Pham Ton’s Blog

Tháng Chín 27, 2013

Đọc Phạm Quỳnh “Pháp Du Hành Trình Nhật Ký”

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:01 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 1 tháng 10 năm 2013.

ĐỌC PHẠM QUỲNH  “PHÁP DU HÀNH TRÌNH NHẬT KÝ

Dương Bích Hồng

Lời dẫn của Phạm Tôn: Bạn Dương Bích Hồng, tác giả bài này sinh tại Hà Nội ngày 14/7/1941, hiện sống ở thành phố Hồ Chí Duong Bich HongMinh. Học khóa 111 khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà NộiTan man va Suy ngam, khóa 11 Đại học Thư viện Trường Đại học Văn Hóa (ngày nay) và là thực tập sinh Sau đại học ở Đại học Tổng hợp Vác-sa-va (Cộng hòa Ba Lan), nhưng bạn lại không phải là nhà nghiên cứu phê bình văn học chuyên nghiệp mà từng là giảng viên khoa Thông tin – Thư viện trường Đại học Văn Hóa và Khoa Sử trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội, Phó Chủ nhiệm Khoa Sau Đại học trường Đại học Văn Hóa Hà Nội.

Bài Đọc Phạm Quỳnh, “Pháp du hành trình nhật ký” này in trong các trang 113-120 sách Tản mạn và suy ngẫm gần 300 trang do Nhà xuất bản Thông Tấn xuất bản quí I/2013.

Viết về Pháp du hành trình nhật ký thì đã nhiều người viết. Nhưng viết mà cảm thông chân thành, xúc động, thấm thía, sâu sắc như bạn Dương Bích Hồng thì có lẽ chỉ có một… Bạn viết mà như để mặc cho dòng suy ngẫm của mình trong khi đọc cứ tự nhiên tuôn chảy những lời xót xa thốt ra từ đáy lòng.

*

*       *

Cuốn nhật ký sau gần nửa thế kỷ được xuất bản thành sách, đọc thấy nhiều điều thấm thía, thú vị. Trước hết đây là nhận xét của một nhà báo, một con người của giai đoạn tiếp nối giữa cái cũ và cái mới, giữa Nho học và Tây học, giữa tư tưởng triết học phương Đông và phương Tây, vì thế những quan sát, nhận xét của ôPham Quynh_Treng khi tiếp xúc với nền văn minh Pháp hết sức chi tiết, với cái nhìn lạ lẫm mà ngày nay chúng ta không thể có được, do tất cả gần như đã được định hình rồi, có lẽ do đó mà cái nhìn của chúng ta trở nên hời hợt chăng.

Cuộc hành trình trên biển của ông từ Hải Phòng đi Marseille kéo dài một tháng trời. Từ Hải Phòng đi Sài Gòn, từ Sài Gòn đi tiếp Singapore, đến mỗi nơi tàu dừng hành khách lại được xuống tham quan. Singapore ngày ấy đã được Phạm Quỳnh mô tả là đẹp và lớn, Hải Phòng và Sài Gòn của ta còn kém nhiều. Từ Singapore đi Penang (Malaysia), Panang là một cửa biển nằm ở phía Tây Malacca, người ta có thể đi tàu lửa từ Sing đi Penang, đây là thuộc địa của Anh. Phạm Quỳnh có nói đến một thắng cảnh gọi là Cực lạc, có lẽ đây là Genting bởi nó nằm trên một ngọn núi cao, phong cảnh rất đẹp lại có tảng đá viết “Vật vong cố quốc (tức: chớ quên nước cũ – VTN chú)”, đây là đất của người Hoa, ở đâu người Hoa cũng gây nên sự nghiệp cơ đồ lớn, nghiễm nhiên làm ông chủ trên đất nước người ta. Ý này của ông Phạm Quỳnh thật là chí lý. Tàu từ Penang chạy tiếp đi Colombo rồi qua Djibouti, đây cũng là thuộc địa của Anh (Colombo là thành phố lớn trung tâm thương mại của Sri Lanka). Người dân ở đây Phạm Quỳnh gọi là người Chà, ông tỏ ra mất cảm tình với giống người này. Phạm Quỳnh cũng thấy rõ ở Sri Lanka đạo Phật được duy trì chứ không như ở Ấn Độ. Đất Phật ngày xưa nay theo đạo Bà La Môn: Djibouti cũng là thuộc địa của Pháp, hai mươi năm Pháp cải tạo, thành phố đã có cây xanh, các khu vườn của các nhà giàu của các quan cai trị đã xanh um. Có một trò hấp dẫn du khách là những người đàn bà múa bụng theo nhịp thanh la, uốn éo bụng mà quay tít. Từ Djibouti qua Hồng Hải, biển ở đây rất xanh mà lại gọi là hồng, theo Phạm Quỳnh là ở hai bên bờ có những núi đá trơ trọi, ánh mặt trời chiếu vào như có sắc đỏ, có lẽ vì vậy mà gọi là Hồng Hải chăng. Qua kênh đào Suez tới Port Saïd (thành phố cảng của Ai Cập). Tàu qua eo biển Messina, một bên là đất của Italia, một bên là đảo Sicily, qua núi lửa Stromboli, núi lửa ngày đêm phun tro ngùn ngụt, tàu qua đảo Corse và cập bến Marseille vừa tròn một tháng.

Tôi mốn ghi lại những nhận xét ghi chép của ông để chúng ta thấy được sự quan sát tỉ mỉ, nhận xét sắc sảo của nhà báo, những điều mà ngày nay chúng ta có khi nhìn mà khônPham Duy Ton - Pham Quynh - Nguyen Van Vinhg thấy. Đối với tôi, qua chặng đường ông đi, tôi thấy cả một vùng châu Á đều rới vào tay các nước Pháp và Anh. Tất nhiên khi đến họ cũng thay đổi nhiều cảnh quan của các nước đó.

Ngoài việc quan sát kỹ các cảnh vật, con người, Phạm Quỳnh còn quan tâm so sánh về trình độ dân trí, về cách ăn nói của các tầng lớp xã hội. Ông nhận xét buổi diễn thuyết mà diễn giả từ Paris đến Marseille nói, theo Phạm Quỳnh thì ông chưa nghe người Tây nào diễn thuyết hay như thế, nghe người ta ông liên tưởng đến mình. Không những ta còn chưa biết đến nghề diễn thuyết, mà đến nói một câu cho ra đầu ra đuôi cũng còn ít người nói được, ông nhận xét “Khi họp hội đồng thì chẳng khác chi họp việc làng, tranh nhau mà nói ồn ào lộn xộn, mà ít ai nói được câu gì cho có nghĩa lý, chỉ bẻ hành bẻ tỏi nhau những cái vặt chẳng đâu vào đâu”. Thú vị nhất là ông đã thấy sự lố lăng, ngậu xị trong ngôn ngữ, nào là “toa, moa” tây không ra tây, tàu không ra tàu, ta không ra ta, có nhiều cái xã hội không biết họ nói tiếng gì. Cái sự lộn xộn này bây giờ đây cũng đang diễn ra ra “hoành tráng” hơn.

Trong những ngày ở Pháp, Phạm Quỳnh đã dành nhiều thời gian quan sát ghi chép, nói là nhật ký nhưng là những bài ký sự ghi nhanh, bao gồm những nhận thức về người và cảnh, về nỗi niềm của một trí thức tâm huyết, có trình độ.

Tôi cũng rất tâm đắc với những nhận xét của ông về vườn Luxembourg, về đại lộ Champs Élysée, điện Panthéon. Cái nhìn Dien Pantheoncủa ông đối với thầy trò người ta mà liên tưởng đến mình rất tội nghiệp. Đã mấy ai “dám vỗ ngực khoe” sự kém cỏi của mình, vậy mà ông viết “…Nhìn nét mặt của người sinh viên đó, như có cái hào quang của sự học, trong lòng cảm phục cái chí cao của kẻ thanh niên nước Pháp, mà lại bùi ngùi cho cái công học dở dang của mình. Than ôi! mình không phải không có cái sự nhiệt thành về sự học, nhưng mà sinh trưởng vào giữa buổi thanh hoàng (ý nói: cái cũ đã qua, cái mới chưa đến – PT chú), học không ra gì cả, nho đã chẳng ra nho, tây cũng chẳng thành tây. Phàm sự học phải đến nơi đến chốn thì sở học mới điều hòa dung chuyển nhau, mà gây nên cái nhân cách thanh cao. Hễ còn dở dang, còn nửa chừng thì không ra con người gì cả… nói đến học tây thì chẳng qua học mấy câu tiếng tây để đi làm thuê, cũng tự biết còn thiếu thốn, muốn ra công học thêm, nhưng thầy đâu, sách vở đâu, ở trường thông ngôn ra, được học mấy ông hương sư ở tây sang, thế đã là tột phẩm rồi, nào đã bao giờ được ngồi qua cái ghế của một trường Đại học, mà đã không được học đến bậc đó thì còn mong lập nên sự nghiệp gì về đường học vấn? Dở dang… dở dang, thôi mình đã đành, là một người dở dang. Mà cả nước mình cũng là một nước dở dang…” Tâm sự của ông đứng trước bậc thềm đại học của người ta mà bùi ngùi cho sự dở dang trong học hành của mình, nghĩ được như thế chẳng phải đáng quí lắm sao. Có lẽ do biết mình nên ông chịu học hỏi, chịu quan sát, chịu đọc sách mà ông trở thành một học giả lớn của nước ta. Tiếc thay những người tự nghiêm túc nhìn mình như thế xưa đã hiếm, nay càng hiếm, hiếm lắm thay. Giá như các trí thức thời nay của chúng ta (tất nhiên là một số), có một chút thực thSorbonneà với chính bản thân mình để tự học, để tự biết mình làm cái gì, có ích cho ai, chứ không phải vì một chức danh, không phải vì học hàm thì nước ta đã tiến xa được hơn bây giờ chăng?

Phạm Quỳnh còn là người yêu sách và hiểu giá trị của kho tàng tri thức nhân loại. Trong một thời gian có hạn, ông tìm đến thư viện gọi là nhà “Đại Pháp đồ thư quán”. Theo ông đây là kho sách giàu nhất thế giới, có 360 vạn quyển sách in không kể các tả bản (manuscrits – (Bản thảo- PT chú)), các họa đồ (plans, cartes), ông nhìn sách của người ta mà thương cho dân mình không đủ phương tiện học tập, ông thấy ở nước văn minh người ta có điều kiện nên người ta giỏi hơn ta. Ông viết “Nghề phổ thông ấn loát đã giúp cho văn minh tiến bộ được một bước lớn, các thư viện công lại giúp cho sự học tiện biết bao nhiêu, tưởng cũng là một cái lợi khí cho văn minh. Loài người biết tư tưởng, biết học vấn kể đã mấy vạn năm nay, biết chế tác ra văn tự để ghi nhớ lấy sự học vấn tư tưởng ấy, kể đã mấy nghìn năm, mấy vạn năm ấy, cái óc con người đã khám phá cũng được nhiều điều hay lẽ phải… các cổ thư tịch chính là cái kho chứa sự khôn ngoan của người trước. Như thế thì ở dưới cái bóng mặt trời không có sự gì lạ thật, mà sự kinh lịch của người trước có thể làm bài học cho người sau, được như thế thì thư tịch là quí thật, vì thư tịch là cỗ xe để truyền, để chuyển cái đạo học, cái tâm thuật của cổ nhân cho hậu thế…” Những lời bàn của ông từ nửa thế kỷ trước, những lời vàng ngọc về tác dụng của sách, của thư tịch trong đời sống, trong sự phát tiến nhân cách, đạo đức, trong phát triển xã hội đến nay vẫn còn giá trị tươi mới. Là một người giảng dạy thư viện, thư tịch ngày nay tôi vô cùng trân trọng những suy nghĩ của ông trước kho tri thức vĩ đại của nhân loại.

Trong những buổi đi thăm các công trình, ông tìm hiểu và mô tả rất kỹ , có lẽ là tập nhật ký hành trình của nhà báo cần phải chính xác. Cái hay là đi cùng với sự tỉ mỉ chính xác ấy là những suy nghĩ của ông về dân về nước, về dân tộc, luôn trong tâm trạng trông người lại ngẫm đến ta.

Thái độ của ông đối với văn hóa là hết sức trân trọng, chỉ một việc đi thăm bảo tàng Louvre mà đã mấy lần ngần ngại như sắp vào một chốn thiêng liêng vì nơi đây là bao nhiêu cái tinh hoa của văn minh được sưu tầm đã mấy mươi đời, vThe-Louvreì vậy ông đã dành rất nhiều thời gian để đọc, để xem các bức tranh, khảo cứu các bộ chỉ nam về Louvre, chuẩn bị sự hiểu biết để đủ tư cách đi xem viện bảo tàng cho thật lợi ích nhất. Ngày nay người đi du lịch tham quan nhiều lắm, nhưng không có nhiều người có được sự suy nghĩ, tìm hiểu để nâng cao nhận thức, hoặc giả là cũng biết được tối thiểu cái hay cái đẹp mà bao công sức con người sáng tạo ra, sưu tập lại, giữ gìn nó… bây giờ với các tour du lịch, đặc biệt là đi Trung Quốc, hướng dẫn viên phần lớn kể những truyền thuyết hoặc để đánh vào tâm lý mê tín, tham lam của con người mà chỉ ra nơi này thiêng, vật nọ hên để dễ bề móc túi những người hám lợi và nông cạn. Phạm Quỳnh đến Louvre ông ngậm ngùi nghĩ về sự chênh lệch trình độ, văn hóa kinh tế dẫn đến “cùng một kiếp người mà lại sinh ra giống khỏe giống yếu… giống mạnh giống hèn, để ưu thắng liệt bại…”, bông dưng ông thấy khắc khoải bồi hồi.

Đọc cuốn sách nhỏ của Phạm Quỳnh, nói là nhỏ vì so với Thượng Chi toàn tập đồ sộ của ông, tập sách nói những điều mà ngày nay không còn là mới mẻ nữa, nhưng ở thời điểm ấy, khi mà người dân ta còn quá lạc hậu, như chính Phạm Quỳnh cũng còn phải ngỡ ngàng trước sự phát triển của thế giới văn minh về mọi phương diện… cả một thế giới mở ra trước nhà học giả của chúng ta khi ấy mới tròn ba chục mà cái sự học thì “Hán văn đủ chi hồ giả dã, Pháp văn là anh thông ngôn học thầy Pháp cỡ hương lý trong làng…” theo cách nói khiêm tốn của ông, nhưng tôi tìm thấy ở cuốn sách của ông một Pham Quynh (anh cat)sự bổ ích và lý thú. Tôi khâm phục đầu óc quan sát, nhận xét suy luận, so sánh đối chiếu với lòng thành thực ham học hỏi, với sự tìm hiểu cụ thể, tỉ mẩn về từng vấn đề mà ông quan tâm.

Sau hết để đóng lại những dòng cảm tưởng khá dài dòng của tôi về cuốn sách là một sự thông cảm sâu sắc về số phận, về một điều tôi cảm nhận như định mệnh của ông khi ông dẫn lời của một người Pháp nói về nỗi oan của một binh sĩ “…Ừ nào có phải thiệt oan mấy mạng người mà thôi đâu, còn để cái khổ cái nhục cho người sống nữa. Các ngài có nghĩ đến tình cảnh những cha mẹ, những vợ con mấy người chết oan ấy không? các ngài có nghĩ đến cái đau đớn, cái tủi nhục vô cùng của lũ trẻ con kia, trong khi các trẻ con khác trong làng có cha anh đi trận về, nào là mề đay, nào là bội tinh, nghênh ngang vẻ vang trong làng xóm, mà hễ mình thò mặt ra đầu ngõ là người ta vạch mặt chỉ tên nói rằng “thằng này là con thằng phản quốc đây, cha nó ngày trước đã bị xử tử”, các ngài có nghĩ đến nỗi đắng cay chua xót ấy trong lòng một kẻ hài nhi không? kẻ hài nhi ấy sau này là dân của nước đấy, là lính nước đấy…

Thật thương thay hơn hai chục năm sau, ông lại là người vướng vào cái oan nghiệt ấy, và nỗi oan của ông cho đến nay, ngót một thế kỷ mà hậu thế vẫn còn nhiều người chưa hiểu hết cái tâm tư tình cảm của ông đối với dân tộc, đối với đất nước. Nếu không quan tâm đến dân tộc, đất nước hẳn ông không thể có cái nhìn sâu sắc, có cái giọng thâm trầm về thân phận của một người dân của nước bị bảo hộ.

Tiếc thay cho một tài năng hiếm có của dân tộc bị mai một quá sớm, nhưng cũng một lần nữa bái phục ông, chỉ với hơn năm chục tuổi đời, ông đã làm được rất nhiều cho nền văn hóa non trẻ nước nhà, những tư tưởng của ông thể hiện trong bàn luận đến nhiều lĩnh vực chắc có ngày sẽ được bàn đến và đánh giá đúng với tầm vóc của nhà học giả này.

Đọc xong 3-2009.

D.B.H.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: