Người học sinh đáp là có.

Ông nói: – Thầy quyết định đến thăm tôi, gặp nhiều sự khó khăn mà rồi cũng đến thăm được. Nay thầy muốn học, rồi cũng học được, không cần hỏi han gì thêm nữa, v.v…

Tài ông Phạm Quỳnh dễ đâu dám sánh tài ông Vương Dương Minh, là bậc học giả cả cõi Viễn Đông đều phải tôn sùng.

Tài của bỉ nhân đây dễ đâu dám sánh tài thày học sinh cao đẳng vừa kể chuyện ở trên.

Tuy thế, nhưng tôi cũng tự hỏi: tư tưởng, ý kiến ông Phạm Quỳnh đã dãi bày hơn mười năm nay trên các báo chí. Nay còn mong được nghe điều gì mới lạ nữa mà đến thăm ông, chẳng khéo mà làm một việc ngông cuồng!

Thôi thì đành không học thêm điều mới lạ, nhưng dầu chỉ được biết dung nhan ông cũng là một điều mới lạ đó.

Tôi ở Tân An, cả hơn một tháng trước chưa rõ Đại hội nghị kinh tế tài chánh Đông Pháp sẽ họp ngày nào, lại chưa rõ ông Phạm có vào Sài gòn không.

Vì có chút việc nhà, nên tôi đến Sài Gòn thì Đại hội nghị đã khai mạc bữa trước. Lại đấy, tìm ông Phạm, giữa mấy ngày hội nghị họp kín, thật là bỡ ngỡ (tôi chưa có tài như các phóng sự viên mấy báo lớn bên Âu châu).

Tôi gửi bức điện tín xin yết kiến. Ông trả lời hẹn ngày ấy, giờ ấy…

*

*    *

Ông Phạm đội khăn đen, mặc áo trắng dài. Người ông cao lắm, mà vai thật khòm. Mặt rỗ hoa mè, con mắt lanh lẹ, cận thị và thật sâu. Đem sánh sức khỏe với các danh sĩ Tây phương thì sức ông Phạm còn kém. Ở xã hội nước Nam, sức khỏe như ông vừa đến mức trung bình, nên liệu mà tăng tiến thêm lên. Sức khỏe chưa nhiều, cũng còn là tướng nhà nho, nhưng đi đứng nhậm lẹ, nói chuyện lớn tiếng, chẳng khác người Tây phương.

Gương mặt ông hiền lành, đầy đủ, có lẽ ngày nay ông có da có thịt hơn khi vào Nam kỳ lần trước nhất, vào năm 1919 vậy.

Lâu nay, tôi đọc câu của Herbert Spencer: “Đời nay, cá nhân muốn đắc thắng, điều kiện thứ nhất mình phải là con vật mạnh (un bon animal)” Tôi nghĩ câu ấy là hay, tôi nghĩ là làm việc lớn điều thứ nhất là cái sức mạnh vậy.

Nay trông thấy gương ông Phạm, thật tôi không lầm.

Nhưng cái tinh thần lại cũng là hoạt bát lắm, đó là lẽ cố nhiên.

Ông đương ăn điểm tâm, trên bàn có mấy quyển sách, mấy bức địa đồ, ông đã cúi xuống bàn mà xem khi nẫy, khi tôi chưa bước vào.

Ông Phạm hỏi:

–          Ông còn ở Hà tiên không? Có đổi đi Tây ninh không?

Tôi có bệnh, về nghỉ ở Tân an. Không quyết là bệnh chi, nhưng trong ngực yếu lắm.

Ông nói:

–          Người ông ốm quá, mất máu nhiều. Ông có xem sách, dịch sách cho giải phiền?

–          Việc xem sách chẳng phải giải phiền thôi, lại phải lo học, mà học thì phải học hằng ngày. Tôi không biết học thế nào.

–          Theo ý tôi, thơ văn, mĩ thuật, tình cảm phải là của mình. Còn khoa học, nghĩa lý là của chúng. Nên học về sách nghĩa lý. Mình chưa có sách quốc văn mà không học sách Pháp văn sao được. Nhưng tiểu thuyết thì không thích lắm. Tiểu thuyết là đạo tình, thuyết lý, mà thuyết lý theo phong tục hoàn cảnh người ta, người ta chưa thực hành mà mình thực hành sao được?… Tôi có viết thơ cho ông Phác, nói tôi sẽ vào Sài gòn. Ông Phác có cho ông xem thơ chăng?

–          Tôi về Tân an đã lâu rồi. Ông Phác mắc phận sự, có lẽ không lên Sài gòn lúc này được. Khi ông vào Sài gòn tiễn quan A. Varenne, hai chúng tôi muốn đến thăm ông, mà không đi được.

Ông Phạm nói:

–          Tôi tính đi Đế thiên Đế thích (Angkor). Có thể ghé Hà tiên được không? Hà tiên bao xa?

–          Cách Sài gòn hơn 340 cây số.

–          Phải gần như Mĩ tho tôi đi được. Tôi không được rảnh lắm. Trễ lắm là ngày 10 tháng 12 tôi phải về Hà nội, có việc nhà. Phải chi không có vấn đề rượu, tôi cũng không về Sài Gòn. Vấn đề này sẽ tính xem sao, chớ hôm nay ở các tiểu ban (sous-commission) thì An Nam thua rồi.

Ông hỏi thăm tuổi, tôi nói ông Phác 26 tuổi, tôi 30. Còn chính ông ngoài 40 (thế thì, khi ông ra chủ trương báo Nam Phong, ông vừa 24 tuổi; vừa khi ấy mà đã học thâm ba thứ chữ, kể cũng là giỏi). Con đầu lòng của ông, thầy học sinh Phạm Giao, được 20 tuổi hiện còn đương đi học. Ông Nguyễn Văn Ngọc là thông gia ông Phạm, và là bạn học của ông ngày trước.

Ông Phạm nói số báo Nam Phong bán ở Nam gần bằng ngoài Bắc.

Tôi nói:

–          Ông Nguyễn Phan Long, ông Lê Quang Liêm thật đã yêu mến tài ông lắm. Hồi ông Lê Quang Liêm tạm làm chủ báo La tribune indochinoise (Diễn đàn Đông Dương –PT chú) và Đuốc nhà Nam thì cho lục đăng cả mấy bài của ông về Vấn đề lập hiến cho nước Nam, cả quốc văn, cả Pháp văn.

Còn báo L’Echo Annamite (Tiếng vọng An Nam) ngày trước đăng bài của ông cũng thường (Sau này tôi xem mấy bài của ông bàn về nền sơ học Việt Nam “À propos de l’enseignement primaire annamite (Về nền sơ học An Nam – PT chú), E.A. novembre décembre (Tháng 11, 12 –PT chú) 1922” thì trên đầu bài có mấy câu giới thiệu của ông Nguyễn Phan Long, khen là lời bàn có lý và viết Pháp văn thật hay).

Về việc học quốc văn ở Sơ đẳng học, lời thỉnh cầu của ông Nguyễn Phan Long, ông Bùi Quang Chiêu mới đây (Tập thỉnh cầu đưa quan tổng trưởng Thuộc địa) cũng tựa như ông.

Ông Phạm nói:

–          Lời xin của mấy ông cũng giống, thế là chúng tôi đồng ý nhau cả về cái vấn đề quan trọng đó, tôi lấy làm mừng.

Đang nói về việc học ở nước Nam, tôi lại nói sang việc Hạ nghị viện bên Pháp.

Ông Diagne khi trước là một chức quan nhỏ ở sở Bưu điện, nhưng là người có tài lắm. Sau này ông ra làm nghị viện bên Pháp. Hồi chiến tranh ông cổ động khéo, số lính tình nguyện vui lòng ra chốn đường tên mũi đạn rất nhiều. Ở hội Vạn quộc bàn bạc về vấn đề lao động, ông Diagne bênh vực quyền lợi nước Pháp rất tài.

Kẻ đồng hương, là cựu quan cai trị René Maran, hết sức phản đối ông.

Nước Việt Nam hiện còn phải cái tệ mua lá thăm. Nay yêu cầu cho người Nam được cử nghị viên Hạ nghị viện, không biết có kén được người tài không, việc cử nghị viên ấy có ích chi không. Tôi hỏi ông Phạm về mấy điều đó, ông cũng có ý hoài nghi.

Kế đó nói đến chủ nghĩa quốc gia.

Ông Phạm nói:

–          Nước Nam không theo chủ nghĩa quốc gia sao được? Việc cần cấp nhất bây giờ là phải làm sao in cái tư tưởng quốc gia vào trong óc mọi người. Khuyên dân sao phải thương nước, thương nhà, mà không phải là không tòng quyền Chính phủ Bảo hộ.

–          Điều ấy cần dạy lắm. Hiện nay cho đến người học Cao đẳng, cũng còn lắm người kiếm được nhiều tiền thì thôi, việc nhà việc nước mặc ai ai, có không?

–          Tôi cũng thấy như vậy. Tự minh không làm gì, mà người ta làm thì hay chê.

Tôi hỏi về cách làm việc, ông Phạm nói:

–          Có hai cách: một là bạo động, hai là ôn hòa. Bạo động thì lụy đến thân mà cũng vô bổ cho nước. Trứng trọi với đá sao được? Vả lại có người nào khá bị tù tội mất cả thì “nước như bị chặt mất đầu” (la nation décapitée de son élite), theo như lời ông Garros dã nói, còn làm gì được nữa. Nhưng ôn hòa không phải là nhu nhược. Ôn hòa là xử vào cái tình thế khó khăn thời phải châm chước với thời thế, với cơ hội, được chút nào hay chút ấy, dần dần dà dà, nhật tẩm nguyệt tí, rồi cũng có ngày đạt tới mục đích. Nhưng ôn hòa là ôn hòa ở cái phương tiện làm việc, chứ chủ nghĩa thì vẫn phải giữ cho vững. Ôn hòa có khi khó hơn bạo động…

Đương nói về chính trị, liền nói đến câu chuyện học quốc văn, câu chuyện dùng quốc văn để dạy học, là một điều ông Phạm rất nhiệt thành chủ trương bấy lâu nay.

Tôi nói:

–          Ông Nguyễn Văn Liễn, hiền thúc tôi, muốn xin phép yết kiến ông và mời ông diễn thuyết về vấn đề tiếng nói, vấn đề tiếng cơ quan.

–          Tôi sợ không rảnh. Tôi đi đây không sẵn các tài liệu. Nhưng không sao, nói tóm lược cũng được.

Tôi còn hỏi thăm ông Phạm nhiều điều nữa, hỏi về gia đình ông, biết ông thuở nhỏ linh đinh cô khổ nhiều lắm, chỉ thân lập lấy thân, một mình học tập mà được như bây giờ; hỏi về các bạn trong báo quán, như ông Đông Châu, ông Tùng Vân, ông Đồ Nam, ông Sở Cuồng, v.v… Nhất thiết ôn đều trả lời một cách rất ân cần, tỏ ra một người ôn tồn nhã nhặn lắm.

Ông cũng hỏi han về nhà tôi, về công việc riêng tôi, về cái chí thú của tôi, tôi cũng thành thực cảm động mà đáp lại.

Trời đã trưa, dưới đường xem đã vắng người. Tôi vẫn biết trưa, nhưng mảng say mê câu chuyện mà không thấy đói.

Theo phép nói chuyện, một tiếng đồng hồ là vừa. Tôi ngồi lâu, thật cũng biết mình trái phép. Nhưng tôi đã hỏi trước nên biết rằng chủ nhân không bận việc chi, tôi càng ở lâu lại càng nghe thêm nhiều việc.

Ông Phạm hẹn chiều hôm sau ông được rảnh, nhờ đưa ông Nguyễn Văn Liễn lại chơi. Có lẽ sẽ gặp quan Thiếu Hoàng Trọng Phu.

*

*   *

Ông Nguyễn Văn Liễn và tôi đi đúng giờ đã hẹn. Hôm ấy, được tiếp kiến quan Thiếu Hoàng, cũng là một dịp may. Nghe đâu ngài nho học tây học đều có, và lại có bụng thương dân. Ngài đã đứng tuổi, ít hay nói, và khi nói thì nói mau lắm.

Bữa ấy, chú tôi và ông Phạm nói về các sách tự điển Larrousse, Littré, và Việt Nam tự điển của hội Khai Trí Tiến Đức.

Còn định hỏi nhiều điều nữa, nhưng thấy hai ngài sắp đi thăm các ông bạn, nên đành phải kiếu về mà trong lòng tiếc lắm.

*

*   *

Bữa trước, ông Phạm Quỳnh có cho tôi quyển Thi ca Việt Nam (La Poésic annamite, toàn chữ Pháp, và hai số báo France-Indochine, cùng Ngọ báo có đăng bức thư ngỏ trình quan Tổng trưởng Thuộc địa.

Sách trên này, đầu hết là bài Thi ca Việt Nam đã diễn thuyết ở Paris, bản dịch mười bài Khuê phụ thán, nguyên quốc văn đã đăng số Nam Phong 21. Còn mấy bài khác, có bài tôi đã được đọc trong Nam Phong, cùng là chưa được đọc khi nào.

Ông Phạm nói bức thơ đăng trong Ngọ báo, chính ông dịch, và đăng được nguyên văn. Còn mấy ngày trước, các báo khác trong Nam ngoài Bắc có dịch đăng, nhưng không được trọn, và cũng không đúng.

Lâu nay tôi vẫn biết cái tài diễn thuyết của ông Phạm, nhưng chưa được nghe ông nói bao giờ.

Kỳ này, tôi được nghe ông đọc suốt bài Bức thư ngỏNgọ báo, thì kể như được nghe diễn thuyết vậy.

Ông Phạm đọc bức thư ngỏ. Đọc rõ ràng, mạnh bạo, vừa đọc vừa liếc thính giả. Liếc không dứt mà nhanh lắm. Đọc giòn dã, tôi không thể hình dung ra được. Đọc được vài câu thì nói vì cớ sao ông viết câu nọ, vì cớ sao ông viết câu kia.

Các cớ ấy đều ẩn trong Nam sử, chớ không đâu lạ.

Cái giọng đọc văn giòn dã, tươi tỉnh của ông còn văng vẳng trong tai tôi.

Chữ:  Bẩm quan lớn, ông đọc dấu hỏi nghe ra dấu nặng. Chữ: quả, trong câu: âu là quả kiếp nhân duyên, nghe cũng thế.

Mấy câu rất có ý nghĩa trong bài như các câu:

“Nay đem cái lý tưởng ấy mà đối chiếu với chân tướng thì thấy phát sinh ra một sự khủng hoảng thâm trầm, khó giải ra được, nó làm cho lòng chúng tôi thổn thức và trong tâm trí như có điều lo nghĩ mơ màng.

“Thành ra một sự đau đớn phiền muộn, cứ bề ngoài thì tưởng không có cớ gì, nhưng thực là bởi cớ dân chúng tôi nhờ quí quốc bảo hộ mà đã được tấn tới hơn trước…”

Lại như câu:

“Về phương diện quốc gia thì sự khủng hoảng ấy có thể nói tóm lại một câu như sau này: Chúng tôi là một dân tộc đương đi tìm tổ quốc mà chưa thấy tổ quốc ở đâu.

“Bẩm quan Tổng trưởng, tổ quốc ấy đối với chúng tôi không thể là nước Pháp được. Lời nói đó xin ngài đừng mếch lòng”.

“Vậy thời thuộc về phần người An Nam chúng tôi, chúng tôi chỉ thỉnh cầu quan lớn có một điều, một điều rất là thiết tha quan hệ hơn cả các điều khác, là xin ngài cho chúng tôi một cái tổ quốc để chúng tôi thờ…”

Các câu quan hệ như thế, thì tôi không hề quên được.

*

*   *

Mấy giờ tiếp chuyện ông Phạm, gặp đâu nói đấy, dường như không đầu không  đuôi. Như cảm tình chan chứa, như bấy lâu khao khát mới được gặp, nên nay ghi chép lấy, dù không có mạch lạc văn chương, cũng là chút kỷ niệm để lại, xin độc giả lượng cho.

N.V.K.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: