Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 18, 2013

Về Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:05 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 4 tháng 10 năm 2013.

VỀ PHẠM QUỲNH VÀ NAM PHONG TẠP CHÍ

Giáo sư Phong Lê

Lời dẫn của Phạm Tôn: Dưới nhan đề trên của chúng tôi là mấy phần chúng tôi trích trong sách Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại (thế kỷ XX) của Giáo sư Phong Lê, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản quí I năm 2013, các trang 65-66 và 85-86.

Giáo sư Phong Lê: Giải thưởng Nhà nước về Khoa học năm 2005. Sinh ngày 10-11-1938 tại xã Sơn Trà, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội. Cuối năm 1959 về công tác ở Viện Văn học – Ủy ban Khoa học Nhà nước, nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Viện trưởng Viện Văn học kiêm Tổng biên tập Tạp chí Văn Học  (1988-1995). Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam – từ 1979. Đã tham gia: Hội đồng lý luận phê bình Hội Nhà văn Việt Nam, Hội đồng văn học công nhân của Tổng Công đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam, Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam, Hội đồng khoa học Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước…

Giao su phong le_sach

Những tác phẩm chính: Mấy vấn đề văn xuôi Việt Nam 1945-1970 (1972); Văn và người (1976); Văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện thực xã hội chủ nghĩa (1980); Chủ tịch Hồ Chí Minh và văn học Việt Nam hiện đại (1986); Văn học và công cuộc đổi mới (1994); Văn học trên hành trình của thế kỷ XX (1997); Nam Cao: phác thảo sự nghiệp và chân dung (1997); Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: hành trình thơ văn, hành trình dân tộc (2000; 2006); Một số gương mặt văn chương – học thuật Việt Nam hiện đại (2001); Văn học Việt Nam hiện đại – những chân dung tiêu biểu (2001); Văn học Việt Nam hiện đại – lịch sử và lý luận (2003); Viêt từ Hà Nội (2003; 2009); Về Văn học Việt Nam hiện đại – nghĩ tiếp… (2006); Hiện đại hóa và đổi mới văn học Việt Nam thế kỷ XX (2009); Đến với tiến trình văn học Việt Nam hiện đại (2009); Cảm thức tân xuân (2010); Đến với 55 nhà văn, nhà văn hóa Việt (2011); Thơ văn Hồ Chí Minh – những giá trị vĩnh cửu (2012); Định vị văn chương Việt (2012)…

*

*     *

(…) Nền kinh tế thuộc địa và đời sống đô thị là bối cảnh ra đời của một nền báo chí – xuất bản, qua đó hình thành gương mặt mới của văn chương – học thuật hiện đại, mà lực lượng viết là sự kế tục của  nhiều thế hệ thuộc hai hệ thống xen cài: cựu học và tân học, kể từ “Vĩnh – Quỳnh – Tố -Tốn” (tức Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn- PT chú) đến Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Vũ Đình Long, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Tường Tam…

Nếu sự khởi động văn học hiện đại là ở Nam Kỳ, với vai trò của Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản… nửa sau thế kỷ XIX đến Trương Duy Toản, Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu… vào thập niên đầu thế kỷ XX, rồi đông đúc dần lên trong những năm 1920, với Phú Đức, Bửi Đình, Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh, Phạm Minh Kiên, Tân Dân Tử… thì ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, cũng chứng kiến một sự nhộn nhịp chưa từng có so với các thời kỳ trước đó, với Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Đặng Trần Phất, Nguyễn Tử Siêu, Nguyễn Trọng Thuật, Trọng Khiêm… và tiếp đến Từ Ngọc, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tường Tam, Tam Lang, Thế Lữ, Lan Khai, Trúc Khê, Vũ Bằng… Bia Nam Phong

Bên cạnh các tác giả tiêu biểu cho các khuynh hướng viết, trong các chặng đường như trên, còn là các nhóm, phái có chủ trương theo đuổi một mục tiêu tư tưởng hoặc văn chương – học thuật. Đó là Đông Kinh nghĩa thục trong công cuộc vận động duy tân đất nước đầu thế kỷ XX. Là thơ văn trào phúng và thơ văn yêu nước của các nhà nho xuất thế hoặc nhập thế, lạc thời hoặc thức thời. Là Đông Dương tạp chí  và Nam Phong tạp chí trong những cố gắng và hiệu quả, ít hoặc nhiều gây dựng một nền quốc văn mới trên tinh thần hội nhập Đông – Tây, “thổ nạp Á – Âu”, “điều hòa tân cựu”.

Trên toàn cục những biến động của đời sống văn học, cho đến cuối những năm 1920, văn học thời kỳ 1900-1930 qua đóng góp của hơn hai thế hệ viết đã có thể thực hiện xong những chuẩn bị cơ bản cho bước ngoặt sau 1930 – đưa tất cả các phương diện của đời sống văn học vào quỹ đạo và mô hình hiện đại.

(…)

Công việc biên khảo và sáng tác ở buổi đầu tiếp xúc văn hóa Đông – Tây đã được đặt lên vai thế hệ các nhà nho có nhiều vốn Tây học này, trong hai thập niên 1910-1920, chủ yếu chung quanh hai tờ Đông Dương tạp chí (1913-1917) và Nam Phong tạp chí (1917-1934).

Hoạt động của hai tờ Đông Dương tạp chí Nam Phong tạp chí, trong hiệu quả khách quan của nó, đã góp phần thúc đẩy quá trình tiếp xúc với văn học Pháp, giúp hướng tới và đẩy nhanh con đường canh tân và hiện đại hóa văn hóa, văn học dân tộc.

Trong thế hệ các nhà nho – học giả này có nhiều tên tuổi rất đáng kính nể. Nguyễn Văn Tố (1889-1947) – phụ trách Trường Viễn Đông bác cổ, người luôn luôn mặc quốc phục, đầu để búi tó, đối tượng chế giễu của nhóm Phong hóa, là người am hiểu sâu cả hai nền văn hóa Đông – Tây. Theo Hoàng Ngọc Phách, ông là nhà “bác học Việt Nam”, là người còn giỏi Pháp văn hơn cả nhiều thầy Tây ở trường Bưởi. Bùi Kỷ (1887-1960), đậu cử nhân, rồi phó bảng, có mấy năm du học ở Pháp, theo Đặng Thai Mai, được người đương thời xem là “Hán – Pháp tinh thông”… “Cụ Bùi hồi này, cùng với Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh là ba trí thức cỡ lớn ở thủ đô”. Ở tư cách nhà giáo – học giả, lớp thầy học của thế hệ Đặng Thai Mai, ngoài Bùi Kỷ, còn phải nhắc đến Võ Liêm Sơn (1888-1949), tác giả Hài văn Cô lâu mộng có cả bằng thành chung Tây học và cử nhan Hán học trong hai năm 1911 và 1912, và Lê Thước (1891-1975), người mẫu mực về cả hai phương diện: tri thức và khoa sư phạm… Pham Quynh Tran Trong Kim Bui Ky Nguyen Van To

Ông chủ bút Nam Phong – Phạm Quỳnh (1892-1945) cũng là người có năng lực bàn rộng rất nhiều lĩnh vực văn hóa – khoa học Đông và Tây, mà không thật chuyên sâu một lĩnh vực nào. Có lẽ cũng là do định hướng của Nam Phong nhằm phổ biến tri thức Đông Tây cho lớp công chúng có chữ – một trong ba, hoặc cả ba loại chữ: Hán, Pháp, quốc ngữ – đang đông dần lên. Phạm Quỳnh viết về lịch sử thế giới; về văn hóa và văn học Pháp; khảo về tiểu thuyết; giới thiệu Baudelaire, Pierre Loti, Anatole France; dịch Georges Courtelin, Guy de Maupassant, kịch của Marivaux, Le CidHorace của Corneille; dịch và giới thiệu Descartes, Voltaire, Rousseau, Montesquieu, Bergson, Auguste Comte… Đồng thời giới thiệu văn học Việt Nam cho công chúng Pháp qua các bài viết trực tiếp bằng Pháp ngữ. Theo Vũ Ngọc Phan, trong một bài diễn văn, Phạm Quỳnh có nói: “Chúng tôi là một nước có một văn hóa cũ; chúng tôi không phải một tờ giấy trắng có thể viết chữ gì lên cũng được”.

P.L.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: