Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 10, 2013

Những hoa trái đầu mùa của văn học Việt Nam hiện đại – P2

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:32 chiều

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 3 tháng 10 năm 2013.

NHỮNG HOA TRÁI ĐẦU MÙA CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Nguyễn Đức Thuận.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần đầu của bài cùng tên in trong sách Đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn trên Nam Phong Doan thien tieu thuyettạp chí của tiến sĩ Nguyễn Đức Thuận sưu tầm, chú thích, giới thiệu (NXB Văn Học 2013) từ trang 7-29.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thuận, trưởng khoa Ngữ văn Đại học Hải Phòng từng xuất bản các tác phẩm Hương biển (Thơ – NXB Hải Phòng, 1996), Nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn (Chủ biên) – (NXB Giáo Dục, 2006), Văn trên Nam Phong tạp chí (NXB Văn học, 2008), Đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí (NXB Văn học 2013).

Chúng tôi chia làm hai phần để bạn đọc dễ theo dõi.

*

*   *

(Tiếp theo)

Khi bàn về việc xây dựng kết cấu và nhân vật, Phạm Quỳnh cho rằng “phần cốt yếu trong phép làm tiểu thuyết là sự kết cấu”, và ông nhấn mạnh “phàm kết cấu ra một truyện, phải có hai phầnPham Quynh_Tre, một là nhân vật, hai là tình tiết, nghĩa là người và việc”. Ông cho rằng, khi viết truyện “Bấy nhiêu việc đều phải khuynh hướng về một nơi trung tâm điểm, là cái phần then chốt, cái khu nữu trong truyện (Le nœud de l’action ou de l’intrigue), tức là cho mọi việc dấu cả vào đấy, “chỗ thắt nút”, để rồi gỡ về sau… Phải làm thế nào cho rõ rằng việc là việc tự nhiên, cứ tuần tự mà tiến lên, đã xuất đầu như thế thời phải kết hữu như thế, đã kết hữu như thế thời phải quyết giải như thế, trước sau như có một cái lẽ tất nhiên, không thể tránh được”. Còn về nhân vật, tác giả Bàn về tiểu thuyết đã có những yêu cầu khá chi tiết và cụ thể: “Kết cấu các nhân vật trong tiểu thuyết, bao giờ cũng phải căn cứ ở cái tính thông thường của loài người”, và “các nhân vật trong tiểu thuyết phải có sinh hoạt như người thường cử động như người thật, chớ không thể như cái tượng gỗ hay là hình bù nhìn được… Đại khái người trong tiểu thuyết phải tả thế nào cho thành những “mô dạng” (des types), nghĩa là mỗi người có thể làm biểu hiện cho một hạng người trong xã hội, mà mỗi người lại vẫn có một tính cách riêng, tức là nhân vật kết cấu ra phải có một phần phổ thông giống với nhiều người, và một phần đặc biệt riêng của một người vậy”.

Đi sâu hơn về lý thuyết xây dựng nhân vật, tác giả viết: “Thuật tả người… phải qua hai phép tắc chung như sau: một là phàm tả người phải tả cả hình dung diện mạo, lại phải tả cả tư cách tính tình; hai là một người đã tả ra tư cách thế nào thời từ đầu đến cuối truyện phải cử động theo một tư cách như thế, không được sau trước khác nhau”. Để làm được như thế, theo tác giả, “người làm tiểu thuyết ngoài cái tài văn chương, lại phải có kinh lịch, có quan sát mới làm được”.

Bàn về “các lối hành văn”, tác giả cho rằng: “Văn tiểu thuyết chính là văn tự sự, tự sự nghĩa là văn kể chuyện”, và “trong một bộ tiểu thuyết không có lối văn gì là không dùng đến”. Ông có ý chê lối văn Tàu, lối văn mà nhiều cây bút viết văn của nước ta hồi đó ảnh hưởng khá nặng nề, đó là lối văn “chép sử”, lối văn “không đảo ngược”, lối văn “đường thẳng”, không khỏi có “cái buồn một giọng”. Ông cổ động các cây bút sáng tác của nước ta thời bấy giờ nên bắt chước lối văn Tây, vì “văn Tây có cái vẻ đột ngột tự nhiên, kể chuyện gì nói ngay vào việc, có ý lanh lẹ hoạt bát, vì cứ theo cái điệu trong truyện mà khi hoãn khi gấp, khi gần khi xa…bao giờ cũng là in với nghĩa truyện”. Đặc biệt, theo tác giả, văn Tây đặc sắc nhất là: “ đương dùng lối tự sự lại biết khéo tham bác các lối tả cảnh tả tình”. Cuối cùng, tác giả bài viết đã đề cập đến vấn đề cá tính hóa ngôn ngữ nhân vật: “người nào nói theo tính cách riêng của người ấy”, “mỗi câu nói là một nét bút tả cái tâm tính một người vậy”.

Có thể nói, tất cả những công việc, từ vấn đề nghiên cứu phổ biết lý thuyết, mang tính chất hướng dẫn xác định mô hình thể loại cho đến những việc mang tính chất “bếp núc” của việc sáng tác một “tiểu thuyết” như thế nào, tác giả Bàn về tiểu thuyết cũng đã “bàn” khá kỹ!

Trong bài viết nay, Phạm Quỳnh còn dựa vào “ý nghĩa mà chia ra” làm nhiều loại tiểu thuyết, như: tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết về triết học, tiểu thuyết về xã hội, tiểu thuyết về tâm lý, gọi tổng danh là “lý luận tiểu thuyết” (romans à thèses), nghĩa là những truyện đặt ra để chứng giải một cái lý thuyết gì. Dựa vào “hình thức” mà chia thời có: tiểu thuyết tự sự, tiểu thuyết bằng thư trát vãng lai, nghĩa là theo thể viết thư, tiểu thuyết bằng nhật ký, bằng tự truyện… Lại có lối tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết lí tưởng, tiểu thuyết ngụ ngôn, tiểu thuyết cảm hoài… Sau cùng, ông dựa vào “tính chất” các tiểu thuyết mà phân ra làm ba loại: tiểu thuyết ngôn tình (romans passionnels), tiểu thuyết tả thực (romans de mœurs), tiểu thuyết truyền kì (romans d’aventures). Trong ba loại tiểu thuyết này, tiểu thuyết ngôn tình “là loại thịnh hành hơn cả”. “Tiểu thuyết đời nào, nước nào cũng là thiên tả về ái tình nhiều lắm, và nhất là tiểu thuyết của các nước Âu Mĩ đời nay lại dành cho ái tình một cái địa vị rất là to lớn”. Ông cho rằng: “nhà tiểu thuyết không tất nhiên là phải đồng thanh nối gót với nhà luân lý, nhà đạo đức; song có điều rằng nói chuyện tình mà chỉ thiên ý tả cái trạng thái thô bỉ của tình nhiều hơn là cái tinh thần cao thượng của tình, thời không khỏi không hại cho phong tục, cho xã hội, cho phụ nữ, cho thanh niên…”. Ông cảnh báo các cây bút sáng tác tiểu thuyết của nước ta chớ nên làm theo cái thứ tiểu thuyết ấy: “Đương lúc lối tiểu thuyết còn phôi thai ở nước ta, hoặc có người thấy nhưng tiểu thuyết ngôn tình của Tây hay mà muốn bắt chước thật cũng rất nên răn vậy”.

Thiết nghĩ, so với lý thuyết về thể loại và nhân vậy sau này, những ý kiến của tác giả Bàn về tiểu thuyết từ ngày ấy cũng không khác nhau là mấy! Ở vào thời điểm bấy giờ, “bàn về tiểu thuyết” như thế, kể cũng đã là xác đáng!

Khi phân biệt giữa “đoản thiên”, “trung thiên” và “trường thiên” tiểu thuyết, tác giả Bàn về tiểu thuyết cho rằng, những loại Tiểu thuyết ngôn tinh (trong có nói chuyện tình), Tiểu thuyết tả thực (tiểu thuyết về phong tục- romans de mœurs), “nghĩa là cốt tả cái tính trạng trong xã hội” “Tiểu thuyết truyền kỳ” (“chép những chuyện lạ, không phải hàng ngày trông thấy”) đều được coi là những “trường thiên tiểu thuyết, nghĩa là nhưng truyện dài cả”. Tác giả viết thêm: “đem in thành sách, khổ giấy trung bình, thường phải dùng hơn hai trăm đến ba trăm trang…”. Thực ra, sự phân biệt này là chưa thỏa đáng. Tác giả Bàn về tiểu thuyết đã dựa vào tính chất của đề tài và dung lượng vật chất của tác phẩm mà phân chia là chưa đủ. Căn cứ chủ yếu phải là ở quy mô phản ánh cuộc sống, quy mô xây dựng nhân vật và hệ thống các nhân vật của tác phẩm.

Có một điều chú ý là, tác giả bài viết đã phân biệt khá rõ thể loại, “đoản thiên tiểu thuyết” với các thể dạng “tiểu thuyết” đã nêu trên: “Nhưng ngoài các lối ấy có một lối gọi là “đoản thiên tiểu thuPham Quynh chu but Nam Phongyết” (nouvelle) nghĩa là tiểu thuyết ngắn, thể thức cũng như thường, chỉ có ngắn hơn mà thôi, lại có lối gọi là chí dị hay là nhàn đàm tiểu thuyết (conte), Nhật Bản gọi là “lưu ly ngữ”) cũng là một thể tiểu thuyết ngắn, nhưng thường thuật những chuyện hư không tưởng tượng, hoặc hoặt kê khôi hài, cốt lấy ý tứ thanh thoát, lời văn nhẹ nhàng, cung có một đôi khi ngụ ngôn, khuyến giới…”

Mặc dù còn có những điều phải bàn thêm nữa, nhưng về cơ bản các thuật ngữ “đoản thiên tiểu thuyết”, “trung thiên tiểu thuyết”, “trường thiên tiểu thuyết”, mà ông chủ bút Nam Phong tạp chí nêu trên, tương ứng với thuật ngữ “truyện ngắn”, “truyện vừa”, “tiểu thuyết” mà sau này chúng ta đã sử dụng. Thuật ngư “Đoản thiên tiểu thuyết” đã được Nam Phong đặt thành một mục riêng, mục “Tiểu thuyết”, là một trong tám mục thường kỳ của tạp chí, được dùng từ năm 1917 cho đến mãi năm 1933. Từ số 197, tháng 5 1934 trở đi cho đến khi đình bản (tháng 12-1934), Nam Phong tạp chí mới đổi tên mục này là “Truyện ngắn”.

Lâu nay, nhiều nhà nghiên cứu giai đoạn văn học này vẫn thường dùng thuật ngữ “Truyện ngắn” để gọi tên cho những “Đoản thiên tiểu thuyết” in trên Nam Phong tạp chí. Dùng như thế chỉ nhằm mục đích làm cho “tiện” và dễ gọi mà thôi! Thực ra, Nam Phong tạp chí đã sử dụng thuật ngữ “Đoản thiên tiểu thuyết” (hay đảo lại là “Tiểu thuyết đoản thiên”), rồi sau này là “Truyện ngắn” như đã nêu trên là có ý thức rõ rệt. Thể loại này không hẳn đồng nhất với thể loại truyện ngắn. Chính trong Lý luận văn học của Gu-lai-ép, khi viết về loại hình tự sự, tác giả cũng đã chia thành 8 loại nhỏ. Trường ca tự sự (anh hùng ca), Trường ca, Trường ca tự sự – trữ tình, Tiểu thuyết, Truyện vừa, Truyện ngắn, Tiểu thuyết đoản thiên, Ký. Như vậy, “Tiểu thuyết đoản thiên” với tư cách là một thể loại, nó có tính chất độc lập. Khái niệm về thể loại này, Gu-lai-ép viết: “Tiểu thuyết đoản thiên cũng thuộc hình thức tự sự loại nhỏ (tiếng Italy nouvella – tin tức). Không có nhưng dấu hiệu rõ ràng phân ranh giới giữa nó và truyện ngắn. Song các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một loạt nét đặc thù của nó trong cấu trúc, bộc lộ rõ rệt nhất trong thời kỳ đầu phát sinh và phát triển của thể loại tiểu thuyết đoản thiên” (N.A. Gu-lai-ép (1982), Lý luận văn học, NXB Đại học Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, tr.260). Theo tác giả thì thể loại này xuất hiện rõ vào thời đại Phục hưng. “Nó hình thành trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa nhân văn châu Âu, khi còn chưa có những hiện tượng khủng hoảng dẫn tới nảy sinh tiểu thuyết và bi kịch”. Rõ ràng “Tiểu thuyết đoản thiên” có nguồn gốc lịch sử của nó. “Nó mang theo một thái độ mới đối với hình thái phong kiến của cuộc sống, đối với đạo đức trung cổ”. Ở giai đoạn bấy giờ nhân vật của tiểu thuyết đoản thiên “là mũi dùi nhọn đâm vào trật tự đã thiết lập từ trước, gây nên sự rối loạn mà người ta cố đem sự sùng phục để nén dịu đi: tiểu thuyết đoản thiên là tin rõ ràng về những thành tựu cá nhân đã trở thành lực lượng toàn thế giới” (Ber-cốp-xki). Gu-lai-ép còn cho biết thêm rằng: “Cơ sở của tiểu thuyết đoản thiên thường là một biến cố đặc biệt nào đó trong cuộc sống của một con người riêng lẻ hoặc một trường hợp ngẫu nhiên buồn cười với kết thúc bất ngời, sắc cạnh”. Tiếp đó, tác giả còn rút ra nhận xét: “Những đặc điểm này làm cho nó khác với truyện ngắn, trong đó người ta kể về những sự kiện bình thường nhất, về bề ngoài không có gì đặc biệt. Người viết tránh việc mô tả chi tiết sinh hoạt hằng ngày, cũng như về mặt lịch sử và dân tộc học. Nhân vật được họ thể hiện trước hết là bản chất đạo đức, chứ không phải là bản chất chính trị xã hội (N.A.Gu-lai-ép (1982), Sđd, tr261)”. Sau thời đại Phục hưng, tiểu thuyết đoản thiên phổ biến rộng rãi trong sáng tác của các nhà văn lãng mạn như Hốp-Hoang Ngoc Phachman (với Chiếc lọ vàng, Cậu bé tí hon Xa-khét, Gô-gôn (với Những buổi tối trong trang trại gần kề Đi-can-ca)… Nhân vật của nó “đối lập gay gắt giữa lý tưởng và thực tại”. Đến thời đại của chủ nghĩa hiện thực phê phán, “tiểu thuyết đoản thiên mất dần vai trò chủ đạo của nó. Nó có xu hướng bị lấn át bởi truyện ngắn là thể loại mô tả những hiện tượng của đời sống ở dạng tự nhiên bình thường của chúng, không có sự căng thẳng đặc biệt đầy kịch tính, nhưng có giá trị nhận thức và giá trị thẩm mỹ (N.A.Gu-lai-ép (1982), Sđd, tr 262)”. Tuy nhiên, sang thế kỷ XIX nó vẫn không biến mất, trong chủ nghĩa hiện thực phê phán, nó đã “biến hóa, có tính chất tổng hợp, kết hợp trong nó phương pháp tâm lý, tính kịch gay gắt và khuynh hướng nghiên cứu xã hội”. Đó là những sáng tác của Guy de Maupassant (với Viên mỡ bò, Trên bến cảng, Cô fifi)… hay của T.Man (với Tô-ni-ô Kre-ghe, Cái chết ở Vê-nê-xia…).

Nói tóm lại, nếu như “Tiểu thuyết đoản thiên” với tư cách là một thể loại có nguồn gốc lịch sử và những đặc điểm thể loại riêng biệt như ý kiến của Gu-lai-ép ở trên, đem đối chiếu với việc sử dụng thuật ngữ và thực tiễn sáng tác của Nam Phong, chúng ta có thể kết luận rằng: chính thuật ngữ này là thuật ngữ chính xác để Nam Phong gọi tên cho những truyện đăng trên Nam Phong tạp chí từ số 10, tháng 1/1928 đến số 179, tháng 12/1932. Từ tháng 1 năm 1933 đến tháng 12/1934 (đình bản), Nam Phong tạp chí dùng thuật ngữ “Truyện ngắn” là đúng với thể loại của những sáng tác tiếp đó, (như các truyện ngắn Ông phú Xẹ, Bức ảnh phóng đại, Vì đâu nên nỗi”, Lưỡi dao oan nghiệt, Từ hôn…)

Và nếu như quả là thuật ngữ “Tiểu thuyết đoản thiên” mà Nam Phong tạp chí và một số báo chí, tạp chí khác cùng thời đã sử dụng nói chung là đúng và được các nhà nghiên cứu chấp nhận, thì chúng tôi nghĩ rằng: Nam Phong tạp chí đã du nhập thể loại “Tiểu thuyết đoản thiên” (Nouvelle) vốn có từ nguồn gốc phương Tây vào Việt Nam vào giai đoạn đầu thế kỷ XX, trong hoàn cảnh văn học nước nhà đang trên con đường hiện đại hóa, và Nam Phong đã nhiệt tình cổ động các văn sĩ nước ta sáng tác theo thể loại ấy. Như vậy, tiểu thuyết đoản thiên có thể được coi là tiền thân của thể loại truyện ngắn sau này.

Đến đây có thể xác định rằng, lịch sử thể loại tự sự ở nước ta có một thể loại là “Tiểu thuyết đoản thiên” xuất hiện vào cuối những năm 1910 và những năm 20 của thế kỷ XX, rồi sau này nó được thay thế bằng “Truyện ngắn” vào những năm 30 của thế kỷ trước. Thực tế, nhưng đoản thiên tiểu thuyết của Nam Phong tạp chí trong giai đoạn bấy giờ đã in rất rõ dấu ấn đặc điểm của thể loại này, Bác nghiện – Vũ Miễn Nam, Câu chuyện nhà sư – Nguyễn Bá Học, Truyện cô Phụng – Đoàn Ngọc Bích, Duyên kỳ ngộ một chị hàng hoa – Nguyễn Ngọc Thiều…

Nhưng trên Nam Phong, theo chúng tôi, lại cũng có một số truyện nằm ở ranh giới giữa “tiểu thuyết đoản thiên” và “truyện ngắn”, như Sống chết mặc bay – Phạm Duy Tốn, Một cánh hoa chìm – Nguyễn Văn Cơ, Giọt lệ hồng lâu – Hoàng Ngọc Phách…

Nhìn lại tính lịch sử của thuật ngữ “tiểu thuyết” mà Nam Phong đã sử dụng như trên, lại căn cứ vào ý kiến của tác giả Bàn về tiểu thuyết, chúng ta vẫn nên dùng thuật ngữ “tiểu thuyết” khi tiếp cận với các “tiểu thuyết đoản thiên”, “tiểu thuyết trường thiên” đã in trên Nam Phong tạp chí trong thời gian 15 năm của “cái thuở ban đầu”, giai đoạn từ năm 1917 đến năm 1932. Hai năm cuối, từ tháng 1 năm 1933 đến tháng 12 năm 1934, Nam Phong mới đổi tên “Đoản thiên tiểu thuyết” bằng “Truyện ngắn”, là phù hợp với tính chất và đặc điểm của thể loại này từ đó về sau…

Khảo sát và giám định các truyện đã đăng trên Nam Phong tạp chí, so với cuốn Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong 1917-1934 của Hồng Nhuệ Nguyên Khắc Xuyên (Nhà xuất bản Thuận Hóa, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, in lần 2, ấn hành năm 2002), chúng tôi nhận thấy có sự không trùng hợp. Về số lượng đoản thiên tiểu thuyết và truyện ngắn đăng trên Nam Phong tạp chí, theo thống kê trong sách này, tại mục Văn phẩm, Truyện ngắn, Tiểu thuyết, từ trang 381-384 xác định có 73 tác phẩm. Tuy nhiên, qua khảo sát và giám định nghiêm ngặt, chúng tôi nhận thấy con số này là không thật chính Nguyen Tien Lang 2xác. Bởi lẽ, tác giả đã thống kê trong số đó 10 truyện bắt đầu bằng cụ từ “Câu chuyện”, mà từ nội dung đến hình thức đều không đúng với đặc trưng thể loại tiểu thuyết. (…) Cũng có thể nhận thấy, những truyện này thật khó xác định được đúng thể loại, bởi ở giai đoạn mở đầu này, đối với người cầm bút, viết truyện đã là khó, viết truyện cho đúng đặc trưng thể loại càng khó! Các tác giả của những tác phẩm này ở thời kỳ đó chưa thực sự nhuần nhuyễn trong việc sáng tác theo đúng yeu cầu thể loại. Điều này cũng thật dễ hiểu. Trước đây, trong cuốn Văn trên Nam Phong tạp chí (Nhà xuất bản Văn học, ấn hành năm 2008), chúng tôi có sử dụng số liệu 73 tác phẩm. Nay khảo sát lại, do không đúng tiêu chí về thể loại, nên chúng tôi không đưa vào sách này. Căn cứ để chúng tôi sưu tầm và cho in 47 truyện trong sách này dựa theo Nam Phong tạp chí đã tự xác định về thể loại là “Tiểu thuyết” hoặc “Đoản thiên tiểu thuyết” và “Truyện ngắn” mà tạp chí này đã viết trên tiêu đề của từng tác phẩm. Chỉ có theo sự xác định về thể loại của Nam Phong phong tạp chí mà điều chỉnh, sưu tầm văn bản và cho in, chúng tôi nhận thấy làm như vậy là phù hợp hơn cả. Cũng phải thêm rằng, có một số trường hợp cùng trong một mục “Tiểu thuyết”, song Nam Phong cho đăng hai hoặc ba truyện của một tác giả. Ví như Nam Phong tạp chí số 159, Phạm Vọng Chi có ba truyện với nội dung hoàn toàn khác nhau: 1)Vì đâu nên nỗi dở dang – Vì nàng mê tín, vì chàng tà dâm; 2) Vô nam dụng nữ, vô tử hoàn tông; 3) Mại thiếp vi nô; chúng tôi thống kê thành ba mục truyện, thống nhất như cách thống kê của Nguyễn Khắc Xuyên trong Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong. Xem vậy, con số thống kê kể trên cũng chỉ là tương đối. Ngoài ra, trên Nam Phong tạp chí còn có một trường hợp là truyện Tình xưa của Nguyễn Tiến Lãng (số 179) viết bằng Pháp văn đã đăng trên Phụ nữ tân văn, nay tác giả thể theo nguyện vọng của bạn bè, độc giả mà cho in lại trên Nam Phong. Bản dịch từ nguyên tác Pháp văn của Nguyễn Tiến Lãng do Đông Hồ dịch. Chúng tôi cũng xem như đó là tác phẩm đăng trên tạp chí này.

N.Đ.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: