Pham Ton’s Blog

Tháng Bảy 5, 2013

Văn bình luận, nghiên cứu, lý luận văn chương trên Nam Phong tạp chí – P2

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:53 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 2 tháng 7 năm 2013.

Văn bình luận, nghiên cứu, lý luận văn chương trên Nam Phong tạp chí

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thuận

Trưởng khoa Ngữ văn Đại học Hải Phòng

(Bài đăng trên các trang 40-46, tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học- Viện Khoa học Xã hội

Việt Nam, số tháng 5/2013)

(Tiếp theo và hết)

Về văn học Việt Nam, trên Nam Phong có 27 bài nghiên cứu, với phổ rộng, bao gồm cả văn chương dân gian, các tác gia, tác phẩm trung đại, và đặc biệt là tác gia Nguyễn Du và tác phẩm truyện Kiều chiếm số lượng bài nhiều hơn cả (12 bài). Những bài nghiên cứu xuất sắc về Nguyễn Du và truyện Kiều, gồm có hai bài diễn thuyết của Phạm Quỳnh và Trần Trọng Kim trong ngày Lễ kỷ niệm cụ Tiên Điền (10 tháng 8 năm 1924), đăng trên Nam Phong tạp chí số 86: “Bài diễn thuyết của ông Trần Trọng Kim về lịch sử cụ Tiên Điền và văn chương truyện Kiều” (tr.96-109); bài Triết lý và luân lý truyện Kiều của Vũ Đình Long (số 75, tr.221-223); Văn chương truyện Kiều của Vũ Đình Long (số 81, tr.211-219); Bàn về nhân vận truyện Kiều của Tùng Hoa (số 102, tr.273-279). Truyện Kiều và xã hội Á Đông của René Crayssac (số 211, tr.421-441; và số 112, tr.531-545)… Có lẽ, ít có tờ tạp chí nào trước đây mà số bài nghiên cứu về Nguyễn Du và truyện Kiều lại nhiều và có giá trị học thuật cao như Nam Phong tạp chí. Nhiều bài nghiên cứu trên đến nay vẫn còn nguyên giá trị, chứng sự công phu và năng lực thẩm định nghiên cứu rất cao của người viết. Ngoài ra, Lục Vân Tiên, Cung oán ngâm khúc, những tác phẩm cổ điển cũng nhận được nhiều sự quan tâm, phân tích thấu đáo.

Đáng lưu ý, Nam Phong tạp chí xuất hiện những bài nghiên cứu có tính xâu chuỗi, nêu vấn đề từ trục lịch sử văn học, chẳng hạn, Trúc Hà có bài Lược khảo về sự tiến hóa của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết (số 176, tr.228-248). Tác giả “khảo” từ tiểu thuyết Quả dưa đỏ (1925) của Nguyễn Trọng Thuật, tiếp đến Kim Anh lệ sử của Trọng Khiêm, Nho phong, Người quay tơ của Nguyễn Tường Tam, rồi tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, đoản thiên tiểu thuyết của Tam Lang Vũ Đình Chí, và đặc biệt là “ngọn bút mới” – tác giả Nguyễn Công Hoan trong mục Xã hội ba đào ký của tạp chí An-Nam. Nhận xét về giọng điệu văn Nguyễn Công Hoan, Trúc Hà viết: “Không réo rắt như khúc đàn, không nhịp nhàng như một bài thơ, không “man mác như gió thổi mặt nước”, không “bóng bẩy như cánh hoa trong gương”, văn ông có cái hay rõ ràng, sáng sủa thiết thực, hơi văn nhanh và gọn. Lời văn hàm một giọng trào phúng, lại thường hay đệm vào một vài câu, hoặc một vài chữ có ý khôi hài, bông lơn thú vị” (số 176, tr.246). Đánh giá tổng quát về sự tiến hóa của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết, tác giả kết luận: “Nay đã xét về phương diện tiểu thuyết, quốc văn ta thật có tiến”.

Không chỉ nghiên cứu về “văn”, Nam Phong còn có một số bài nghiên cứu về “ngữ”, chẳng hạn: Tiếng An-Nam có nghèo không? (số 59, tr349-357) của Vũ Công Nghị; Hán Việt văn tự (số 107, tr.12-23; số 110, tr.314-327), Khảo về chữ quốc ngữ (số 122, tr.327-339) của Phạm Quỳnh; So sánh tiếng An Nam với tiếng Pháp của Trần Kỳ Ý (số 181, tr.147-155)… Vào thời kỳ ngành “ngữ” và “văn” đang trên đường mới hình thành, những bài nghiên cứu này có tính gợi mở đối với ngành ngôn ngữ học của nước ta.

Văn chương dân gian trên tạp chí Nam Phong có 4 bài: Tục ngữ ca dao của Phạm Quỳnh (số 46, tr.253-270); Phong dao và lịch sử của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (số 77, tr.353-369); Xét tâm lý người thôn quê bằng những câu hát của Hoàng Ngọc Phách (số 88, tr.311-322); Một bài phong dao về thể luận lý và tư tưởng giải phóng của Hải Hạc (số 196, tr.340-343) đều là những bài nghiên cứu có dung lượng lớn, công phu, sâu sắc, được khảo cứu kỹ càng. Trong đó đáng chú ý là bài viết của Phạm Quỳnh, thông qua nhận xét về nội dung của văn chương dân gian, những khái niệm về tục ngữ, phương ngôn, cách ngôn, ca dao lần đầu tiên được Phạm Quỳnh xác định khá rõ ràng.

Khảo cứu về văn chương dân gian, ngoài việc đem đến cho độc giả một khối lượng tri thức sâu rộng của kho tàng văn chương dân gian, cuối bài viết các tác giả đều thể hiện sâu sắc niềm tự hào và tình yêu tiếng Việt: “Tiếng An-nam ta hay lắm các ngài ạ. Người ngoại quốc cũng phải khen là một thứ tiếng êm như ru, vui như hát, mỗi vần đánh ra năm dấu, đọc thành sáu giọng khác nhau, như trong cung đàn vậy, tưởng không có mấy thứ tiếng hòa bình êm ái bằng tiếng ta” (Phạm Quỳnh, tr.254); và: “những câu phong dao nước ta không phải là không có văn chương, không có ý nghĩa, không có tinh thần, không phải là không có ảnh hưởng quan hệ gì đến lịch sử. Xin đừng vội chê tiếng nước ta nôm na mách qué mà không học, lịch sử nước nhà hèn yếu mà coi khinh, bụt chùa nhà không thiêng, cầu Thích ca ngoài đường, thì chả hóa ra mang tiếng là Tịch Đàm vong tổ lắm ru!” (Nguyễn Hữu Tiến, tr.369). Trong giai đoạn ngặt nghèo của lịch sử, các bài viết trên đây đều kín đáo thể hiện tinh thần dân tộc, tình yêu tiếng Việt qua phong dao.

3. Lý luận văn chương trên Nam Phong tạp chí gồm bốn bài:

Tất cả các bài viết đều cung cấp những lí luận đầu tiên về các thể loại của nền văn học mới, lấy các tiêu thức của văn học phương Tây làm nền tảng. Công phu nhất là công trình Bàn về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh (số 43, tháng 1 năm 1921). Trong bài viết này, các khái niệm cơ bản của thể loại như: khái niệm tiểu thuyết, nhân vật, kết cấu, hành văn, … thậm chí các công việc bếp núc của nhà viết tiểu thuyết đã được khảo khá kỹ lưỡng, đem đến những hình dung cụ thể về thể loại cho cả giới sáng tác và công chúng đọc.

Tương tự, trong Thơ là gì? (số 48, tr.437-446) Phạm Quỳnh giới thiệu và dịch thuật bài diễn thuyết của Paul Gesraldy; Thơ mới và thơ cũ của Nguyễn Hữu Tiến (số 193, tr.109-112).

Cũng như Bàn về tiểu thuyết, Khảo về diễn kịch (số 51, tr.179-189) được tác giả “khảo” khá tỉ mỉ về kịch – một loại hình mới “nhập tịch” vào sân khấu nước ta đầu thế kỉ XX. Nội hàm khái niệm kịch (drame), cách xây dựng kịch bản, vấn đề “bố cục” và “lập từ”, cách phân chia các thể loại kịch,.. đều được tác giả trình bày khá chi tiết. Ông cho rằng: “Trong bản kịch cũng như trong tiểu thuyết, cốt yếu là chỗ “thắt nút” (nœud dramatique), nghĩa là giấu cả những sự khó khăn ngăn trở vào một chỗ, để rồi gỡ ra dần dần. Thắt phải cho chặt rồi gỡ ra mới thú”. Và trong kịch thì lời đối thoại (dialogue) là quan trọng nhất, “phải tự nhiên như nói chuyện thường, phải hoạt bát mới có lý thú, lại phải cắt khúc cho khéo, không nên để một người nói dài quá như tiểu thuyết” (tr.184). Luật tam duy nhất cũng được giới thuyết , tao ra mô thức phát triển đối với giai đoạn đầu tiên của nền kịch nói Việt Nam.

Tuy chỉ có 4 bài thuộc thể loại văn lý luận văn học, nhưng rõ ràng cả ba loại hình của văn học là thơ, tiểu thuyết, kịch đều được Nam Phong “bàn” khá đầy đủ, có hệ thống, chất “lý luận” thể hiện khá rõ.

Có thể nhận thấy rằng, cũng như một số thể loại văn khác, văn lý thuyết trên Nam Phong tạp chí là do kết quả của việc chủ động tiếp thu văn hóa, văn học phương Tây, nhằm mục đích đổi mới nền văn học của dân tộc. Trong hoạt động này, vai trò của ông chủ bút tờ tạp chí Phạm Quỳnh là rất lớn. Các bài viết trên Nam Phong tạp chí thể hện khá rõ tính “học thuật”, làm cho tờ tạp chí này mang đậm tính “khoa học”, tính “kinh viện”. Từ đây, Nam Phong tạp chí đã hình thành nên một lực lượng khá đông đảo những người “mở đường” cầm bút viết văn lý luận, nghiên cứu, phê bình văn chương, tạo dựng những tiền đề ban đầu cho thể văn lý thuyết phát triển ở giai đoạn sau, giai đoạn 1930-1945.

Hết.

N.Đ.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: