Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Hai 28, 2013

Chúng tôi đã sống như thế: Người cha và bi kịch lịch sử

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:34 chiều

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 1 tháng 1 năm 2014.

NGƯỜI CHA VÀ BI KỊCH LỊCH SỬ

Nguyễn Ánh Tuyết

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là các trang từ 15-30, sách Chúng tôi đã sống như thế

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

Tác giả

*

*     *

I. Phần I: Nơi hai điểm xuất phát

Người cha và bi kịch lịch sử

Cậu bé Tuyên bắt đầu thời thơ ấu từ đầu những năm ba mươi thế kỷ trước (sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930) tại Hà Nội, trong một gia đình có truyền thống văn hóa lâu đời. Cậu được sinh ra trong một cái bọc làm cho cả nhà sửng sốt, nhưng cũng tràn đầy hy vọng chắc cậu sẽ làm nên chuyện trong tương lai!

Thân sinh của cậu là học giả nổi tiếng Phạm Quỳnh, người tuy sống một cuộc đời ngắn ngủi, nhưng đã cống hiến cho đời một sự nghiệp cao quý hiếm thấy, đồng thời cũng phải sống trong dư luận đau buồn: những người Cách mạng thì cho ông là tay sai của thực dân Pháp, dùng văn chương để mê hoặc dân chúng; còn mật thám Pháp thì lại coi ông là một phần tử đấu tranh kiên cường cho nền độc lập của Việt Nam. Và ông đã sống giữa hai làn đạn, như ông từng tâm sự:

“…Người ta không ý thức và hiểu được rằng một người Pháp và một người Việt có thể cảm tình với nhau, một tình thân hữu chân thành, mà không phản lại nước mình. Điều đó vượt qua tâm thức của họ”.

“…Về phần tôi, tôi đã chọn con đường của tôi. Tôi là một người ở buổi giao thời và tôi sẽ chẳng bao giờ được cảm thông. Tôi là giao điểm của Đông và Tây, giữa quá khứ và tương lai, giữa một trạng thái chính trị do sự chiếm đoạt gây nên, tất nhiên với căn bản sâu xa của nó, và một “trật tự” mới tôn trọng nhân phẩm hơn, nhưng không phải trong chốc lát mà tạo lập ra được. Tôi đã sống giữa tất cả những mâu thuẫn đó, đã cố gắng hài hòa để đi đến một sự triển khai khôn ngoan, thực hiện được sự tổng hợp trọn vẹn, lẽ tất nhiên tôi đã vấp vào một bức tường “thiếu cảm thông”.

“Tôi vẫn tự an ủi bằng niềm tin chắc chắn vào nhiệm vụ cần thiết tôi đang đảm nhận. Hiện nay tôi chỉ cảm thấy “thân phận nô dịch”, nhưng rất có thể nó cũng có phần cao quý của nó.

“Đã hẳn rằng tôi có thể lánh mình trong tháp ngà, tự mãn trong đời sống yên hàn, êm ấm của một đại nhân văn gia theo nguyện vọng thiết tha của lòng tôi. Nhưng tôi nhận thấy có bổn phận phải rời bỏ tâm lý đó…

“Tôi trái ư? Tôi phải ư?

“Thành ra tôi đã lâm vào một cuộc mạo hiểm phiêu lưu như sau:

“Là một người ái quốc Việt Nam, tôi yêu nước tôi với tất cả tâm hồn tôi, thế mà người ta buộc tội, bảo tôi là phản quốc, đã cộng tác với kẻ xâm lược và phụng sự chúng!

“Là một thân hữu chân thành của nước Pháp, một đằng khác, người Pháp trách cứ tôi đã che đậy một tinh thần quốc gia cực đoan chống Pháp dưới một bề ngoài thân Pháp!Pham Quynh chu but Nam Phong

“Và cái “trường hợp” của tôi làm thiên hạ khó chịu; họ tìm cách giải thích, thuyết phục đủ mọi lối và họ vẫn không hiểu.

“Có lẽ họ chỉ hiểu khi hoàn cảnh cho phép tạo dựng được một “thỏa hiệp án” giữa “chủ nghĩa quốc gia Việt Nam” và “chế độ thực dân Pháp”.

“Tôi tin rằng sự dung hòa có thể thành công được. Nhưng trong khi “thỏa hiệp án” ấy chưa được thực hiện, cuộc mạo hiểm phiêu lưu của tôi đôi khi không khỏi có một tính cách thảm thương…”

Đọc lời tâm sự trên, tôi liên tưởng tới trường hợp Phạm Xuân Ẩn, một điệp viên hoàn hảo, có một cuộc sống hai mặt không thể tin được: vừa là phóng viên tạp chí Time của Mỹ, vừa là điệp viên cộng sản Việt Nam trong cuốn sách Điệp viên hoàn hảo (Larry Berman, NXB Thông tấn, 2007). Larry Berman là một nhà sử học Mỹ đã nhận định về Phạm Xuân Ẩn: Đó là một nhà tình báo có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, từng hoạt động trong “vỏ bọc” một nhà báo làm việc cho tạp chí Time của Mỹ tại Sài Gòn, nhiều năm sống trong nước Mỹ, làm bạn với người Mỹ và cũng yêu nước Mỹ, nhưng với động cơ rất trong sáng: “Động cơ cuộc sống của Phạm Xuân Ẩn chính là những mục đích cao cả của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam”. Tất nhiên, tôi không nhầm lẫn cho Phạm Quỳnh là “điệp viên đơn tuyến của Hồ Chí Minh” như luận điệu sau năm 1975 của Giáo sư Nguyễn Văn Trung (đã sống và viết dưới chế độ Mỹ – Ngụy chiếm đóng tại miền Nam Việt Nam, hiện sống tại Canada) đã bị đồng nghiệp của ông ta chế giễu là “Gió đã đổi chiều!” trên một xuất bản phẩm của họ tại Mỹ mà tôi đã được đọc khi sang thăm gia đình định cư bên đó.

Phạm Quỳnh quê gốc làng Lương Đường, tên về đời Lê là Hoa Đường thuộc phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, nhưng lại sinh ra ở Hà Nội, tại ngôi nhà số 1 phố Hàng Trống bên bờ Hồ Gươm, ngày 30 tháng 1 năm 1893 (cuối năm Nhâm Thìn). Gia đình ông sớm lên Hà Nội lập nghiệp vì cả họ chỉ có một nghề là nghề dạy học.

Cụ tổ của Phạm Quỳnh là cử nhân Dưỡng Am Phạm Hội, một thầy nho nổi tiếng ở đất Kinh kỳ. Khi mất đi, cụ đã cho ông nội Phạm Quỳnh thừa tự gia sản: một căn nhà nhỏ hình ống ở số 1 Hàng Trống, Hà Nội, do học trò xây dựng nên để thờ thầy.

Ông nội Phạm Quỳnh chỉ sinh được một người con trai là Phạm Điển. Khi Phạm Quỳnh mới chín tháng thì mẹ mất, bà nội phải bế đứa cháu đích tôn sang hàng xóm để xin bú chực và mớm cơm cho ăn, rồi khuya sóm chăm sóc tận tình đứa cháu ốm yếu, ngay cả khi cậu bé bị bệnh đậu mùa. Phạm Quỳnh thơ dại sống với bà nội và đã lớn lên trong sự chăm sóc chu đáo của bà cụ nghèo khổ, vắt kiệt sức tàn để giữ gìn giọt máu hiếm hoi của dòng họ. Năm Phạm Quỳnh lên chín thì bố mất vì cảm lạnh, mà chết trẻ ngay khi vừa làm xong bài thi, cho vào ống quyển còn đeo ở cổ, chưa kịp nộp. Sau đó bài thi được chấm đỗ tú tài. Côi cút cô đơn từ nhỏ, Phạm Quỳnh tha thiết quý mến từng người ruột thịt thân yêu của mình. Điều đó đã ăn sâu vào tiềm thức của ông. Suốt đời ông yêu thương chăm sóc những người thân như luôn e sợ có ngày ông lại mất họ như đã từng mất mát quá nhiều từ thuở lọt lòng.

Bà nội Phạm Quỳnh sống trong cảnh gieo neo chật vật, bòn từng quả táo, trái bồ hòn, ít rau cỏ lèo tèo trong vườn sau nhà mang ra chợ bán để nuôi cháu ăn học. Bà nghĩ, dù sao cũng cho đứa cháu côi cút này được đi học cho có cái chữ để sau này còn có cái mà sống với đời. Nghĩ vậy nên bà cố gắng cho cháu học ngay tại trường Pháp Việt, vì trường này ở gần nhà. Học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp thì Phạm Quỳnh rất ham, học nhanh lắm, chẳng bao lâu được học không mất tiền ở trường Thông ngôn Hà Nội (Collège des Interprètes) bên bờ sông Hồng, sau đó trở thành trường Thành chung bảo hộ (Collège du Protectorat) mà người Hà Nội gọi là trường Bưởi, không mất tiền học, lại được học bổng. Năm 1908 Phạm Quỳnh đỗ thủ khoa khóa đầu trường này. Tuy mới 16 tuổi nhưng ông đã chính thức làm thông ngôn tại trường Viễn Đông Bác Cổ (École Française d’Extrême Orient). Đến năm đó đời sống gia đình mới bớt khó khăn. Hằng ngày đi bộ từ Hàng Trống qua Hồ Hoàn Kiếm đến làm việc tại trường Viễn Đông Bác Cổ, khi đi qua một cửa hiệu đồng hồ, bao giờ ông cũng dừng lại say sưa ngắm nghía chiếc đồng hồ quả quít xinh xắn mà không dám nghĩ đến chuyện mua. Sau này, khi nhận dạy thêm tiếng Việt cho một vài người Pháp ở trường, thu nhập khá hơn, ông mới dành dụm mua cho mình chiếc đồng hồ đúng như thế và giữ luôn bên mình như một báu vật suốt nhiều năm, kể cả khi đã trở thành Thượng thư triều đình Huế.

Trong gia đình ông giữ đúng lễ xưa, từ nhỏ ở Hàng Trống cho đến sau này về Hàng Da rồi vào Huế, Phạm Quỳnh bao giờ cũng giữ nếp kê bàn học và làm việc trước bàn thờ tổ tiên. Trên bàn thờ có đặt những bài vị ghi danh các vị bằng chữ Hán. Ông rất coi trọng kỵ giỗ gia tiên, ông còn kể cho vợ và các con nghe về tiểu sử vị giỗ ngày hôm đó và thường dạy các con: “Phải làm sao cho gia đình mình trong như thủy tinh, không chút bụi mờ; giữ gìn đạo đức, nền nếp sao cho khỏi hổ với vong linh các cụ”.

Với người khuất núi còn như vậy, Phạm Quỳnh càng yêu kính hơn người trên còn sống. Thấy bà nội tuổi đã cao mà phải vất vả vì mình nên đi làm được một năm thì ông lấy vợ là cô Lê Thị Vân, để có người đỡ đần cho cụ. Là một cô gái Bắc Ninh xinh đẹp, vốn là con nhà nông hay lam hay làm, khéo quán xuyến việc nhà lại khéo nấu nướng, cô còn giỏi ca dao, sành tục ngữ, tài ví von, thuộc nằm lòng nhiều truyện nôm, nhất là Truyện Kiều và khẩu ngữ dân gian đồng bằng Bắc Bộ, vùng quê hương quan họ của cô. Ông thường cùng vợ về quê ở thôn Nhân Thục, Thọ Vực, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (sau này thuộc tỉnh Hưng Yên) thăm mẹ vợ. Chính những lần về quê vợ, ông ra đồng xem bà con nông dân làm lụng mà đã ghi chép được biết bao câu ca dao tục ngữ, dân ca hay, tăng thêm vốn từ ngữ dân tộc của ông. Phạm Quỳnh rất yêu vợ, nhưng tính tình kín đáo, thường ít để lộ ra ngoài. Năm 1909, mới làm việc được một năm ông đã được trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội cử sang Pháp làm chức trợ giáo ở Khoa tiếng An Nam trường Đông phương Bắc Ngữ (École des langues Orientales), một dịp may hiếm có, vậy mà ông đã từ chối chỉ vì ông mới lấy vợ.

Vợ chồng đồng tuổi Nhâm Thìn nên thương yêu, chiều chuộng, giúp đỡ lẫn nhau, suốt đời không hề xích mích gì. Nhiều năm ở Hà Nội, vợ ông cũng đã có tham gia vào các việc xã hội. HộiPham Quynh_Tre Tế sinh lúc đó là một hội từ thiện chuyên trông nom con nhỏ cho những người lao động nghèo đi làm và ở trại dưỡng lão giúp các cụ già cô đơn, không nơi nương tựa, đã cử bà làm thủ quỹ. Bà không biết chữ, nhưng vốn tinh ý lại nhớ lâu, bà chỉ thu chi rồi nhớ thật kỹ rồi về nhà thuật lại để chồng ghi chép hộ. Hằng tháng ông phải ghi chép hàng trăm biên lai, chứng từ vào sổ sách thay bà. Ông viết bằng bút lông ngỗng, chữ nhỏ mà rất đẹp. Các vị trong Hội biết chuyện thường gọi đùa ông là “ông thủ quỹ”.

Vốn ham học lại giàu lòng yêu nước thương nòi, yêu tiếng ta, quý tọng lịch sử dân tộc, Phạm Quỳnh thấy trong chữ Quốc ngữ mới phôi thai một phương tiện phục vụ Tổ quốc hợp với sức của mình. Ông lại được tắm mình trong cội nguồn ngôn ngữ dân tộc hằng ngày qua lời ăn tiếng nói của bà nội và cô vợ trẻ cùng người thân trong gia đình. Những buổi ra đồng xem bà con cày cấy, tát nước, lắng nghe và ghi vào lòng nhưng lời ca tiếng hát, điệu hò, câu ví, lời đối đáp mộc mạc mà thâm thúy, chứa đựng nhiều chân lý lại được kiểm nghiệm, thử thách, xác nhận giá trị chân thực qua chính cuộc sống lao động của nhân dân. Những lời ăn tiếng nói dân gian ấy cứ tự nhiên thấm vào lòng, quyện với những tri thức đông tây kim cổ mà ông được hấp thụ hằng ngày trong công việc khảo cứu khiến ông càng tin vào sức sống mãnh liệt của tiếng ta. Cứ như thế, năm tháng qua đi, tình yêu người dân thường giản dị qua những người ruột thịt quyện chặt với tình yêu tiếng nói trong sáng, đậm đà sức sống Việt Nam đã thấm đẫm trái tim nhạy cảm của Phạm Quỳnh. Ông chỉ mong có ngày được đem vốn liếng quý báu đó cống hiến cho nhân dân, góp phần mở mang sự học, nâng cao dân trí đưa đất nước tiến lên bằng người. Phạm Quỳnh thường tâm niệm: “Tôi bình sinh chỉ có một chút nhiệt thành với chữ Quốc ngữ, hết sức trông mong về cái vận mệnh quốc văn ta sau này”.

Nặng lòng với tiếng ta, dồn hết tâm trí vào tiếng ta, Phạm Quỳnh đã tìm đến Truyện Kiều, càng đọc càng say mê, đi đâu cũng mang theo một “bản Kiều tùy thân”. Càng say Kiều lại càng thêm yêu tiếng ta, hiểu tiếng ta hơn, quý tiếng ta hơn, cho tiếng ta là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia. Ông đánh giá quốc văn ta tuyệt phẩm là Truyện Kiều. Trong buổi lễ kỷ niệm Nguyễn Du vao dịp mồng 10 tháng 8 năm 1924, ông đã nói một câu bất hủ: “Truyện Kiều còn, Tiếng ta còn/ Tiếng ta còn, Nước ta còn”. Tuy vậy, để tiếng Việt trở thành quốc văn phải đầy đủ làm công cụ phát triển đất nước thì lại phải xây dựng một thứ tiếng học vấn nữa. Ông chủ trương: “Ngày nay ta chỉ cần gây lấy một thứ tiếng học vấn mà thôi, nghĩa là một thứ tiếng để diễn dịch các học thuật tư tưởng mới dùng làm cái lợi khí để truyền bá văn minh tân thời trong quốc dân”. Một mặt ông truyền bá cái hay, cái đẹp của tục ngữ ca dao, tiếng mẹ đẻ; mặt khác, ông hô hào các bậc trí thức cùng ông bắt tay vào gây dựng một thứ tiếng mà ông gọi là “thứ tiếng học vấn” nhằm xây dựng một nền quốc văn, quốc học của nước nhà.

Nhờ những bài văn quốc ngữ nhiệt thành, chín chắn, sâu sắc đăng trên Đông Dương tạp chí từ năm 1913, ông trở thành nhà báo có hạng, văn sĩ lừng danh dù mới ở tuổi hai mươi. Từ năm 1917, khi làm chủ bút tạp chí Nam Phong – một tờ báo do Pháp đặt ra – nhưng ông đã dùng tờ báo để cổ động, vun đắp, bồi dưỡng cho Quốc ngữ và khuyến khích việc học chữ Quốc ngữ, làm văn, làm thơ bằng chữ Quốc ngữ, dùng chữ Quốc ngữ không những để dịch văn thơ chữ Hán mà còn dịch cả văn thơ, triết học, khoa học từ tiếng Pháp, đồng thời sưu tầm, phiên âm văn thơ chữ Nôm, chữ Hán của tổ tiên. Ông là tác giả viết nhiều nhất trên tạp chí này để cổ xúy cho việc gây dựng nền quốc văn, quốc học, nền văn hóa mới của nước nhà theo phương châm Thổ nạp Âu Á. Người bấy giờ và cả nhiều người bây giờ coi ông là một nhà văn lớn, nhà văn hóa lớn cùng với đồng nghiệp đặt nền móng cho công cuộc gây dựng nền văn học nước nhà đầu thế kỷ XX bằng tạp chí Nam Phong được nhiều người ca ngợi: “Tạp chí Nam Phong được rực rỡ cũng vì được người chủ trương là một nhà văn học vấn uyên bác lại có biệt tài, có lịch duyệt… Trong lịch sử văn học hiện đại người ta sẽ không thể nào quên được Tạp chí Nam Phong. Nó là cuốn Bách khoa toàn thư bằng Quốc ngữ”. (Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, Tập I, NXB Khoa học xã hội, 1989), “Nó là văn đàn của cả một thế hệ. Nó gánh vác phần lớn việc biên khảo của lớp người trước năm 1932” (Nhà phê bình Thiếu Sơn, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên).

Ông thường tâm niệm: “Từ khi khôn lớn biết nghĩ đến giờ chỉ nuôi một cái chí trong lòng, là đối với nhà, làm thế nào để nối nghiệp ông cha…, đối với nước, làm thế nào giúp cho quốc hồn được tỉnh táo, để mong cho quốc văn được sáng sủa. Cũng biết rằng tài nhiều khi không kịp chí, nhưng khư khư một tấm lòng thành chỉ sở nguyện có thế mà thôi… không dám đem cái chí nguyện mà hy sinh cho sự giàu sang”. Triết lý sống của Phạm Quỳnh nằm gọn trong câu của người xưa: “Độc thư cứu quốc”, ông giải thích: “Câu ấy phải là câu khẩu hiệu của bọn ta. Vì là học để làm gì? Nếu mục đích của sự học là để sung sướng lấy một thân ta thì mục đích ấy chẳng là hẹp lắm ư? Ta biết nghĩa vụ, biết danh dự của ta. Nghĩa vụ và danh dự ấy là học để giúp cho nước ta khỏi yếu hèn mà được cường thịnh, dân ta khỏi ngu tối mà được sáng suốt.”.

Yêu tiếng ta và yêu nước là phẩm chất nổi bật trong nhân cách của Phạm Quỳnh, điều đó được thể hiện trong nhiều công việc của ông. Năm 1922, Phạm Quỳnh sang Pháp với tư cách là Tổng Thư ký củPham Quynh_1922 tai Phapa Hội Khai Trí Tiến Đức do ông sáng lập tham dự cuộc Đấu xảo Thuộc địa tổ chức tại Marseille, đã tranh thủ mọi mối quan hệ bạn bè để bốn lần đăng đàn diễn thuyết, mong giúp người dân Pháp hiểu đúng người dân Việt Nam và văn hóa Việt Nam. Đặc biệt ngày 22 tháng 7 năm 1922, trong bộ quốc phục áo dài khăn đóng giản dị mà sang trọng, ông đã trình bày trước Ban Lý luận Chính trị Viện Hàn lâm Pháp về vấn đề Dân tộc Giáo dục. Lời nói khúc chiết, hùng hồn, tha thiết bằng một giọng văn tiếng Pháp mẫu mực, khiến các viện sĩ phải phá lệ, đồng loạt đứng dậy vỗ tay hồi lâu khi ông vừa dứt lời. Ông nói: “Dân tộc Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dầy đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã từ mấy mươi thế kỷ. Quyển sách ấy có thể đóng theo lối mới cho phù hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên dòng chữ cũ. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không còn quốc tính, để biến thành một dân tộc vô hồn, không có tinh thần đặc sắc gì nữa như mấy thuộc địa cổ của Pháp kia”.

Lòng yêu nước và ý chí kiên cường đấu tranh cho nền độc lập dân tộc còn được biết đến trong bản phúc trình (tối mật) đề ngày 1/8/1945 của Khâm sứ Trung kỳ Haelewyn gửi Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant như sau:

“… Những yêu sách của Phạm Quỳnh là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc kỳ và Trung kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam kỳ, tiến tới hình thành một quốc gia Việt Nam”.

“Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hòa nhã, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có”.

Cuộc sống nội tâm của Phạm Quỳnh rất sâu đậm với lòng yêu nước thương nhà nồng nàn, với ý đồ xây dựng cho đất nước một nền quốc học mới, một quốc gia độc lập, nhưng bên ngoài thì lại mang vẻ bình thản hơi chút cô đơn, ông thích một mình, ít chuyện trò với những người trong gia đình về những việc “tầy trời” mình đang làm. Bởi ông sợ những người thân yêu sẽ bị liên lụy đến những điều mạo hiểm mà ông đang dấn thân.

N.A.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: