Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 5, 2013

Trường hợp Phạm Quỳnh: Bốn chặng đời Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:42 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 2 tháng 7 năm 2013.

TRƯỜNG HỢP PHẠM QUỲNH

Thanh Lãng

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trong Từ điển Văn học – Bộ mới (NXB Thế Giới, Hà Nội, 2004) Trần Hải Yến viết: “Thanh Lãng (23 –XII-1924 – 17-XII-1978). Linh mục, nhà giáo dục, nghiên cứu văn học Việt Nam. Tên thật là Đinh Xuân Nguyên, sinh tại Tam Tổng, Nga Sơn, Thanh Hóa.

(…) Thời kỳ chuyên tâm nhất cho văn chương (1960-1975) Thanh Lãng đã viết (…) tập trung vào các vấn đề: lịch sử phát triển chữ quốc ngữ và quá trình hình thành văn chương quốc ngữ, chương trình giảng dạy văn chương trong nhà trường, ngoài ra, ông còn chú ý đến một số tác giả văn chương, báo chí như Nguyễn Du, Nhất Linh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh… Những bài viết đó cho thấy tác giả hết sức quan tâm đến lịch sử phát triển của văn học dân tộc, đặc biệt là thời kỳ chữ quốc ngữ bắt đầu hình thành. (…) Hai quyển (Thượng và Hạ) của Bảng lược đồ Văn học Việt Nam tuy chỉ được viết “rất sơ lược” “các nét chính của văn học Việt Nam, tức là các thời kỳ hay thế hệ văn học cùng các trào lưu tư tưởng, trào lưu tình cảm, trào lưu nghệ thuật và những chứng nhân tiểu biểu nhất, đại diện nhất của mỗi trào lưu”, nhưng đây lại là đóng góp lớn hơn cả của tác giả cho cách nhìn và phương pháp viết lịch sử văn chương (…) Do được tiếp cận với văn hóa phương Tây, lối nghiên cứu của Thanh Lãng nổi rõ chất lý trí tỉnh táo và căn cứ tư liệu thực tế”.

(…)

Để cung cấp cho các bạn quan tâm đến Thượng Chi – Phạm Quỳnh, chúng tôi sẽ trích đăng dần bài viết đặc sắc, công phu của giáo sư Thanh Lãng nhan đề Trường hợp Phạm Quỳnh, đã đăng trên tạp chí Văn Học, xuất bản tại Sài Gòn, các số 3,4,5,6 trong các tháng 1,2,3,4 năm 1963. Đây là một tư liệu nhiều bạn cần mà nay rất khó kiếm. Chúng tôi chỉ lược bỏ một ít đoạn nay xét thấy không cần thiết và đặt nhan đề cho từng phần trích đăng để bạn đọc dễ theo dõi. Mong các bạn thông cảm.

—o0o—

3. BỐN CHẶNG ĐỜI PHẠM QUỲNH

Một điểm khác hình như không được giáo sư Nguyễn Văn Trung lưu ý là việc phân biệt những chặng đời hoạt động của Phạm Quỳnh.

Đời Phạm Quỳnh có thể chia làm bốn chặng khác nhau:

Chặng thứ nhất tính từ 1913 đến 1917.

Chặng hai tính từ 1917 đến 1932.

Chặng ba tính từ 1933 đến 1945.

Chặng bốn tính từ ngày đảo chính Nhật 9/3/1945 đến ngày Phạm Quỳnh bị sát hại vào khoảng tháng 9 cũng năm 1945.

Ở chặng nhất (1913-1917), trong lúc giữ chân nhân viên trường Viễn Đông Bác Cổ, Phạm Quỳnh có cộng tác với Nguyễn Văn Vĩnh chuyên giữ mục dịch thuật sách Pháp ra tiếng Việt và viết những bài biên khảo có tính cách thuần văn học, bộc lộ cái băn khoăn của một nhà văn hóa trẻ tuổi trước sự xung đột, kình địch giữa hai thế hệ già với trẻ…

Ở chặng hai (1917-1932) Phạm Quỳnh tham gia đủ mọi hoạt động cả văn hóa lẫn chính trị. Năm 1919, ông lập hội Khai Trí Tiến Đức và giữ chân Tổng thư ký mãi cho đến năm 1932.

Năm 1920, ông giữ chân hội viên tư vấn Hội đồng thành phố Hà Nội.

Năm 1922, ông được cử đi dự cuộc triển lãm thuộc địa ở Marseille và giữ chân thuyết trình viên.

Năm 1924, ông giữ chân giảng viên môn bác ngữ học và văn chương Hán Việt tại trường Đại Học Hà Nội.

Năm 1925, làm chủ tịch Hội Khuyến học Bắc Kỳ.

Năm 1926, hội viên Hội đòng Tư vấn Bắc Kỳ.

Năm 1929 được bầu làm Phó chủ tịch Đại hội đồng kinh tế và tài chánh Đông Pháp.

Năm 1930, giữ thêm chức Phó chủ tịch Hội Địa dư Hà Nội và Tổng thư ký Hội Bảo trợ xã hội Bắc Kỳ.

Nhưng hoạt động chính yểu nổi bật của Phạm Quỳnh ở cái chặng thứ hai này (1917-1932) là hoạt động văn hóa, làm chủ tờ báo Nam Phong tạp chí.

Ở chặng ba (1933-1945), Phạm Quỳnh đôi lúc có còn cầm bút, nhưng hoạt động chính yếu là làm chính trị, làm Thượng thư của Triều đình Huế.

Ở chặng bốn (từ tháng ba đến tháng chín năm 1945), chẳng hiểu đã chán chính trị hay chưa, mà ta thấy bề ngoài ông như thôi mọi hoạt động chính trị. Từ sau ngày đảo chánh Nhật, lật đổ chính quyền Pháp, Phạm Quỳnh sống cuộc đời  ẩn dật trong một căn nhà hẻo lánh trên bờ sông An Cựu (Huế).

Sau khi dã ghi nhận các sự kiện trên đây, ta có thể đặt ra nhiều giả thuyết và cần phải giải quyết được các nghi vấn đặt ra thì mới khẳng định được công tội của Phạm Quỳnh.

– Rất có thể Phạm Quỳnh là tay sai của Pháp ngay từ chặng đầu, hồi mới bắt đầu viết cho Đông Dương tạp chí. Riêng chúng tôi thì xin thú nhận là chưa nắm được trong tay một tài liệu nhỏ nào có thể biện minh cho giả thuyết buộc tôi Phạm Quỳnh là tay sai của Pháp.

– Rất có thể, như giáo sư Nguyễn Văn Trung đã quả quyết, là ở chặng đầu, Phạm Quỳnh mới chỉ được người Pháp lưu ý và, vì sau này, từ khi ông được giao phó cho việc điều khiển tờ Nam Phong, Phạm Quỳnh mới trở nên tay sai của Pháp, làm văn hóa trong chính sách ngu dân của Pháp với mục đích đánh lạc ý hướng đấu tranh quốc gia.

– Rất có thể lúc đầu Phạm Quỳnh chỉ làm văn hóa thuần túy, rồi dần dà, về sau này, chính Phạm Quỳnh đã nảy ra ý định dùng cơ quan ngôn luận Nam Phong để lấy lòng thực dân hòng mua chuộc chức vị trong tương lai.

– Cũng rất có thể là Phạm Quỳnh đã chơi ngược lại đòn chính trị của Pháp, lợi dụng chính kế hoạch Pháp đề ra để lập mặt trận văn hóa mà Phạm Quỳnh có thể coi là không kém tầm quan trọng đối với mặt trận quân sự.

Nếu giả thuyết này là đúng thì kế hoạch của Phạm Quỳnh là chính sách trường kỳ.

– Cũng rất có thể là Phạm Quỳnh tự lượng sức mình chẳng làm nên anh hùng kiệt quái gì cho quê hương đất nước được, thì ít ra cố cứu vãn cái gì có thể cứu vãn được, cố làm một cái gì ích lợi cho dân tộc, còn hơn là bó tay, nằm ỳ ra đấy (Chúng tôi nhấn mạnh – PT).

– Cũng rất có thể là Phạm Quỳnh chỉ là một người say mê với văn hóa, thích văn chương, coi nghề viết văn như là một nhu cầu, một thúc bách chứ chẳng có ngầm ý làm lợi cho chính trị Pháp hay chính trị quốc gia – chính trị hiểu theo nghĩa đấu tranh.

Nguyên về hoạt động của Phạm Quỳnh ở chặng thứ hai, tức là trong thời làm Nam Phong, từ 1917 đến 1932, đã có thể đặt ra ngần ấy giả thuyết.

Sang đến chặng thứ ba của cuộc đời Phạm Quỳnh (1932-1945), ta còn có thể đặt nhiều giả thuyết khác nữa.

– Có thể là buổi còn làm Nam Phong, Phạm Quỳnh có ý hướng quốc gia, nhưng từ ngày vào Huế, bị lôi cuốn theo danh lợi và địa vị, Phạm Quỳnh đã trụy lạc bỏ mất lý tưởng của buổi đầu để làm tay sai cho Pháp.

– Có thể là chủ trương buôn dân bán nước của Phạm Quỳnh đã có từ xửa xưa mà nay mới có cơ hội được tích cực thực hiện.

– Cũng có thể là Phạm Quỳnh đã nhảy vào triều đình Huế với tất cả thiện chí muốn làm một cái gì cho dân tộc, mà rồi hoàn cảnh đã làm cho ông vỡ mộng, tiến chẳng được mà thoái cũng chẳng xong. Cuộc đời làm quan của Phạm Quỳnh như vậy là một đời gò bó, miễn cưỡng, giả dối, đau đớn.

– Cũng có thể là Phạm Quỳnh muốn lợi dụng địch, dựa vào chính sách của địch để làm áp lực bắt địch phải thi hành các thỏa hiệp và các lời hứa hẹn đầy nhân đạo của Pháp (Chúng tôi nhấn mạnh – PT).

Làm sao hiểu được tâm sự của Phạm Quỳnh?

Thực là khó khăn! Tuy nhiên thái độ có vẻ chán chính trị được bộc lộ qua thái độ sống rút lui, ẩn dật trên bờ sông An Cựu, hình như biện minh phần nào cho Phạm Quỳnh.

Phạm Quỳnh lúc ấy không tham gia chính phủ Trần Trọng Kim, không chạy theo thực dân Pháp, không theo một phe phái cách mạng nào, mà cũng chẳng gia nhập mặt trận Việt Minh. Hơn thế nữa, xem ra Phạm Quỳnh sống có vẻ vô tư, không lo sợ gì sự ám hại của các phe phái. Chứ nếu Phạm Quỳnh là tay sai của Pháp hay nhất nữa là mật thám của Pháp, thì thân phận Phạm Quỳnh tưởng chẳng đến nỗi sống lẻ loi để rơi vào tay Việt Minh một cách quá dễ dãi như vậy. (Chúng tôi nhấn mạnh – PT).

Sau khi đã duyệt qua bốn chặng đời của Phạm Quỳnh và đặt đủ mọi giả thuyết, chúng tôi thú nhận chưa có đủ dữ kiện để nghiêng theo hẳn giả thuyết nào.

Đây chưa phải là vấn đề thẩm định cả cuộc đời hoạt động của Phạm Quỳnh, chưa phải là lúc nhìn Phạm Quỳnh bằng một cái nhìn tổng lược. Vấn đề đặt ra ở đây là nhìn Phạm Quỳnh vào đúng năm 1924 là năm Ngô Đức Kế viết bài Chánh học cùng tà thuyết… để đả kích Phạm Quỳnh. Lý do ra đời của bài Chánh học cùng tà thuyết… của Ngô Đức Kế chỉ có thể lấy làm nguyên cớ cuộc đời của Phạm Quỳnh từ 1924 trở về sau này được.

Theo giáo sư Nguyễn Văn Trung, Ngô Đức Kế trong bài Chánh học cùng tà thuyết, “không nhằm phê bình thái độ văn học của Phạm Quỳnh mà là tố cáo, đả kích thủ đoạn chính trị nấp dưới hình thức văn hóa suy tôn Truyện Kiều.” Cũng theo giáo sư Nguyễn Văn Trung thì đối với Ngô Đức Kế, Phạm Quỳnh “là người đầu hàng thực dân, theo Pháp”.

Chúng tôi không dám chối là điều ấy không thể không có trong đầu óc của Ngô Đức Kế. Có thể Ngô Đức Kế có ý tưởng cho Phạm Quỳnh đầu hàng thực dân, theo Pháp, cũng có thể là Ngô Đức Kế không có ý tưởng ấy. Có thể là nhận định của Ngô Đức Kế đúng với sự thực mà cũng có thể sai lệch. Tìm ra tâm sự đích thực của Ngô Đức Kế là một chuyện, thẩm định giá trị khách quan của tâm sự ấy lại là một chuyện khác.

Tại đây ta hẵng thử hỏi xem cho đến năm 1924, cuộc đời của Phạm Quỳnh đã có những gì có thể khiến Ngô Đức Kế ghép ông vào tội phản quốc.

Căn cứ vào các hoạt động công khai của Phạm Quỳnh từ đầu cho đến năm 1924, chúng tôi chưa thấy có gì đáng cho dư luận nghi kỵ Phạm Quỳnh là bán dân hại nước cả.

Hoạt động của Phạm Quỳnh, đặc biệt trong thời kỳ này, hình như mới chỉ có tính cách thuần văn hóa.

Từ năm 1908, công tác chính yếu của ông chỉ là một chuyên viên của một cơ quan văn hóa chuyên môn tức Trường Viễn Đông Bác Cổ.

Năm 1919, ông đứng ra sáng lập một cơ quan văn hóa có uy tín rất nhiều đối với quốc dân và giới văn học, đó là Hội Khai Trí Tiến Đức mà ông giữ chức Tổng thư ký.

Năm 1922, trong khi giữ chân thuyết trình viên cuộc triển lãm thuộc địa ở Marseille, ông đã đọc nhiều bài diễn văn quan trọng tố cáo nhiều khuynh hướng lệch lạc của thực dân tại Việt Nam, lưu ý và làm sáng tỏ dư luận Pháp về nhiều vấn đề liên quan đến vận mệnh văn hóa và cả dân tộc Việt Nam. Chính nhờ vào sự tranh đấu ấy mà hai năm sau, 1924 Pháp cho lập tại Đại học Hà Nội một bộ môn mới, tức là môn Bác ngữ học và văn chương Hán Việt, một hình thức phôi thai của Đại học Văn khoa. Người được mời phụ trách môn học mới này là Phạm Quỳnh.

Theo các tài liệu văn học mà chúng tôi tạm sử dụng thì thấy tất cả chúng đều hình như biện minh cho một Phạm Quỳnh nhà văn hóa có tinh thần quốc gia được mọi giới yêu kính.

Chưa nói đến khuynh hướng chính trị thiên quốc gia của Phạm Quỳnh chống lại Nguyễn Văn Vĩnh khi ông này yêu cầu cho cả Trung và Bắc Kỳ cùng theo một chế độ trực trị như Nam Kỳ.

Phạm Quỳnh, ngược lại, cương quyết yêu cầu Pháp thi hành đúng theo hòa ước 1884, trao trả Bắc Kỳ cho Nam Triều đồng thời cho Nam triều tự trị về nội bộ.

Nguyên một việc báo Nam Phong của Phạm Quỳnh đã quy tụ được hầu hết các cây bút thuộc đủ khuynh hướng quốc gia, cách mạng, thì đủ biết thế giá của Phạm Quỳnh với công luận lúc ấy ra sao.

Hầu hết các tay tân học, có tinh thần cầu tiến, không chấp nê, không nệ cổ, đều cộng tác với Phạm Quỳnh hay quý trọng ông; coi ông như một chiến sĩ, nếu không phải là chiến sĩ cách mệnh quốc gia thì cũng là một chiến sĩ văn hóa dân tộc.

T.L.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: