Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 25, 2013

Đề tài và chủ đề của đoản thiên tiểu thuyết và truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:05 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 1 tháng 11 năm 2013.

ĐỀ TÀI VÀ CHỦ ĐỀ CỦA ĐOẢN THIÊN TIỂU THUYẾT

VÀ TRUYỆN NGẮN TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ

Nguyễn Đức Thuận

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần thứ ba trong bài Những hoa trái đầu mùa của văn học Việt Nam của tiến sĩ Nguyễn Đức Thuận, mở đầu tập sách Đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí do ônDoan thien tieu thuyetg sưu tầm, chú thích, giới thiệu (NXB Văn Học 2013) từ trang 35-47.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thuận, trưởng khoa Ngữ văn Đại học Hải Phòng từng xuất bản các tác phẩm Hương biển (Thơ – NXB Hải Phòng, 1996), Nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn (Chủ biên) – (NXB Giáo Dục, 2006), Văn trên Nam Phong tạp chí (NXB Văn học, 2008), Đoản thiên tiểu thuyết, truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí (NXB Văn học 2013).

*

*      *

Vào thời kỳ mở đầu của văn xuôi quốc ngữ, những người cầm bút để sáng tác tiểu thuyết đăng trên tạp chí này, chưa hẳn đã là những nhà văn chuyên nghiệp như ở giai đoạn sau. Hầu hết họ là những trí thức, mà nghề nghiệp của họ: có người là nhà giáo như Nguyễn Bá Học, có người là nhà báo như Phạm Duy Tốn, có người còn là sinh viên như Hoàng Ngọc Phách… Do vậy, “những điều trông thấy” và vấn đề mà họ quan tâm chính là cuộc sống của một tầng lớp mới – tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Xuyên thấm và bật ra từ đề tài ấy, chính là sự bế tắc về tư tưởng, cảnh gian nan và những khó khăn, buồn tẻ trong đời sống của những người công chức, trí thức… trong buổi giao thời. Đó là chuyện về một anh học trò cựu học, thất bại trong buổi tân học đang lấn át, bị gia đình đuổi đi và tự tìm lấy cuộc sống cho mình (Dư sinh lịch hiểm ký – Nguyễn Bá Học). Đó còn Nguyen Tien Lang 2là cuộc sống thiếu thốn, đói nghèo của một anh cùng nho: ba tháng chưa có tiền trả nợ thuê nhà, vợ vá áo rách, cuối cùng phải “cầm cái áo ngoài” “để đi gửi lấy mấy đấu gạo mà thổi bữa cơm sáng…” (À, chuyện chiêm bao! – Nguyễn Bá Học). Hoặc, cho dù là một anh công chức làm thư ký “cho một nhà giây thép” như chàng Lê Tâm (Tình xưa – Nguyễn Tiến Lãng) thì cả đời cũng chỉ thấy buồn tẻ ở nơi núi rừng xa vắng, “gió cuốn ngàn lau xào xạc…”, “đầy trời sương tỏa khói mịt mù”, và đau khổ hơn là cảnh vợ con anh “đã phải bệnh sốt rét ngã nước, ngày càng đau yếu, gầy mòn” (Nam Phong tạp chí số 179, tr.263). Sống trong cảnh chán chường đó, ngay cả đến một bức thư tình của người bạn gái năm xưa nào đấy, có thể xua đi những buồn tủi, tẻ nhạt của cuộc sống hiện tại, đối với Lê Tân cũng trở nên vô vọng. Buồn bã, chàng chỉ còn biết ‘với lấy con dấu ngày trên tấm “tam bông” đen, rồi cái vật vô tội nọ lại nện xuống phong bì chan chát như cái đầu đen đập vào tường một cách điên cuồng thất vọng”… Những biến động về kinh tế, văn hóa của xã hội Việt Nam, chính sách bóc lột thuộc địa của thực dân cùng với sự phá sản của nền học cũ… ít nhiều đã có dấu ấn trong nội dung của những đoản thiên tiểu thuyết đầu tiên ấy. Đáng lưu ý hơn là ngay từ giai đoạn mở đầu của tiểu thuyết mới Việt Nam, đời sống của công nhân, nông dân cũng đã được phản ánh khá sâu sắc. Mặc dù chỉ có 2/45 truyện viết về đề tài này (Câu chuyện một tối của người tân hôn của Nguyễn Bá Học và Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn, nhưng không phải vì thế mà đề tài này trở nên mờ nhạt. Trái lại, có thể coi đây là 2 truyện thành công, gây được ấn tượng sâu sắc nhất trong toàn bộ tiểu thuyết sáng tác trên Nam Phong tạp chí thời kỳ ấy. Phạm Duy Tốn đã thấy được những cơ cực của người nông dân suốt ngày “bì bõm dưới bùn lầy” để cứu đê, làm phu đê ngày trước. Đê vỡ, đời sống của họ còn thê thảm hơn, cảnh “nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết”, sẽ dẫn đến cảnh “kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn”, “tình cảm thảm sầu” không kể hết. Với tác giả Phạm Duy Tốn, người nông dân và những bất công, cơ cực của họ đã được thể hiện trong tác phẩm bằng niềm cảm thông, thương xót của tác giả. Đó là một điều đáng trân trọng!

Cùng viết về nỗi khổ của tầng lớp lao động thời bấy giờ, ngòi bút hiện thực của tác giả Nguyễn Bá Học đã phơi bày những nỗi cơ cực của người công nhân thợ dệt Nam Định xưa kia. Họ phải bán sNguyen Ba Hocức lao động của mình cho chủ nhà máy với giá rẻ mạt để kiếm ăn, “suốt ngày dùng hết sức, hai tay, hai mắt cũng chỉ đủ để cung một cái dạ dày”. Lao động 15 tiếng đồng hồ mỗi ngày mà chỉ được 14 xu, lại còn bị cai xưởng đánh đập, giở trò dâm ô, đểu giả… để cuối cùng xảy ra tai nạn mà cũng không được cứu chữa (Câu chuyện một tối của người tân hôn). Sống và dạy học ở thành phố Nam Định, Nguyễn Bá Học đã chứng kiến tận mắt đời sống lao động khổ cực của thợ thuyền ở nơi đây: người công nhân thợ dệt cũng chẳng hơn gì người nông dân cày cuốc! Tác giả đã đem đến cho văn xuôi Việt Nam một đề tài mới mẻ: đề tài về giai cấp công nhân. Và như vậy, điều đáng quý là, ngay từ khi giai cấp công nhân mới xuất hiện trong xã hội, họ đã có mặt trong văn học nước nhà. Phải chăng, Nguyễn Bá Học là người đầu tiên viết về đề tài này?

Bên cạnh hình ảnh những người nông dân lam lũ và những người công nhân lao khổ, là hình ảnh của những tên quan “dân chi phụ mẫu” sống xa hoa, nhưng lại vô trách nhiệm với công việc; những tên chủ nhà máy, chủ mỏ… bòn rút sức lao động của công nhân, đánh đập họ, chà đạp lên nhân phẩm của họ một cách vô cùng tàn tệ… Bộ mặt của giai cấp bóc lột cũng đã được các cây bút “tiểu thuyết’ thời kỳ này phơi bày khá cụ thể và sinh động. Giữa lúc sinh mạng và đời sống của hàng ngàn con người đang bị đe dọa nghiêm trọng thì tên quan coi đê vẫn cứ thản nhiên, lạnh lùng chờ ù ván bài “chi nảy” (Sống chết mặc bay – Phạm Duy Tốn). Ở nơi thôn quê, nạn phu phen tạp dịch đã trở thành mối lo ngại, cực nhọc của mỗi suất đinh trong làng. Nhiều người đã phải sạt nghiệp, mất tiền, bán ruộng, bán nhà… để” chạy” được một chức phó lý, có một “góc chiếu giữa đình” cho thoát cảnh phu phen. Mỗi dịp như vậy là một dịp béo bở đối với bọn hương lý, chánh tổng… Chúng lừa bịp để bóp nặn hầu bao người dân hám danh, muốn mua “quan”, mua chức. “Ông phó Xẹ” (Nguyễn Khắc Cán) là trường hợp tiêu biểu. Ông Hội, ông Thừa ma mãnh xui bên nọ, kích bên kia để cuối cùng cả hai kẻ ra tranh mua chức “phó lý” đều mất tiền. Cách ăn tiền đểu cáng ấy của nhPham Duy Tonững tên chức dịch trong làng như thế cũng đã được bóc trần khá cụ thể. Giữa lúc xã hội thực dân nửa phong kiến Việt Nam đang còn vững vàng hồi đầu thế kỷ, từ tên quan coi đê đến đám chánh tổng, lý trưởng, cũng như những tên chủ nhà máy, đốc công,… với những hành động vô liêm sỉ của chúng đã bị các cây bút đương thời dũng cảm vạch mặt, quả là có giá trị. Đề tài và chủ đề trong các truyện của những tác giả nêu trên, là sự tiếp nối tinh thần phê phán mạnh mẽ giai cấp thống trị của các tác giả nhân đạo chủ nghĩa trong văn chương cổ điển ở thế kỷ trước. Sau này, cây bút thiện thực trào phúng xuất sắc Nguyễn Công Hoan, cùng với các tác giả hiện thực tiêu biểu giai đoạn 1930-1945 như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, … sẽ tiếp nối những đề tài và chủ đề đó, để dựng thành những điển hình đặc sắc hơn, như: “quan phụ mẫu:, Nghị Lại, Nghị Quế, Nghị Hách, Bá Kiến, … với đầy đủ nét điển hình cho bộ mặt xấu xa và bản chất nham hiểm, dâm ô của giai cấp phong kiến thống trị.

Nhưng, như trên đã viết, bao trùm và xuyên suốt nội dung cũng như đề tài của hầu hết các truyện đăng trên Nam Phong thời bấy giờ là chủ đề về đạo đức, luân lý xã hội. Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ là xã hội giao thời giữa “cái cũ” và “cái mới”, giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây, mà trong đó cái cũ chưa hoàn toàn mất đi và cái mới chưa hoàn toàn thay thế. Nhưng như tác giả Thi nhân Việt Nam đã nhận định: “Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ”. Những nền nếp, kỷ cương, đạo đức và lối sống… của một xã hội phương Đông đóng cửa hàng nghìn năm đến nay đã bị một phen lung lay. Mỗi căn nhà và mỗi con người trong xã hội ấy đều bị chi phối, bởi sự đổi thay lớn lao đó. Dưới con mắt của những nhà nho thì đó quả là một sự “sa đọa”. Hầu hết các tác phẩm của những cây bút vốn có nguồn gốc Hán học như: Nguyễn Bá Học, Mân Châu Nguyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Văn Cơ, Đoàn Ngọc Bích… đều có viết về đề tài này.

Ngay từ tiểu thuyết đầu tay và cũng là tiểu thuyết đầu tiên đăng trên Nam Phong tạp chíCâu chuyện gia tình, Nguyễn Bá Học đã muốn cho mọi người “làm chứng cái khốn nạn chung trong xã hội” bấy giờ! Đó là chuyện một anh học trò Tây học, lên sống ở tỉnh thành, do ảnh hưởng lối sống mới, nên so với khi ở nhà “tính nết đổi hẳn”. Tệ hại hơn, anh ta đã ngoại tình và về nhà lấy tiền, tư trang của vợ đem đi ăn chơi và dan díu với tình nhân! Dưới con mắt của nhà nho thầy giáo Nguyễn Bá Học thì đó quả là hành động phi đạo đức lớn, mà điều này do chính sự “học mới” gây nên. Ông muốn tố cáo trước dư luận xã hội về sự sa đọa nghiêm trọng ấy! Tương tự như đề tài và chủ đề của tiểu thuyết trên, Truyện cô Phụng của Xuân Quang Đoàn Ngọc Bích cũng nên lên một trường hợp hư hỏng của một cô gái con nhà “giáo học” ở Hải Phòng. Ảnh hưởng lối sống mới, cô ăn chơi, cô “son phấn” cô “nhởn nhơ”… không lo chuyện học hành, bị lưu ban, cô phải bỏ học và cuối cùng kết quả là cuộc đời của cô đắm chìm trong dòng nước xoáy của xã hội Việt Nam đang trên đường tư sản hóa. Chuyện cô chiêu Nhì  (Nguyễn Bá Học), và Nước đời lắm nỗi (Phạm Duy Tốn)… cũng mang chủ đề tương tự như vậy. Các tác giả trên bộc lộ sự lo ngại và vang lên những tiếng chuông báo động về độ rung của đạo đức, luân lý xã hội đang ngày càng bị rạn nứt dưới ảnh hưởng của “văn minh” của lối sống phương Tây đưa đến xã hội Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX! Tư tưởng chủ đạo của những tác phẩm trên là tư tưởng phê phán!

Cũng cùng viết về chủ đề đạo đức, ở khía cạnh khác, các tiểu thuyết của Mân Châu Nguyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Văn Cơ, Vũ Miễn Nam… đã biểu dương một số hành vi tốt đẹp, có đạo đức của người biết tôn trọng chữ nhân, chữ nghĩa. Biểu dương những hành động tốt, xét đến cùng cũng là nhằm để phê phán, cảnh giới những hành động xấu. Tiểu thuyết Một cánh hoa chìm của Nguyễn Văn Cơ viết về một người con gái vị tha, nhận lấy cái chết về mình, nhường sự sống cho đứa em khác mẹ trong một ngày lụt lớn là một tác phẩm đem đến nhiều xúc động cho người đọc. Người viết truyện đã không khỏi bùi ngùi, cảm phục rằng “đáy nước đục, bẩn kia là ngôi mộ của một tấm lòng vàng ngọc”, của “một cánh hoa chìm’… Truyện Ai giết người của Mân Châu cũng mang chủ đề tương tự. Ai giết người? Viên quan xử kiện khó lòng mà tìm ra được, bởi vì hai anh em nhà kia không có ai giết người cả, nhưng ai cũng nhận là mình giết người để nhận lấy cái tội chết thay cho nhau. Sau cùng, ở phần cuối truyện có người đến nhận là mình giết, vì để trả thù cho bạn thì câu chuyện mới được sáng tỏ. Chủ đề chính của truyện là đề cao và chứng minh cho đạo đức phong kiến: nhân, nghĩa, trí, tín… của Nho giáo, “thánh nhân”… Còn Câu chuyện nhà sư của Nguyễn Bá Học hay Thần thiên lương của Mân Châu Nguyễn Mạnh Bổng là những kết cục đầy tính bi kịch cho những kẻ vong ân, bội nghĩa, sống không có thủy có chung trong đời. Cuối cùng, không ai khác, chúng bị chính tòa án lương tâm giày vò, xét xử. Những hành động bất lương, bội bạc ấy đã phải trả giá rất đắt: “cái chết trừng phạt họ!”

Ngoài ra, một số tiểu thuyết khác cũng xoay quoanh chủ đề này, song nội dung câu chuyện có khác hơn ít nhiều… Một anh chàng tham lam, làm giàu bằng thái độ sống ích kỷ và keo bẩn, cuối cùng bao nhiêu của cải làm ra được cũng lại bị trời lấy đi mất! (Của trời trời lại lấy đi – tác giả Đ.H.). Một gia đình nọ tham giàu gả bán con cho một anh trọc phú. Sống với gia đình này, cô bị hành hạ, ngược đãi. Không chịu nổi, cô phải trốn lên một tỉnh giáp biên buôn bán, rồi lấy phải một kẻ du đãng, bất hạnh, sau cô phải trở về sống với cha mẹ đẻ… (Gả bán con – Đoàn Ngọc Bích). Hoặc, một cô gái nhẹ dạ, mắc lừa một thằng Sở Khanh xỏ lá, bị nó cuỗm hết của rồi trốn theo nhân tình khác (Con người Sở Khanh – Phạm Duy Tốn)…

Những câu chuyện đau lòng như vậy, tựu trung lại là những bài học đạo đức, luân lí trong các mối quan hệ nhiều mặt của xã hội. Tính chất phê phán, cố nhiên chưa được mạnh mẽ và quyết liệt như những truyện ngắn và tiểu thuyết của văn học hiện thực phê phán ở giai đoạn sau, giai đoạn 1930-1945. Nhưng ở mức độ tố cáo, các tiểu thuyết nêu trên đã phơi bày những cảnh sống suy đồi, sa đọa… trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Những đoản thiên tiểu thuyết và truyện ngắn của giai đoạn này đã bênh vực cho đạo đức gia đình, có khi đậm màu sắc phong kiến hoặc có khi pha màu sắc tiểu tư sản tiến bộ. Đặc biệt, những tác phẩm này đã phơi bày được một vài cảnh sống cơ cực, khốn khổ của nhân dân lao động dưới ách áp bức bóc lột của tư sản, quan lại, thực dân. Những tác phảm này đã ít nhiều mang yếu tố hiện thực!

Đề tài về tình yêu và hôn nhân gia đình cũng được các nhà tiểu thuyết Nam Phong đề cập tới. Người viết đầHoang Ngoc Phachu tiên về đề tài này là Song An Hoàng Ngọc Phách, với tiểu thuyết Giọt lệ hồng lâu. Tác phẩm miêu tả tình cảm một mỹ nhân khuê các tên là Lan Nương, vì gia cảnh mà phải lưu lạc, sa chân vào chốn lầu hồng… Câu chuyện giãi bày cảnh ngộ đớn đau của người con gái phải bán thân vào chốn giang hồ ấy. Sống trong cảnh đó, nhiều lần nàng phải “gạt thầm nước mắt trong tiệc rượu, chết trong ruột mà phải cười, bị người làm khổ mà phải chiều chuộng”. Xét đến cùng, những người con gái ấy chính là những nạn nhân của xã hội thực dân nửa phong kiến bấy giờ. Họ không có tội, vì xã hội ấy đã xô đẩy họ vào con đường ô nhục, lầm than: ‘Trên thế lộ nào ai cắm biển chỉ rõ đường hay, đường dở cho chúng em đi, khi chúng em đã đi lầm đường rồi nào ai đã ra tay tế độ, bắc cầu cho chúng em sang”.

Đề tài về lớp người “dưới đáy” được Vũ Đình Chí kể tiếp 4 năm sau, qua tiểu thuyết Ôi! thiếu niên. Mối tình của Ngọc Kiều và Bích Hà là một mối tình lãng mạn, ít nhiều có màu sắc của chủ nghĩa cá nhân tư sản. Là sinh viên của một trường cao đẳng, lẽ ra theo nền nếp phong kiến, Bích Hà phải “dùi mài kinh sử”, chuyên tâm chuyện học hành, để một ngày kia đăng khoa đỗ đạt. Nhưng Bích Hà đi theo tiếng gọi sôi nổi của trái tim bồng bột tuổi thiếu niên, yêu đắm say Ngọc Kiều, một con hát ả đào! Không được Ngọc Kiều đáp lại chàng trai này đã định tự tử! Tuy là một người con gái giang hồ, nhưng là người có nhân cách tốt, Ngọc Kiều không muốn đem cuộc đời và trái tim đầy cát bụi của mình làm hỏng cuộc đời của Bích Hà. Cô khuyên Bích Hà đoạn tuyệt với mình để lo việc học hành cho trọn vẹn. Một mối tình thấm đượm màu sắc lãng mạn chủ nghĩa như thế, xuất hiện vào hoàn cảnh xã hội Việt Nam hồi đầu thế kỷ, quả là hãy còn nhiều bỡ ngỡ và táo bạo! Trước đó mấy số, Nam Phong tạp chí đã cho đăng: Truyện một người du học sinh An Nam của tác giả Vũ Đình Chí, viết về bi tình của một chàng trai tên là Bằng Giang và người con gái kia tên là Lê Phong Ảnh. Vì quá yêu và tương tư Bằng Giang mà Lê Phong Ảnh mắc bệnh thổ huyết và chết. Đáp lại mối tình tha thiết đó, Bằng Giang đã làm nhiều việc nghĩa, và một ngày kia, người ta thấy chàng ‘tắt nghỉ” trong khi tập lệ sử của Lê Phong Ảnh hãy “còn ôm ấp trên ngực”… Chủ đề tình yêu có tính chất lý tưởng như vậy chắc chắn không khỏi gây cho người đọc đương thời một cảm giác ngạc nhiên, là lạ… Hồi đầu thế kỷ, do ảnh hưởng của phương Tây, nếp nghĩ, nếu cảm của con người đã có chiều đổi khác. Những tiểu thuyết ái tình như thế đã chiếm được cảm tình của số đông thanh nhiên thành thị! Những tiểu thuyết này có thể coi là những “bản nhạc dạo đầu” cho những tiểu thuyết “chàng’ và “nàng’, những tiểu thuyết viết về “cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi… cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…’ của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, cách mấy năm sau.

Đề tài và chủ đề hôn nhân gia đình được đan xen với đề tài và chủ đề về đạo đức, luân lý xã hội. Qua Duyên kỳ ngộ một chị Tam lang Vu Dinh Chihàng hoa (Nguyễn Ngọc Thiều) người viết truyện muốn ca ngợi một mối tình chung thủy dựa trên ân nghĩa mà cả hai người đã bù đắp cho nhau trong những ngày tháng trước. Do vậy mà chẳng ai ngờ, người con gái trẻ trung và xinh đẹp ở “bên bờ sông Châu giang của xứ sở Sơn Nam” kia, lại có thể kết duyên cùng một ông già đã tuổi sáu mươi ở làng bên nọ. Về sau, mặc dù cô gái ấy có bị những chàng trai si tình quyến rũ, bắt cóc nhưng cô vẫn cự tuyệt để trốn về, sống chung tình với người chồng già nua và đứa con của mình…

Ngược chiều với chủ đề trên, tuy cũng với đề tài hôn nhân và gia đình, nhưng những tiểu thuyết ngắn của Phạm Vọng Chi lại đi theo một cách thể hiện khác. Đoản thiên tiểu thuyết Vì đâu nên nỗi dở dang là ví dụ như thế. Gia đình đang êm ấm, hạnh phúc, nhưng rồi người chồng “tự nhiên tà dâm”, “say đắm cô Vân, cô Nguyệt” để rồi người vợ “mê tín”, đi xem bói và quá tin vào lời thày bói mà lấy thêm thiếp cho chồng. Kết cục là gia đình tan nát, đúng như tiêu đề của truyện, Vì đâu nên nỗi dở dang, vì nàng mê tín, vì chàng tà dâm. Rồi một thầy ký nọ, nhờ vợ làm ăn khá giả mà có tiền mua được ba người hầu xinh xắn dễ coi, thày lừa vợ đi vắng mà thông dâm với đám hầu ấy. Chuyện vỡ lở, lửa tình cạnh tranh, đám hầu ấy đã bỏ thuốc độc cho cả hai vợ chồng thầy ký về “chơi miền Tây trúc” (Phạm Vọng Chi – Mại thiếp vi nô)… Chủ đề chung của những truyện trên là phê phán những hủ tục xấu xa, những thói dâm ô “đa thê, đa thiếp”, vì nó mà nhiều gia đình đã trở nên tan vỡ, bất hạnh trong xã hội bấy giờ.

Bia Nam Phong

Đặt vào hoàn cảnh của xã hội Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX, nhìn nhận một cách khái quát, những đề tài và chủ đề của tiểu thuyết trên Nam Phong tạp chí đã nêu chưa phải là những vấn đề xã hội cơ bản. Bởi vì, thời kỳ này nhân dân và sự áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản, phong kiến; phong trào đấu tranh ái quốc cũng có lúc dâng cao, chủ đề của những tác phẩm trên chưa đi đúng vào những vấn đề bản chất nhất của đời sống xã hội. Song, đòi hỏi làm sao hơn được đối với những tác giả cầm bút của thời kỳ này, khi mà chỗ đứng của họ hầu hết là chỗ đứng của những trí thức tiểu tư sản. Họ viết theo nhận thức hoàn toàn tự nhiên của họ đối với xã hội, mà chưa hề chịu sự tác động hay ảnh hưởng của những khuynh hướng tư tưởng tiến bộ nào. Đó là còn chưa kể đến sự kiểm duyệt chặt chẽ của những người biên tập Nam Phong tạp chí. Ở giai đoạn sau, do có ảnh hưởng từ những phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, như phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, phong trào Mặt trận dân chủ 1936-1939…, các tác giả của văn học hiện thực phê phán 1930-1945 sẽ được nhìn nhận và đánh giá theo một góc độ khác.

Tuy vậy, điều đáng ghi nhận là, đề tài của những tiểu thuyết và truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí bước đầu đã mang yếu tố hiện thực, thiên về hướng lấy từ cuộc sống hiện tại, cuộc sống đương thời, không sách vở, giáo điều như đề tài của văn chương giai đoạn trước. Do vậy, chủ đề và nội dung của những tiểu thuyết và truyện ngắn trên Nam Phong tạp chí cũng đã ít nhiều mang tính chất thời sự và cũng từ đó mà mang tính chất phê phán rõ rệt.

N.Đ.T.

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: