Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 10, 2013

Phạm Quỳnh – Nam Phong tạp chí (P16: Một đạo sư văn nghệ mới: Phạm Quỳnh)

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:21 sáng

Blog PhamTon năm thứ hai, tuần 2 tháng 10 năm 2011.

PHẠM QUỲNH – NAM PHONG TẠP CHÍ

Phạm Thế Ngũ

Lời dẫn của Phạm Tôn: Kỳ này, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc ý kiến về Phạm Quỳnh của Phạm Thế Ngũ, một học giả cùng quê Bình Giang Hải Dương với Phạm Quỳnh. Bộ sách Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên của ông xuất bản lần đầu tại Sài Gòn (1961-1965), cùng thời gian với cuộc tranh luận về Phạm Quỳnh do Nguyễn Văn Trung mở đầu tại đây mà các bạn đã theo dõi trên Blog PhamTon thời gian qua. Cũng là để rộng đường dư luận, góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn.

Phần trích đăng sau đây, chúng tôi lấy từ bộ sách của Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử – Giản ước tân biên (Sách tham khảo) của Nhà xuất bản Đồng Tháp, 1998, chương III, Tập III Văn học hiện đại (1862-1945) (từ trang 290 đến 293).

Trong Từ điển Văn học – Bộ mới của Nhà xuất bản Thế Giới, 2004, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá viết về Phạm Thế Ngũ như sau:

“PHẠM THẾ NGŨ

(12.VI.1921-9.V.2000). Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo Việt Nam. Nguyên quán làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ được ông thân sinh dạy chữ Hán trong năm, sáu năm. Mãi đến năm lên mười mới khai sinh bớt đi bốn tuổi để xin vào học Trường sơ học Pháp – Việt ở quê. Tiếp tục học trung học ở Trường Bảo hộ (Trường Bưởi) Hà Nội. Đỗ Tú tài năm 1944, sau đó học Đại học Khoa học. Việc học bị gián đoạn vì chiến tranh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 1946, ông cùng gia đình tản cư về quê. 1947-49, dạy học ở Trường Bắc Sơn (Hải Dương), rồi Trường Phạm Ngũ Lão (Hưng Yên). 1950, trở về Hà Nội, chuyển sang học Đại học Văn khoa Hà Nội và đạt học vị Cử nhân năm 1953. 1954, vào Nam, lần lượt dạy học ở Nha Trang (Trường trung học Võ Tánh), Cần Thơ (Trường trung học Phan Thanh Giản). 1957-72, dạy Trường trung học Pétrus Ký Sài Gòn. Vừa dạy học, Phạm Thế Ngũ vừa biên soạn sách: sách giáo khoa văn, triết học bậc trung học và chuyên khoa. Ông lập Nhà xuất bản Phạm Thế, xây dựng Quốc học tùng thư và tự xuất bản sách của mình. Công trình có giá trị hơn cả là bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1961-65). Bộ sách được liên tiếp tái bản các năm 1968, 1972, 1996. Ba tập sách, tập sau dày hơn tập trước, tổng cộng 47 chương, hơn 1500 trang, bao quát toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam, từ “văn học truyền khẩu” đến văn học viết; từ văn học viết thuở ban đầu (thế kỷ X) bằng chữ Hán, đến văn học viết bằng chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ. Trong hoàn cảnh chính trị – xã hội phức tạp của vùng thành thị miền Nam lúc ấy, và với thái độ nghiêm túc, ông đã dừng lại ở năm 1945.

“Tác giả khiêm tốn khi dùng hai chữ “giản ước” để đặt tên sách. Thực ra sách được biên soạn chu đáo, kỹ lưỡng; tư liệu phong phú, chuẩn xác; nhận định đánh giá khá cân nhắc, thận trọng.

“(…) Phần có sức nặng hơn cả của công trình là tập III (mà ông gọi là Văn học hiện đại, 1862-1945). Ông giải thích khá cặn kẽ nguyên nhân suy tàn của Hán học và văn học chữ Hán, cũng như của văn học chữ Nôm. Ông chia quá trình hiện đại hoá văn học ra làm ba giai đoạn: giai đoạn thử nghiệm bước đầu (1862-1907), giai đoạn phát triển (1907-32), và giai đoạn hưng thịnh (1932-45). Một số chương được viết rất kỹ lưỡng: Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí , Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, sự hình thành của tiểu thuyết mới v.v… Mỗi chương dài hàng trăm trang.

“(…) Cũng cần nói đến văn phong của ông. Vẫn tuân thủ yêu cầu nghiêm nhặt của văn nghiên cứu: rành mạch, khúc chiết, chặt chẽ, nhưng Phạm Thế Ngũ đã làm cho việc đọc sách của độc giả trở nên dễ chịu hơn vì lối viết giản dị, mực thước và có duyên của ông.

“(…) Dù còn những vấn đề cần được trao đổi (…) giá trị bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên vẫn xứng đáng được khẳng định. Nó đã có ích cho một thế hệ người đọc trong các thành thị miền Nam trước năm 1975. Đến nay nó vẫn có ích cho những người muốn hiểu văn học Việt Nam trong hàng chục thế kỷ. Suốt cuộc đời mình, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ đã sống ung dung, thanh thản đúng với tinh thần đôi câu đối ông viết lúc cuối đời: “Thế sự bách niên, mọi mối tơ vương bay đi cùng mây gió/ Văn chương thiên cổ, một mảnh hồn thơm ở lại với trăng sao.”

*

*       *

PHẦN 16: MỘT ĐẠO SƯ VĂN NGHỆ MỚI: PHẠM QUỲNH

Trong việc đào luyện công chúng và văn gia để tiến tới một nghệ thuật tiểu thuyết mới vào giai đoạn này, ta phải kể đến vai trò quan trọng của Phạm Quỳnh và báo Nam Phong. Không phải quan trọng ở việc dịch tiểu thuyết ngoài. Vì ở điểm này thì ông phải thua xa Nguyễn Văn Vĩnh. Nguyễn Văn Vĩnh dịch cả chục bộ, có bộ đăng báo đến 2, 3 năm, xuất bản ra thành mấy chục tập. Phạm Quỳnh chỉ dịch mươi truyện ngắn, còn những truyện dài ông thường chỉ lược thuật mà thôi. Ta thấy hai quan niệm khác nhau giữa hai nhà dịch thuật. Nguyễn Văn Vĩnh dịch để mua vui, dịch những truyện phiêu lưu, ly kỳ, dài và hấp dẫn, chẳng qua cũng như Nho gia dịch tiểu thuyết Tàu cổ mà thôi. Phạm Quỳnh dịch để giới thiệu một tư tưởng hoặc một nghệ thuật mới. Cho nên không những ông dịch mà ông còn bình luận, giảng giải cho người ta hay tiểu thuyết Tây đặc sắc ở chỗ nào, ở câu truyện, ở cách viết, ở tâm lý nhân vật, tất cả cách biệt với lối tiểu thuyết Tàu hoặc truyện của ta như thế nào. Đó là đại để chủ đích mục “Bình luận tiểu thuyết” của ông trên Nam Phong từ 1917 đến 1922. Nó giúp người đọc khi đó nhiều chỉ dẫn hữu ích để làm quen với tiểu thuyết Tây. Không những bình luận để giúp người đọc thưởng thức, mà ông còn viết hẳn một thiên lý thuyết quan trọng để giảng giải cho người viết kỹ thuật sáng tác. Bài Khảo về tiểu thuyết của ông đăng ở Nam Phong năm 1921 là một thiên biên khảo tuy vắn tắt nhưng đầy đủ, mạch lạc, có giá trị rất vững. Ông viết để mở đầu: “Lối tiểu thuyết trong văn chương ta thật là chưa có phương châm, chưa có định thể. Đương lúc bây giờ nên giải nghĩa rõ tiểu thuyết là gì và bàn qua phép làm tiểu thuyết ở các nước Âu Mỹ thế nào để có thể giúp cho nhà tiểu thuyết ở nước ta được một đôi phần”. Không những giảng giải cho người ta cách làm tiểu thuyết mới mà ông còn đón nhận vào tờ báo của ông những tác phẩm nào xét ra có chút giá trị, viết lời giới thiệu, khuyến khích đậm đà, làm công việc tựa như đỡ đầu cho một văn loại mới chập chững bước ra, hoặc nói rộng, công việc của một bậc đàn anh trong làng văn nghệ. Thiện chí xây dựng của Phạm Quỳnh ở đây thực đáng ghi nhận. Mặc dầu không sáng tác song ông đã có công nhiều trong việc gây dựng thể văn này, tờ Nam Phong của ông về sau thành nơi nảy mọc những sáng tác đầu tiên có giá trị.

Ảnh hưởng của Phạm Quỳnh không phải chỉ ở việc tuyên truyền và khuyến khích một loại sáng tác mà còn ở những quan niệm riêng của ông về loại ấy đối với một giai đoạn văn học sử nước nhà. Trong những bài bình luận, nhất là trong thiên khảo về tiểu thuyết, ông thường lộ rõ mấy chủ kiến sau đây:

* Ông cho rằng trong lúc đầu này nhà văn ta chưa nên nuôi tham vọng xây dựng những tiểu thuyết lớn mà chỉ nên viết những đoản thiên tức cũng như những bài tập để cho quen tay.

* Ông tỏ ý e ngại về loại tiểu thuyết ngôn tình (như: về tình yêu nam nữ – PT chú) vì không có lợi cho luân lý xã hội, cho phụ nữ và thanh niên, nhất là đối với dân ta đương lúc phải nuôi ý chí tự cường.

* Ông ca tụng khuynh hướng hiện thực của văn Tây, nhất là ca tụng cái tài sáng tạo nhân vật, đem cuộc đời thật, những điều quan sát sự vật và tâm lý vào trong truyện, khác hẳn với cách thức làm tiểu thuyết của người mình xưa nô lệ những khuôn sáo cũ.

* Ông khuyên trong giai đoạn này người mình nên để ý đến loại tiểu thuyết truyền kỳ (roman d’aventure) vì loại này gần giống với tiểu thuyết Đông phương ta, ưa sự kỳ lạ, loại này lại không trọng văn chương lắm nên thích hợp với trình độ văn quốc ngữ ta còn non nớt, không kể còn có cái lợi là giúp cho sự phổ thông giáo dục.

Những ý kiến trên đã ảnh hưởng đến quan niệm sáng tác của các nhà văn bấy giờ, không cứ ở trên báo Nam Phong mà còn ở ngoài. Phải chăng vì e ngại tiểu thuyết ngôn tình mà Hoàng Ngọc Phách tuy viết Tố Tâm từ 1922 song mãi đến 1925 mới dám cho in ra. Phải chăng vì nghe theo lời khuyên của Phạm Quỳnh mà Nguyễn Trọng Thuật đã đi viết một tiểu thuyết phiêu lưu rất là xây dựng là cuốn Quả dưa đỏ. Điều dễ thấy hơn là xét những đường hướng Phạm Quỳnh đã vạch ra ở trên, ta cũng thấy rõ ràng ở đó mấy tính chất chung của tiểu thuyết trong cả giai đoạn này: Sự quan trọng của sáng tác đoản thiên, mà những đoản thiên ấy thường cũng chỉ có giá trị những bài tập mà thôi – Sự cố gắng đem cuộc đời, sự thật vào trong truyện – Nhất là chủ ý cảnh thế, sự băn khoăn đối với thế đạo nhân tâm. Mặc dầu kỹ thuật có đổi thay, mặc dầu muốn hướng vào sự thật trước mắt, mặc dầu ở vài trường hợp tình cảm lãng mạn có dâng cao, song nhà viết tiểu thuyết thời này vẫn không rời lập trường đạo lý, bởi họ đều nghĩ như Phạm Quỳnh trong lời kết bài bàn về tiểu thuyết: “Nhà làm văn có trách nhiệm duy trì cho xã hội, dìu dắt cho quốc dân, nếu làm sai trách nhiệm ấy thì dẫu văn chương hay đến đâu cũng là có tội với danh giáo vậy”.

P.T.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: