Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 18, 2013

Du ký trên tạp chí Nam Phong

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:13 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 4 tháng 10 năm 2013.

DU KÝ TRÊN TẠP CHÍ NAM PHONG

Phong Lê

Lời dẫn của Phạm Tôn : Đây là bài Giáo sư Phong Lê viết nhân đọc bộ Du ký Việt Nam, ba tập, do Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm, giới thiệu, NXB Trẻ, 2007.

Giáo sư Phong Lê : giải thưởng Nhà nước về Khoa học năm 2005. Sinh ngày 10-11-1938 tại xã Sơn Trà, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội. Cuối năm 1959 về công tác ở Viện Văn học – Ủy ban Khoa học Nhà nước, nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Viện trưởng Viện Van học kiêm Tổng biên tập Tạp chí Văn học (1988-1995). Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam – từ 1979. Đã tham gia : Hội đồng lý luận phê bình Hội Nhà văn Việt Nam, Hội đồng văn học công nhân của Tổng Công đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam, Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam, Hội đồng khoa học Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước…

Những tác phẩm chính : Mấy vấn đề văn xuôi Việt Nam 1945-1970 (1972) ; Văn và người (1976) ; Văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện thực xã hội chủ nghĩa (1980) ; Chủ tịch Hồ Chí Minh và văn học Việt Nam hiện đại (1986) ; Văn học và công cuộc đổi mới (1994) ; Văn học trên hành trình của thế kỷ XX (1997) ; Nam Cao : phác thảo sự nghiệp và chân dung (1997) ; Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh : hành trình thơ văn, hành trình dân tộc (2000-2006) ; Một số gương mặt văn chương – học thuật Việt Nam hiện đại (2001) ; Văn học Việt Nam hiện đại – những chân dung tiêu biểu (2001) ; Văn học Việt Nam hiện đại – lịch sử và lý luận (2003) ; Viết từ Hà Nội (2003 ; 2009) ; Về Văn học Việt Nam hiện đại – nghĩ tiếp… (2006) ; Hiện đại hóa và đổi mới văn học Việt Nam thế kỷ XX (2009) ; Đến với tiến trình văn học Việt Nam hiện đại (2009) ; Cảm thức tân xuân (2010) ; Đến với 55 nhà văn, nhà văn hóa Việt Nam (2011) ; Thơ văn Hồ Chí Minh – những giá trị vĩnh cửu (2012) ; Định vị văn chương Việt (2012)

*

*        *

62 bài du ký, trong đó có những du ký đã sớm được in thành sách ngay sau khi xuất hiện trên báo như Mười ngày ở Huế (1918) và Một tháng ở Nam Kỳ (1919) của Phạm QuỳnDu ky viet namh, Hạn mạn du ký (1921) của Nguyễn Bá Trác. Nhưng hội lại trong một bộ sưu tập để có một gương mặt chung về du ký Việt Nam trên Nam Phong, hoặc rộng ra là du ký trong hai thập niên trước mốc lịch sử 1930, thì đến bây giờ mới được làm, trong khi đáng lẽ có thể làm sớm hơn. Bởi việc đó, theo tôi có đem lại hứng thú và lợi ích cho nhiều giới nghề nghiệp, chẳng hạn Khoa Du lịch học, khoa Bảo tàng lịch sử và Bảo tàng danh nhân, cùng các giới nghiên cứu về khoa học xã hội, kể cả những người công tác ở các lĩnh vực hội họa, kiến trúc, điện ảnh…

Ở đây, do nhu cầu tìm hiểu về du ký, nên tôi muốn tìm một cách tiếp cận thích hợp với đặc trưng và mục tiêu của du ký, qua các câu hỏi chung quanh việc Đi. Đó là : Đi đâu ? Bằng phương tiện gì ? Ai đi và đi với ai ? Và đi với mục đích gì ?

Lại cũng do khuôn khổ hạn chế của số trang, nên tôi chỉ giới hạn trong việc trả lời hai câu hỏi cuối cùng.

*

*      *

(…) Đi, do một nhu cầu thư giãn hay đi vì một công vụ gì đó, thì việc ghi chép những điều suy ngẫm và mắt thấy tai nghe vẫn là thuộc về tư chất và thói quen của nhà Nho hoặc trí thức Tây học còn đậm chất Nho. Nếu Đông Hồ viết Thăm đảo Phú Quốc nhân một «việc quan sai » nho nhỏ thì Phạm Quỳnh ghi Pháp du hành trình nhật ký lại do một trách nhiệm lớn : « được quan Thống sứ Bắc Kỳ cử sang Đại Pháp thay mặt cho Hội Khai Trí Tiến Đức để dự cuộc Đấu xảo Marseille ; lại được quan Toàn quyền đặc phái sang diễn thuyết tại mấy trường lớn ở Paris, ngày 9 tháng 3 năm 1922 ».

Trở lại tư cách của người viết qua mấy chục du ký- mà ở đây tôi chỉ dẫn 2 trường hợp là Đông Hồ và Phạm Quỳnh, để thấy phẩm chất của trí thức thuộc cả hai phái Cựu học và Tân học, cùng với tư cách xã hội đã quy định chặt chẽ nội dung và cách viết của họ.

Là học giả, là trí thức, lại vừa là hoặc từng là công chức của nhà nước nên mỗi du ký bao giờ cũng là sự dồn nén các tri thức về địa dư và lịch sử, cùng những cảm khái và suy ngẫm về thời thế. Mỗi du ký, xen với việc kể, tả thế nào cũng có những suy nghĩ về xưanay, về người ta, qua đó gửi gắm khát vọng thay đổi đất nước, sao cho thoát khỏi sự lạc hậu và tăm tối, để được bằng người.

Cũng do tư cách và mục đích của người viết là như thế nên giá trị văn chương của các du ký thường xen lẫn với nhiều giá trị khác – những giá trị mang tính học thuật, như giá trị sử học, xã hội học, dân tộc học, phong tục học, văn hóa học, địa phương học… Xem cách Phạm Quỳnh thuật chuyện về Paris hoặc du ký về Paris thì thấy rất rõ điều này. Đây không hẳn là một áng văn chương về Paris, mà là một miêu tả và khảo sát về Paris, trên rất nhiều phương diện, khiến tôi nghĩ, cho đến bây giờ, có biết bao người đi Paris như đi chợ, nhưng đã có ai kể lại được cho ta biết cụ thể đến thế về Khải hoàn môn, Điện Elysée, Bảo tàng Le Louvre, Đại học Sorbonne, Xóm La tinh, Vườn hoa Luxembourg, Quảng trường La Concorde, Điện Panthéon, Nhà thờ Đức Bà, và Tháp Eiffel : « cao những 300 thước (…) khởi dựng ngày 28 tháng Giêng năm 1887, đến ngày 31 tháng 3 năm 1889 mới thành công, nặng cả thảy là 7 trăm vạn cân tây, trong có một vạn hai nghìn mảnh sắt nối lại với nhau bằng 250 vạn cái đanh sắt nặng cả thảy là 45 vạn cân. Dưới chân có bốn cái bệ bằng đá… ». Cách khảo tả tỷ mỉ như thế, cùng với cách suy ngẫm về người ta, ở rất nhiều trang, để cho thấy văn minh nước Pháp là cái văn minh được xây dựng từ nhiều thế kỷ, nên bất cứ hiện vật gì quý giá có liên quan đến các danh nhân, như chỗ vua Henri 4 bị ám sát, cái sân Molière thường qua lại để đến nhà hát, cai bao lơn Voltaire thường đứng tựa đều được bảo lưu cẩn thận qua thời gian ; tất cả đều cho thấy đặc trưng nội dung du ký của một thời mà xem ra ông chủ Nam Phong là người có đủ tư cách đại diện nhất.

Nhân chuyện sang Tây dự đấu xảo Marseille của các ông Vĩnh, Quỳnh, cùng lúc với chuyến sang Paris của Khải Định, cũng nên nhớ đến sự hiện diện của một người Việt Nam khác từ vài năm trước đó, ở Paris – là Nguyễn Ái Quốc. Trong một thân phận khác, Nguyễn đã viết du ký Paris ghi tại chỗ chính cái xóm chung quanh con hẻm mình ở ; và cho diễn vở kịch Con rồng tre và viết truyện ngắn Vi hành để công kích Khải Định. Lại cũng là một so sánh vui : nhân vật Khải Định này cũng có sự hiện diện trong Thuật chuyện du lịch ở Paris của Phạm Quỳnh. Choáng ngợp trước các đại lộ lớn với các cửa hiệu to, tràn ngập hàng hóa, tác giả viết : « Vào đến đây chỉ tiếc mình không phải là một đại phú ông nào để mua đồ cho thỏa chí. Những kẻ hàn sĩ lấy tiền đâu mà sắm sửa được như người. Nghe đâu có đức Hoàng đế ta chuyến ngự du Âu châu này, sắm được nhiều đồ vật quý lạ lắm, và thứ nhất là các « trang sức phẩm » ở Paris. Có ông Tây đã nói với tôi rằng : « Vua anh giàu thật ». Tôi nghĩ bụng : « Rõ ông này lại khen phò mã tốt áo ».

Cùng một thời điểm, trên cùng một sự kiện, từ những điểm nhìn và vị thế khác nhau, và với khoảng lùi thời gian, ta càng có thêm các dữ kiện mới để quan chiêm và soi sáng lịch sử.

*

*       *

Văn chương trong gắn nối với các mục tiêu học thuật đó là mục tiêu của Nam Phong, và đó cũng là giá trị toát ra từ các du ký, vốn là một thể trong văn xuôi. Sự xen cài, giao thoa này là đặc trưng của thời kỳ đầu hiện đại hóa, khi văn chương chưa thoát ra khỏi mục tiêu giáo huấn, và khi người viết là đứng ở nhiều tư cách, trong đó gồm cả, hoặc chủ yếu là tư cách học giả (érudit) mà chưa thật sự là nhà văn, theo nghĩa chuyên nghiệp (écrivain). Chính bởi đặc trưng và mục tiêu đó – vốn là sản phẩm của một thời, nên Nam Phong tạp chí nói chung (gồm cả du ký) đã thỏa mãn được nhu cầu học tập, đào luyện của một thế hệ trí thức mới như Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan, Đào Duy Anh… Thiếu Sơn viết năm 1933 : « Gần hai chục năm nay không biết Tạp chí Nam Phong có giúp được chút gì cho sự giữ gìn đạo đức trong dân gian không thì tôi không được biết. Chứ thực tình nó đã giúp được sự mở mang tri thức trong quốc dân nhiều lắm ». Và Đào Duy Anh, viết năm 1973 : « Tôi tự học văn học Việt Nam và biết viết Quốc văn phải nói thực một phần không ít là nhờ chuyên đọc Tạp chí Nam Phong. Trong khi dạy học ở Đồng Hới, đồng thời với việc học thêm chữ Pháp theo một chương trình nhất định, tôi không bỏ việc nghiên cứu Quốc văn và Hán văn, vẫn lấy Tạp chí Nam Phong làm công cụ chính »…

Và cũng gần như là thế, ở tư cách một bạn đọc bây giờ, sau 80 năm tôi vẫn rất hứng thú với khối tri thức được đem lại bởi Nam Phong. Ngay cả trong các du ký tôi cũng tiếp nhận được rất nhiều điều mới mà thời gian vẫn không làm cho cũ đi.

Chẳng hạn một cảnh Bờ Hồ ban đêm trong Đêm tháng Sáu chơi Hồ Hoàn Gươm mới chỉ cách đây hơn 80 năm mà tôi đoán chắc, ai là công dân Hà Nội, kể cả những nhà Hà Nội học bây giờ lại không nhận được một ngạc nhiên thích thú khi đọc.

Chẳng hạn về lịch sử hồ Ba Bể, hoặc phong thổ tỉnh Tuyên Quang…

Về Chùa Hương, với hành trình 2 ngày rưỡi, 3 đêm.

Về Hội Lim với cuộc đi chơi 5 tầng núi.

Về các nơi cổ tích đất Nghệ Tĩnh – một vùng địa linh nhân kiệt, với cuộc đi thăm nhà thờ và phần mộ Nguyễn Du, trong một bùi ngùi thương cảm : « Sè sè nấm đất bên đường ».

Về sự du lịch đất Hải Ninh, với cái bẩn khó đâu sánh bằng ở Đông Hưng – bên kia Móng Cáy, và tục mua – bán vợ của người dân ở đây, để thấy chuyện buôn bán phụ nữ qua biên giới là có một lịch sử dài như thế nào.

Về Bà Nà – đất nghỉ mát chỉ dành riêng cho các quan Tây, thế mà cũng có đủ các loại công sở như một đặc khu hành chính… Giao su phong leVân vân…

Tôi nghĩ rằng những du ký này rất cần thiết cho sự phát triển ngành du lịch ở xứ ta vào đầu thế kỷ mới này. Và chẳng riêng du lịch. Nó cũng rất cần cho các hoạt động bảo tàng danh nhân và lịch sử. Cho kiến trúc và điện ảnh…

Còn với người nghiên cứu văn học thì đây là minh chứng cho một giai đoạn quan trọng của lịch sử văn học dân tộc – giai đoạn bản lề, giao thời trên tất cả các phương tiện của ngôn ngữ và thể loại, của tác giả và công chúng, của nội dung học thuật và tư duy nghệ thuật…

Sau thời giao chuyển được phản ánh và kết đọng rất rõ qua Tạp chí Nam Phong, mà 62 du ký là một bộ phận, sẽ đến thời kỳ hoàn thiện diện mạo hiện đại của nó, từ 1930 đến 1945. Nếu truyện ngắn và tiểu thuyết cùng phóng sự, tùy bút, hồi ký có một bước phát triển mới thì du ký lại có phần chững lại, khi văn chương tách ra khỏi học thuật, để trở thành một khu vực chuyên, với giá trị văn chương là chủ yếu, chứ không còn xen cài với các giá trị khảo cứu về văn hóa, phong tục hoặc lịch sử. Người viết, viết với tư cách nhà văn mà không có một tư cách nào khác, nên việc đi để tìm cảm giác lạ (trong một xã hội tù túng, ngột ngạt), đi để thay đổi thực đơn cho dạ dày và giác quan, rồi phô cái Tôi của mình ra trên mặt giấy cho moi người cùng thấy, dường như chỉ riêng Nguyễn Tuân mới có chuyên tâm thực hiện. Nhưng hẳn khó có chuyến đi nào làm vơi được con khát thèm đi của Nguyễn : bởi túi tiền thì rỗng, và khi chính quyền kiểm tra giấy tờ tùy thân, hoặc cần một sự khai báo thì ở mục nghề nghiệp, thay vì ghi là Nhà văn hoặc Nghề viết văn, Nguyễn lại ghi là Sans profession (Vô nghề nghiệp). Còn chuyến đi được viết trong chính tên sách Một chuyến đi (1938) đưa ông sang Hồng Kông làm phim Cánh đồng ma thì lại là một cuộc đi khốn khổ… Một chuyến vào Sài Gòn của Nam Cao với hậu quả là một trận ốm thập tử nhất sinh, hất trả ông về nhà, chỉ để lại chút ít dấu ấn trong Sống mòn (1944). Còn Tô Hoài thì phải mượn Dế mèn để làm một cuộc phiêu lưu trong tưởng tượng.

Du ký từ sau 1930 đã có một gương mặt khác.

Thái Hà 23-25/3/07

P.L.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: