Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 4, 2013

Những hoa trái đầu mùa của văn học Việt Nam hiện đại (P1)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:16 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 2 tháng 10 năm 2013.

NHỮNG HOA TRÁI ĐẦU MÙA CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Nguyễn Đức Thuận.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần đầu của bài cùng tên in trong sách Đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí của tiến sĩ Nguyễn Đức Thuận sưu tầm, chú thích, giới thiệu (NXB Văn Học 2013) từ trang 7-29.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thuận, trưởng khoa Ngữ văn Đại học Hải Phòng từng xuất bản các tác phẩm Hương biển (Thơ – NXB Hải Phòng, 1996), Nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn (Chủ biên) – (NXB Giáo Dục, 2006), Văn trên Nam Phong tạp chí (NXB Văn học, 2008), Đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí (NXB Văn học 2013).

Chúng tôi chia làm hai phần để bạn đọc dễ theo dõi.

*

*   *

Nam Phong tạp chí ra số đầu vào tháng 7 năm 1917 và đình bản ở số 210, tháng 12 năm 1934. Thời kỳ này là thời kỳ nền văn học viết của nước nhà đang dần tiến vào quỹ đạo của nền văn học Việt Nam hiệPham Quynh_Tren đại.

Là một ấn phẩm “Văn học – Khoa học – Tạp chí” mang tính chất của một bách khoa thư, trong Nam Phong tạp chí có nhiều chuyên mục, nhiều nội dung thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau như: triết học, chính trị, lịch sử, địa lý, khoa học tự nhiên, tâm lý học, giáo dục học… Song, nhiều hơn cả vẫn là phần văn học.

Chủ nhiệm kiêm chủ bút của tạp chí này là Phạm Quỳnh (1892-1945), cùng những cộng sự của ông, ở vào giai đoạn lịch sử đầu thế kỷ XX, đã chủ trương xây dựng một nền “quốc học, quốc văn” mới với tư tưởng “thổ nạp Á – Âu”, “điều hòa tân cựu”. Theo chủ trương này, tạp chí Nam Phong sẽ là nơi “phát sáng văn hóa Á châu, thâu nạp tinh hoa văn hóa Âu châu, điều hòa văn hóa cũ và văn hóa mới”, tạo dựng một nền văn hóa văn học mới cho dân tộc. Trên tinh thần đó, một mặt, Nam Phong sưu tầm, khảo cứu văn học cổ của dân tộc, từ ca dao tục ngữ đến văn chương trung đại, và đã thu về được một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ, làm sống dậy những sáng tác của ông cha đã qua lớp bụi thời gian che phủ. Mặt khác, Nam Phong cũng tích cực dịch đăng những truyện đặc sắc của nhà văn Pháp, mà tạp chí này gọi là “Tiểu thuyết” hoặc “Đoản thiên tiểu thuyết”, với mục đích giới thiệu cho đông đảo bạn đọc trong nước tiếp cận với thành tựu của văn học thế giới. Kèm theo những truyện dịch đó, ở giai đoạn đầu, là những đoạn văn giới thiệu mang tính chất lí thuyết về một thể loại văn xuôi mới, thể loại “Đoản thiên tiểu thuyết” của phương Tây mà ở vào thời bấy giờ văn đàn quốc ngữ Latinh nước ta còn chưa có. Từ đó, Nam Phong tạp chí muốn dẫn dắt và định hướng cho các cây bút văn xuôi nước ta thực hành bắt tay vào sáng tác tác phẩm truyện. Và chỉ sau nửa năm nhiệt tình làm các việc: cổ động, khích lệ, rồi tổ chức thi sáng tác, kết quả là đến số 10, tháng 1 năm 1918, Nam Phong tạp chí đã có “sản phẩm”. Đó là khi tạp chí này “trình làng” cho đăng “tiểu thuyết” đầu tiên và cũng là tiểu thuyết đầu tay của văn sĩ – nhà giáo Nguyễn Bá Học, với Câu chuyện gia tình trong mục “Tiểu thuyết” mà trước đó ở mục này Nam Phong chỉ có đăng những tiểu thuyết dịch của văn học Pháp. Tiếp đó, đến số 13, Nguyễn Bá Học lại có “Tiểu thuyết” thứ hai Chuyện ông Lý Chắm, và đến số 18 là đoản thiên tiểu thuyết Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn.

Kể từ đó, cứ cách vài ba số, Nam Phong tạp chí lại tiếp nhận và cho đăng một “Đoản thiên tiểu thuyết” sáng tác của cây bút văn xuôi nước ta. Những khó khăn ban đầu trong việc sáng tác “Tiểu thuyết” bằng quốc ngữ Latinh đối với các cây bút nước ta đến đây đã bước đầu vượt qua. Và như thế, so với một số tờ báo và tạp chí khác, Nam Phong đã thành công trên cả hai phương diện lý thuyết và thực hành trong việc gây dựng một thể loại văn xuôi mới – thể loại “Đoản thiên tiểu thuyết” mà sau này Nam Phong đổi tên là “Truyện ngắn” trên các số tạp chí đầu thập niên ba mươi của thế kỷ trước, đem đến thành tựu cho một thể loại văn học mới trên văn đàn nước ta vào những năm đầu của thế kỷ XX. Thực ra, năm 1886 ở Nam Bộ, Nguyễn Trọng Quản đã có truyện Thầy Larazo Phiền viết bằng quốc ngữ Latinh, nhưng rồi sau đấy không thấy có truyện nào nối tiếp ra đời nữa.

Đến đây, chúng tôi thấy cần thiết phải giới thiệu khái quát về sự hình thành thuật ngữ “Tiểu thuyết”, rồi “Đoản thiên tiểu thuyết” và “Truyện ngắn” trên Nam Phong tạp chí, một thuật ngữ mà tạp chí này đã sử dụng khi cho đăng các sáng tác của các cây bút văn xuôi nước ta thời bấy giờ. Trên Nam Phong tạp chí, thuật ngữ này đã mang tính lịch sử – cụ thể của nó (Xem Nguyễn Đức Thuận, Văn trên Nam Phong tạp chí, NXB Văn Học, Hà Nội, 2008).

1.      Về thuật ngữ “Tiểu thuyết” và “Truyện ngắn” trên Nam Phong tạp chí

Từ số 2, tháng 8 năm 1917, Nam Phong tạp chí đã nêu rõ: “Vấn đề quan trọng nhất trong nước ta ngày nay là vấn đề văn quốc ngữ”, bởi vì “xét hiện tình” nước ta đến giai đoạn bấy giờ tuy ta “có nước mà không có văn”. Vì vậy, “để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết”, thuyết của nước ngoài để các cây bút viết văn xuôi của ta có hình mẫu mà “bắt chước”. Mỗi truyện dịch, Nam Phong đều có mấy lời tiểu dẫn mang tính chất định hướng về lý thuyết thể loại. Thế nên, ngay ở số 1, số mở đầu, tháng 7 năm 1917, Nam Phong tạp chí đã dịch đăng tiểu thuyết Truyện cái dấu đỏ của nhà văn Pháp De Vigny. Tiếp đến số 2, tháng 8 năm 1917, khi dịch Truyện người lính bằng tuyết (Pháp văn của Georges Esparbés), dịch giả là ông chủ bút Phạm Quỳnh đã viết lời dẫn như sau: “Truyện dịch sau này là thuộc về lối “đoản thiên tiểu thuyết” (conte, nouvelle). Lối ấy cũng là một lối hay trong văn chương tây, các văn sĩ ta có thể bắt chước mà làm bằng tiếng nôm. Vì lối tiểu thuyết này thì hiện nay người ta còn chưa đủ tư cách mà khởi hành được”.

Đến số 5, tháng 11 năm 1917, Nam Phong tạp chí lại giới thiệu một truyện dịch khác: Tự nguyện góa chồng, tác giả: Paul Ivoi, dịch giả Phạm Quỳnh. Truyện kể về hai cô gái người Pháp, đặt quyền lợi của quốc gia (nước Pháp) lên trên hạnh phúc cá nhân mình, đã giết chết hai anh chồng người Đức phản bội. Truyện cũng có mấy lời phi lộ của người dịch như sau:

Truyện dịch sau này cũng là thuộc về lối đoản thiên tiểu thuyết, như Truyện người lý bằng tuyết đăng trong số báo thứ hai. Văn chương tuyệt xảo. Nhời văn như có sinh hoạt vận động, cái thảm kịch hiển nhiên như thực, như diễn ra trên sân khấu vậy. Các văn sĩ ta nên kíp mà tập lấy cái lối truyện đoản thiên này. Tức cũng như lối truyện Liêu Trai, nhưng lời văn thành thực, nghĩa truyện thảm thiết biết chừng nào! Văn quốc ngữ quyết là có thể làm được những tiểu thuyết ngắn như thế. Xin cố lên”.

Ba cuon tap chi Nam Phong

Có thể hiểu rằng, Nam Phong đã xác định thể loại truyện dịch trên là thuộc về lối “đoản thiên tiểu thuyết”, đồng thời muốn gợi ý về “nhời văn” của  đoản thiên tiểu thuyết do các cây bút nước ta sáng tác tới đây cũng phải sống động, các tình tiết của truyện cũng phải “như thực, như diễn ra trên sân khấu vậy”. Và để các cây bút viết văn của ta dễ bắt chước, Nam Phong so sánh với “lối truyện Liêu Trai” của Tàu cũng vốn rất gần gũi với văn học của ta. Rồi Nam Phong đã nhiệt tình cổ động các cây bút viết văn quốc ngữ nước ta “xin cố lên”, với niềm tin: “quyết là có thể làm được những tiểu thuyết ngắn như thế”.

Tiếp đến số 7, tháng 1 năm 1918, xét thấy đã có thể sáng tác được truyện, Nam Phong đã quyết định tổ chức một “Cuộc thi thơ văn của bản báo” (cuộc thi này đã công cáo từ số 5). Trong “Điều lệ về cuộc thi”, tại “Điều 4” Nam Phong có ghi rõ: “Tiểu thuyết phải làm theo lối Âu châu, tự đặt ra, không được dịch hoặc bắt chước chuyện Tàu, chuyện Tây. Phải dùng phép tả thực, không được bịa đặt những việc hoang đường, kì quái. Trọng nhất là tả được cái tâm lý người ta cùng các tình trạng xã hội. Không nên đặt những chuyện có thể phương hại đến luân lý và tôn giáo, hoặc quan hệ đến chính trị”. Rõ ràng, từ đề tài, khuynh hướng, nội dung và hình thức của tiểu thuyết, Nam Phong đều có sự hướng dẫn và yêu cầu rất cụ thể. Tiếc thay, cuộc thi này không thành! Nam Phong số 24, tháng 6/1919 đã ngậm ngùi công bố kết quả như sau: Chỉ có 4 quyển tiểu thuyết, 2 quyển cẩm nang tham gia. Nhưng không ai được giải cả!

Cho dù có thất bại, nhưng kể từ đấy Nam Phong tạp chí cũng đã bước đầu phát động được trong ý thức các văn sĩ nước ta thời bấy giờ một tinh thần và ý niệm về một thể loại văn xuôi mới, thể loại “tiểu thuyết” mà cho đến bây giờ trên văn đàn quốc ngữ Latinh của nước ta vẫn mới ở giai đoạn khởi đầu.

Thế rồi không bao lâu sau, như trên đã viết, kể từ ngày Nam Phong cổ động các văn sĩ nước ta “xin cố lên”, bắt chước “lối đoản thiên tiểu thuyết”, mà Nam Phong đã dịch của Pháp ra tiếng Việt, thì cho đến số 10, tháng 4/1918, Nam Phong “hân hoan” với một dòng chữ to, in đậm: “Tiểu thuyết mới”: Câu chuyện gia tình – tiểu thuyết đầu tay của nhà giáo Nguyễn Bá Học và cũng là tiểu thuyết bằng văn xuôi quốc ngữ đầu tiên đăng trên Nam Phong tạp chí. Rồi kế đó là Truyện ông Lý Chắm (số 13, tháng 7/1918). Đặc biệt, khi cho đăng truyện thứ ba, Một lối văn mới Sống chét mặc bay của Phạm Duy Tốn (số 18, tháng 12/1918, trang 355), ông chủ bút Phạm Quỳnh đã có viết mấy lời giới thiệu trân trọng sau đây:

Trong học giới báo ta, chắc ai cũng đã biết tên ông Phạm Duy Tốn. ÔngPham Quynh - Pham Duy Ton là một người rất nhiệt thành với văn quốc ngữ và đã biệt lập ra một lối văn riêng, lấy sự tả chân làm cốt. Mỗi bài văn của ông như một tấm ảnh phản chiếu cái chân tướng như hệt.

Ông tin rằng văn chương đã tả được hết cái cảnh thực là tự khắc có cái sức cảm động vô cùng, không cần phải nghị luận xa xôi.

Văn chương ta xưa nay thường lấy sự mập mờ, phảng phất làm hay, càng phiếu diểu bao nhiêu càng huyền diệu bấy nhiêu, nên ít dụng lối tả thực, coi là tầm thường.  Nay xét ra văn học họa học của Thái Tây, phần nhiều lại trọng lối tả thực hơn là lối phá bút. Quốc văn ta sau này tất phải chịu ảnh hưởng văn Tây nhiều, lối tả thực rồi tất mỗi ngày một thịnh hành. Như bài văn ông Phạm Duy Tốn sau này cũng khá gọi là một bài tả thực tuyệt khéo: đối hai cái cảnh trái ngược nhau, như bày hai bức tranh trước mặt người ta, mà tự khắc nảy ra một cái cảm giác, một cái tư tưởng tự người đọc biết, không cần phải diễn giải ra, là cái cảm giác tức giận, cái tư tưởng thống mạ kẻ “chễm chện” này không biết thương lũ “lấm láp” kia. Văn tả thực mà được như vậy cũng đã khéo thay. Bản báo đăng bài này mà có lời khen ông Phạm Duy Tốn đã có công với quốc văn.”

Cũng cùng số đó, Nam Phong giới thiệu truyện Cái oan càng nghiệt, mối tình càng to của Hồng Giện, sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm. Đoản thiên tiểu thuyết này cũng được ông chủ bút Nam Phong Phạm Quỳnh viết mấy lời giới thiệu như sau:

Đại khái bài này dùng lối tả chân, hoặc tả cảnh, hoặc tả tình, hoặc tả cái cách ăn nói, đứng ngồi của người trong truyện đều vụ lấy cho hệt như thực, hệt như là có việc hiển nhiên. Tuy nhiên, có chỗ còn hơi rậm bút một chút, như những đoạn mấy người than khóc với nhau khí thảm quá. Nhưng đại để, cách dàn bài đã khéo lắm, kể thuật có từng lớp, tình nào hợp cảnh ấy, và có cái ngụ ý cao xa…

Có thể nói, chính từ những lời dẫn truyện này, Nam Phong đã làm một công việc có tính chất lý luận và phê bình, hướng dẫn các văn sĩ ta sáng tác tiểu thuyết theo khuynh hướng tả thực mà Nam Phong đã chủ trương.

Lại một số khác, (số 21, tháng 3/1919), vẫn để cổ động cho lối văn chương tả thực, Thượng Chi (bút danh của Phạm Quỳnh) đã dịch bài Lối tả chân trong văn chương (Bàn về nhà văn sĩ Pháp Guy de Maupassant; 1850-1893) đăng trên báo. Dưới đây là đoạn nói về ý thức tôn trọng sự tả thực của văn sĩ Guy de Maupassant:

Cái tính hiếu thực của ông đã thành “tích”, trong khi làm văn ông không dám làm sai sự thật một mảy may, coi sự thực như thánh thần vậy. Ông không biết cái thuật chuyển dịch sự thực ra lời văn, coi cái thuật đó như một sự phạm tội với cái đạo tả chân (doctrine réaliste) vậy. Bởi thế, nên những bài đoản thiên của ông khéo lắm, có thể ví như cái cửa sổ vào giữa cuộc đời, như mở một lát lại đóng lại ngay…”

Dưới dòng này có chú thích: “Lại có người ví mỗi bài văn của ông như một tấm ảnh, chiếu được hết cái cảnh thực trong một lúc, nhưng chỉ thu được cái cảnh trong vật giới hiển hiện mà thôi, mà không áng chiếu đến chốn tâm giới u ám. Ấy cái lối tả chân mà dùng đến quá độ thì thành ra hẹp hòi như vậy. Tả chân như thế là chụp ảnh mà thôi, chưa gọi là vẽ truyền thần được.

Ở một đoạn khác tác giả lại viết: “Ông (Guy de Maupassant) lấy cái tính lãnh đạm, lấy con mắt “khách quan” (objectif) mà bày trần ra cái tiểu thế giới (ce petit monde), đó không hề nghị luận thêm một lời nào. Để tùy cái tinh chật người đọc, mỗi người kết luận ra thế nào thì kết…”

Những ý kiến trên, trong khi chưa có một bài lý luận nào về loại thể văn học và nhất là ở vào giai đoạn khởi đầu của sự sáng tạo tiểu thuyết nước ta, có thể xem như cơ sở lý luận có tính chất hướng đạo, mở lối cho người sáng tác.

Nhìn nhận một cách tổng quát, trên bình diện tổ chức, trong hơn ba năm ấy (từ tháng 8 năm 1917 đến tháng 1 năm 1921), Nam Phong đã rất chú trọng đến việc cổ động, hướng dẫn (bằng cách dịch các tiểu thuyết Tây làm mẫu), viết những lời dẫn truyện để gợi ý, và cuối cùng là viết bài giới thiệu về thể loại nhằm giúp các văn sĩ nước ta có một mô hình về thể loại, để tập dượt, để “bắt chước”, làm ra được những tiểu thuyết mới, thực hiện công cuộc hiện đại hóa văn học nước này. Thực tiễn, những nhà văn mở đường của nền tiểu thuyết mới nước ta như: Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Mâu Châu Nguyễn Mạnh Bổng, Vũ Miễn Nam,… đã tiếp nhận được khá nhiều tri thức về lý thuyết thể loại từ những ý kiến mở hướng trên. Sau này, trên cơ sở những ý kiến đó, ông chủ bút Nam Phong Phạm Quỳnh đã tập hợp lại, viết thành một bài báo có tính chất lý luận, với tựa đề Bàn về tiểu thuyết đăng trên số 43, tháng 1/1921. Sau này nhìn lại, mặc dù còn có những hạn chế này nọ về nội dung khoa học, nhưng bài báo đó đã có tác dụng trực tiếp, làm cơ sở lý thuyết hướng dẫn cho các văn sĩ nước ta sáng tác tốt hơn.

Có thể xem đây là một bài viết lý luận về thể loại tiểu thuyết đầu tiên ở nước ta. Bài báo này là sự thể hiện đầy đủ nhất quan cu be ba Ngoanniệm của Nam Phong tạp chí về thể loại tiểu thuyết, từ đó chi phối việc sáng tác của các văn sĩ cũng như việc biên tập nội dung và cho đăng tác phẩm.

Trong bài viết này, ông chủ bút Phạm Quỳnh đã có định nghĩa về tiểu thuyết như sau:

Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội, hay là những sự lạ tích kỳ, đủ làm cho người đọc có hứng thú”.

Thật ra, định nghĩa này ông chủ bút Nam Phong tạp chí đã dịch thoát từ định nghĩa vê thuật ngữ “tiểu thuyết” trong tự điển Lettré của Pháp như sau:

Tiểu thuyết là một câu chuyện bịa đặt viết bằng văn xuôi, trong đó tác giả hoặc mô tả tình cảm, các phong tục, hoặc kể về những sự việc kỳ lạ cốt gây hứng thú cho độc giả (Une histoire peinte escrite en prose, oū l’auteur cherche à exciter l’intérêt par la peinture des passions, des mœurs, ou par la singularité des aventures).

Sau định nghĩa đó, Phạm Quỳnh giải thích thêm: “Như vậy thời phạm vi của tiểu thuyết rộng lắm: phàm sách gì không phải là sách dạy học, sách lý luận, sách khảo cứu, sách thi ca thời là tiểu thuyết cả, mà tiểu thuyết có khi lại gồm được cả các lối kia, vì trong một bộ tiểu thuyết cũng có chỗ nghị luận, chỗ khảo cứu, chỗ ngâm vịnh, chỗ khuyên răn. Cứ nghĩa hai chữ “tiểu thuyết” trong sách Tàu thời lại rộng lắm nữa: phàm sách gì không phải là “chính thư” (nghĩa là sách để học, như kinh, truyện, sử, v.v…) đều là tiểu thuyết cả, nhưng tiểu thuyết đây tức là tạp thuyết, có khác với nghĩa tiểu thuyết như bây giờ”. Và ông chốt lại: “Nói tóm lại thời tiểu thuyết là một truyện bịa đặt mà có thú vị”, “tiểu thuyết khéo bày đặt những truyện vui truyện lạ cho ai nấy phải mê”.

(Còn tiếp)

N.Đ.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: