Pham Ton’s Blog

Tháng Một 3, 2014

Chúng tôi đã sống như thế (Thời thơ ấu ở Hoa Đường)

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 4:16 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 2 tháng 1 năm 2014.

Chúng tôi đã sống như thế:

THỜI THƠ ẤU Ở HOA ĐƯỜNG

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 30 đến trang 36)

Nguyễn Ánh Tuyết.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọc trung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuBa Tuyet sach chung toi da song nhu theất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

*

*     *

G

ia đình đông con, vợ chồng Phạm Quỳnh sinh được cả thảy 16 người, nhưng đã bị mất sớm ba người khi chưa đầy tuổi tôi (chưa tròn một tuổi), còn lại 13 người: năm trai, tám gái mà ông vẫn gọi yêu là năm con voi và tám nàng tiên. Ông thương yêu tất cả các con. Trong nhà, ông cho con cái gọi cha mẹ là thầy me và xưng với cha mẹ là em chứ không phải là con để biểu lộ tình âu yếm giữa cha mẹ và con cái. Biết bao việc hằng ngày trong gia đinh gắn bó với ông. Ở nhà, bữa ăn nào các con trai cũng ngồi bàn ăn cùng thầy, các con gái thì ngồi sập ăn cùng me. Thỉnh thoảng có thì giờ thì ông cùng các con đi xem phim. Thời ấy chỉ có phim câm, đôi khi có chữ Pháp trên màn ảnh, ông đọc rồi giải thích cho các con hiểu. Khi có vở cải lương hoặc chèo nào hay thì ông mua vé cho vợ đi xem cùng các con.

Sáng sáng ông dậy sớm đun nước pha cà phê, không phải để ông uống mà để dành cho các con. Ông mua sẵn từng chai lít dầu cá (thứ thuốc bổ tốt nhất hồi ấy) cho lũ trẻ. Mỗi sáng gọi các con đến xếp hàng, tự tay ông rót từng thìa dầu cá cho vào các chén nhỏ có sẵn cà phê, đưa cho từng đứa uống, rồi bảo lau miệng bằng giấy bản ông để sẵn bên bàn, sau đó ăn xôi rồi đi học. Trước khi ăn cơm, ông bảo các con rửa tay xà phòng trong chậu đặt gần bàn ăn. Vốn là nhà nghiên cứu, ông lập hẳn một quyển sổ ghi tên từng người con, lúc sinh nặng mấy cân, hay mắc bệnh gì, tính tình ra sao… Ông chăm sóc các con như thể sợ lúc nào đó ông sẽ bị mất chúng như đã từng mất đi mấy đứa rồi.

 Sinh nhat 50 tuoi hai cuÔng theo dõi và tạo mọi điều kiện cho các con phát huy thiên hướng của mình, tôn trọng cá tính của từng đứa, không hề áp đặt ý riêng của mình cho các con trong học hành, vui chơi giải trí, kể cả trong việc lấy vợ gả chồng, chọn nghề nghiệp. Về sở thích, cậu cả (tức Phạm Giao) thì thích ghi-ta phím lõm, chơi các bản vọng cổ cải lương, cậu Hai (tức Phạm Bích) thì thích ghi-ta cổ điển phương Tây, cậu Ba (tức Phạm Khuê) thì ham đàn phong cầm, cậu Tư (sau này là nhạc sĩ Phạm Tuyên) thì đam mê cả ghi-ta lẫn phong cầm… Các chị gái thì thích đàn thập lục, đàn nguyệt và thêu thùa, đan lát… Quan sát các con chơi đùa học hành, ông nhận xét các cậu con trai – năm con voi – con nào cũng thông minh, nhưng tính nết thì mỗi đứa một khác: Phạm Giao thì tự do, sống hơi phóng túng; Phạm Bích thì thiên về lối sống thu mình; Phạm Khuê thì hiền lành đức độ; Phạm Tuyên thì theo ông là nhiều triển vọng. Ông hơi thiên vị chút xíu: khi ăn xôi sáng ông thường ăn xung quanh, để lại giữa đĩa một “hòn cù lao” nhỏ dành cho bé Tuyên; còn Phạm Tuân, cậu Út thường được gọi là chú miềng (theo cách gọi của xứ Huế tức là chú mình) thì bé quá, ông chưa nhận xét. Ông rất hài lòng về mấy cô con gái của mình – tám nàng tiên – mà nàng nào cũng trắng trẻo, xinh đẹp, nết na, nội trợ giỏi. Lúc sinh thời ông rất mê ca trù và đã có bài chuyên khảo Văn chương trong lối hát ả đào rất có giá trị mà ngày nay được in lại trong tập Ca trù nhìn từ nhiều phía (NXB Văn Hóa Thông Tin Hà Nội, 2003) và trong Tạp chí Âm nhạc của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Một lần ông đi nghe hát ca trù, một ông bạn rỉ tai: “Hãy chọn lấy một ả đào nào thích để mà trăng gió”. Ông trả lời ngay: “Tôi có con rất sớm, những cô đào ở đây chỉ trạc tuổi bằng con gái tôi nên tôi không nỡ!”

Từ những năm đầu thập kỷ ba mươi của thế kỷ trước, ông được bổ nhiệm làm Thượng thư của triều đình Huế. Lúc đó gia đình ông đã trở thành một đại gia đình đông đúc con cháu. Vì ông lấy vợ sớm nên đến lúc ấy đã có nhiều cháu nội, cháu ngoại, ngoài ra còn có thêm các cháu họ hàng nội ngoại cũng quây quần bên ông. Khi ở Huế, những dịp con cháu về đông đủ, cả nhà quần tụ trong biệt thự Hoa Đường, bữa ăn phải đánh chuông báo mới biết mà về cùng ăn. Bữa sáng ông ngồi đầu một bàn dài, ăn xôi, vợ con, dâu rể và lũ cháu nội, ngoại lớn nhỏ tùy tiện chọn lấy chỗ nào thích thì ngồi hai bên bàn, ăn uống trò chuyện vui vẻ. Buổi chiều mát, thỉnh thoảng có mụ Mệ người làng An Cựu bán chè đậu ván quen, gánh một gánh đầy vào nhà, cháu con bu lại, mỗi đứa một bát, ăn cho nhanh còn thêm bát nữa, chỉ loáng cái đã hết cả gánh hàng. Mụ Mệ cười tươi, phô hai hàm lợi cứng, không còn một cái răng nào, giữa tiếng xôn xao của lũ trẻ mời mụ ngày mai lại đến. Con cháu mụ Mệ cũng thường vào Hoa Đường chơi với con cháu ông.

Hồi đi công cán Quảng Trị, ông mua hẳn một ngôi nhà gỗ lớn rồi cho tháo dỡ về lắp trong khuôn viên biệt thự Hoa Đường của gia đình, giữa vườn có cỏ cây hoa lá xanh tươi. Có lẽ vì nghĩ đến bầy con cháu đông đúc đang lớn lên mà ông chọn mua ngôi nhà gỗ lớn này. Đúng là một thiên đường của lũ trẻ!

Một lần muốn giới thiệu các con cháu với một người bạn Pháp, ông đưa bạn xuống nhà gỗ, tình cờ gặp đúng lúc bọn trẻ đang chơi trò “chiếu phim” với máy chiếu tự làm lấy bằng bìa và phim bằng giấy bóng kính do Phạm Tuyên vẽ còn âm nhạc do Phạm Vinh (cháu đích tôn của ông) chọn các đoạn thích hợp trong các đĩa nhạc cũ bằng kèn hát lên giây cót. Các cháu khác, đứa lo “soát vé”, đứa lo “đưa chỗ” cho khách. Ông khách người Pháp được xem buổi chiếu phim ấy vừa thích thú vừa thương hại lũ trẻ, sau này đã gửi tặng các con ông một máy chiếu phim 8mm hiệu Pathée. Thật ngoài mong muốn của chúng. Còn về thể thao, các con ông thích quần vợt, săn bắn, bơi lội và câu cá ở ngay con sông An Cựu trước cổng nhà. Các con ông hầu như ai cũng biết hát, khi hát lại thích hát bè, cứ hễ một đứa xướng lên một câu hát nào đó là những đứa khác phụ họa theo các bè khác nhau tạo thành một hòa âm nghe rất êm tai. Gia đình có cả một thư viện đồ sộ hàng vạn cuốn sách, tủ sách kín tường, cao đến tận trần nhà, khiến các con ông càng ham mê đọc sách, thích văn thơ. Trong nhà cũng ra được một tờ Gia đình tuần báo, có đủ cả “phóng viên”, “biên tập”, “họa sĩ trang trí” và có cả “người bán báo”… để thuật lại những diễn biến trong đại gia đình tuần qua, giới thiệu các món ăn lạ và có cả “phóng sự” như “có tiếng ai đó khóc trong đêm khuya” để trêu chọc nhau cho vui. Hội trường nhà gỗ là nơi vui chơi của lũ trẻ mà thường đầu têu bày ra các trò nghịch ngợm là Phạm Tuyên, anh chàng là “nhạc sĩ” kiêm “họa sĩ” tài ba của công chúng nhỏ bé này. Hội trường nhà gỗ cũng là nơi các thầy dạy thêm những môn nghệ thuật được ông mời đến dạy cho con cháu học vào buổi chiều và buổi tối. Hầu như ông không phải nhắc nhở con cháu về việc học hành, tự chúng đã có lòng ham học, ham hiểu biết rồi.

Từ thuở ấu thơ, Phạm Tuyên học ở trường tiểu học Paul Bert gần cổng Thượng Tứ, được thầy Phán dạy nhập môn âm nhạc dân tộc bằng những bài bản cổ như Lưu thủy, Kim tiền, Xuân phong, Long hổ, Tứ đại cảnh và học đàn nguyệt. Về nhà lại thường nấp ngoài cửa phòng khách để nghe các chị tập đàn tranh do cô Mừng (tức là bà Tôn Nữ Lệ Minh – vợ nhà thơ Lưu Trọng Lư) dạy, rồi được các chị cho nghịch đàn. Sau đó lên trường Quốc học, cậu được học nhạc lý phương Tây với thầy Martin lại biết thêm nhiều bài dân ca Pháp, bài hát Sói con, Hướng đạo và bắt đầu chơi đàn accordéon và ghi-ta, sinh hoạt trong một ban nhạc với Nguyễn Tăng Hích (là nhạc sĩ Trần Hoàn). Thầy giáo và bạn bè lúc đó ai cũng khen cậu có năng khiếu nghệ thuật, nhất là âm nhạc. Đúng thế, ngoài năng khiếu hội họa ra, Phạm Tuyên còn thể hiện năng khiếu âm nhạc rất rõ nét. Cậu đã bắt đầu võ vẽ sáng tác âm nhạc, thích bịa ra những khúc nhạc riêng của mình. Hồi ấy hát những bài hát lịch sử như Bạch Đằng Giang, Dòng sông hát của Lưu Hữu Phước, Flots du Danube của Ivanovici thì cậu cũng bắt chước viết ra bài Sóng sông Hương. Có chuyện thật buồn cười, vì cậu đã liều gửi các bản nhạc đó cho một nhà xuất bản ở phố Cầu Gỗ, Hà Nội, nhưng khi họ nhận để in và muốn gặp tác giả để trao đổi thì cậu lại trốn biến đi vì sợ họ thấy minh là trẻ con thì đâm ra coi thường mà không in nữa! Những “sáng tác” đầu tay đó sau này vẫn được các chị định cư ở nước ngoài hát mỗi khi nhớ nhà, nhớ quê hương.

Sau này khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ (1946), từ Hà Nội theo gia đình tản cư về làng Vạn Lộc, Xuân Trường, Nam Định (quê Giáo sư Đặng Vũ Hỷ, người anh rể thứ hai), cậu hay la cà đến các nhà thờ để được các cha cố cho đánh đàn harmonium, rồi cũng lại viết nhạc, dịch bài hát, thậm chí còn dám phổ lời cho bản nhạc Spring Song rất dài của E.Mendelsohn với nhiều chuyển điệu phức tạp.

 Biet thu Hoa DuongCha cậu, một con người “cô đơn” nhưng ông lại luôn tìm thấy niềm vui, nguồn sống trong bầy cháu con đông đúc, lạc quan, thông minh, năng động này. Ông thấy có trách nhiệm với lũ trẻ mà ông đã sinh ra ấy, đến mức ông ngần ngại trước tất cả những quyết định có thể gây tổn thất cho bầy con cháu của mình, làm sẩy đàn tan nghé, ông e ngại những gì quyết liệt mang tính bạo lực. Những việc ông dồn hết tâm sức vào làm cũng chỉ để chuẩn bị một tương lai tốt đẹp hơn cho con cháu, cho đất nước sau này, mà ông còn chưa biết chắc là sẽ nên làm thế nào để đạt được. Ông chỉ cố gắng làm những gì mà sức mình có thể làm được thôi. Có lẽ vì thế mà ông ít tâm sự cùng vợ con việc mình làm, cứ lẳng lặng âm thầm một mình, chẳng dám lôi kéo ai, kể cả những người thân nhất của ông đi vào con đường mà ông biết là có không ít chông gai, lại khó được chia sẻ. Ông tìm nguồn an ủi, chỗ dựa tinh thần chính từ trong lũ trẻ thân yêu của mình để tiếp tục sống mà làm việc. Ông nghĩ không nên làm cho con cháu sớm phải bận tâm về những công việc ngoài tầm suy nghĩ của chúng, cứ để cho chúng sống hồn nhiên được lúc nào hay lúc ấy. Ông vốn là người cho thì thật nhiều mà nhận chẳng được bao nhiêu.

Ngay đối với dân An Cựu, nơi mà ông ở đó, ông tôn trọng họ, yêu thương con em họ, khuyến khích con cháu mình vui chơi và đồng cảm với chúng.

N.A.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: