Pham Ton’s Blog

Tháng Một 10, 2014

Chúng tôi đã sống như thế (GIA BIẾN)

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 8:18 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 3 tháng 1 năm 2014.

Chúng tôi đã sống như thế:

GIA BIẾN

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 36 đến trang 46)

Nguyễn Ánh Tuyết.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọc trung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bBa Tuyet sach chung toi da song nhu theản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

*

*     *

Năm 1945, sau khi từ quan rút về sống ẩn dật trong biệt thự Hoa Đường, dù mới 52 tuổi, ông nghiền ngẫm và miệt mài đọc, dốc tâm huyết dịch những bài thơ Đỗ Phủ mà mình tâm đắc nhất. Được đúng 51 bài ông gửi Đông Hồ Tấn Phác, người bạn văn chương thân thiết sành thơ và bắt đầu viết Kiến Văn Cảm Tưởng, Hoa Đường tùy bút trong một cuốn vở học trò mới được 50 trang giấy. Sau này khi sang Pháp, vợ của nhà thơ Đông Hồ đã trao những bài thơ dịch đó lại cho bà Phạm Thị Ngoạn – người con gái thứ tư của Phạm Quỳnh cùng với một cuốn nhật ký viết năm 1922 khi ông sang Pháp. Trong đó có hai tờ lịch, một tờ (Juillet-13-Jeudi) ghi: “Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường” và tờ thứ hai (Juillet-16-Dimanche) ghi: “Ở nhà. Trường, Ái Quốc và Chuyển đến chơi”.

Sự kiện ghi trong sự kiện thứ nhất (ngày 13 tháng 7) được thuật lại một cách sinh động trong một bức thư dài gửi nhạc sĩ Phạm Tuyên và gia đình (8/12/2008) của nhà văn Sơn Tùng, người đã có một sự nghiệp văn học đặc biệt như ông thổ lộ: “Đời cầm bút của tôi: viết báo, viết văn, chí thành với đề tài lịch sử và danh nhân Bác Hồ”. Trong bức thư dài đó, nhà văn Sơn Tùng đã ghi lại một minh chứng lịch sử khi gặp cụ Đào Nhật Vinh tại 13 phố Nguyễn An Ninh gần chợ Bến Thành sau ngày miền Nam giải phóng: “Cụ ở tuổi 80 mà rất minh mẫn, có bộ nhớ nhiều tầng, có hệ thống và mạch lạc. Năm 1913, Đào Nhật Vinh làm việc trên tàu viễn dương với Văn Ba – Nguyễn Tất Thành từ Le Havre, hải cảng ở Bắc Pháp quốc. Hành trình từ đây qua Âu – Á – Phi – Mỹ, tận Argentine tới Terre de Feu”. Cụ Đào Nhật Vinh kể nhiều chuyện về mối quan hệ giữa Phạm Quỳnh với Nguyễn Ái Quốc, Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh… Họ gặp nhau bàn chuyện đất nước và đã có lần mời nhau ăn cơm An Nam tại Paris. Cụ kể : « Đầu tháng 7-1922, tôi không còn nhớ chính xác là ngày nào ; tôi trong hội chợ cùng với anh bạn đi ra phố, thấy đằng trước ông Nguyễn Ái Quốc cùng Phạm Quỳnh đang sóng bước, chốc chốc ghé đầu vào năm, có lẽ đang nói thầm… Tôi và anh bạn quay trở lại… Chiều hôm ấy tôi về nhà Tạ Văn Cần, gặp cụ Phan và ông Nguyễn ở đây. Ông Nguyễn dặn nhỏ với tôi : « Thứ năm tuần tới, ngày 13-7, Vinh đến cụ nghè Đông Ngạc nhé. Đến sớm sớm ». Tức là tôi đến số 6 Villa des Gobelins. Cụ Nghè Đông Ngạc là tiến sĩ luật khoa Phan Văn Trường. Cách nói lóng này chỉ có một số trong nhóm chúng tôi biết. Tôi đến sớm để làm « bữa cơm Bắc thết khách Bắc ». Tôi vừa làm bếp vừa tự hỏi – không biết vị khách quý nào đến mà cụ nghè Tây (Phan Văn Trường) và Nguyễn Ái Quốc thết đãi, cụ Phan Châu Trinh bị cảm mạo nên không về Paris được. Hơn 8 giờ thấy ông Phạm Quỳnh tới. Ông Nguyễn Ái Quốc đợi ở cửa và đưa dẫn ông Phạm Quỳnh vào phòng. Tôi đem khay lên mời khách. Chỉ có ba vị trong phòng thôi. Và ba vị đàm đạo tới 11 giờ, tôi cũng vừa sửa soạn xong bữa, mất công nhiều là món lòng lợn, rau thơm gia vị tầm cho ra được các thứ ấy không dễ. Có thịt gà luộc, canh chua, cá rán, thiếu rau muống luộc, cà pháo, tương bần. Tôi được dự đồng bàn, đồng bữa với ba vị và hầu chuyện. Trong bữa ăn các vị không nói chuyện thời cuộc mà nói chuyện nhiều về phong hóa của nước nhà, tục lệ từng miền – và giữa bữa ăn, tôi được ông Phạm Quỳnh khen : – Bữa cơm Việt món nào cũng ngon, đượm vị hương quan. Nhất là món lòng lợn, đặc biệt là món dồi. Tôi chợt nhớ đến ca dao nói về món lòng lợn, buột miệng luôn :

Nhìn mặt mà bắt hình dong

Con lợn có béo, miếng lòng mới ngon

Đủ tim, gan, cổ hũ, ruột non…

Mà dồi lại dở chẳng ngon cỗ lòng.

Cụ Phan vốn ít cười, đã phì cười. Ông Phạm nâng ly rượu lên nhìn tôi tươi cười và ông Nguyễn cùng nâng ly rượu, rồi cụ Phan cũng nâng ly chúc mừng. Ông Phạm Quỳnh nghiêm trang nói : « Anh Đào Nhật Vinh đã hàng chục năm xông pha khắp chân trời, đáy biển, nào Á, Âu, Phi, Mỹ mà hồn quê, quốc túy không phai mờ. Chúc mừng anh ! »

Ông Nguyễn Ái Quốc tập Kiều :

« Đồng bàn, đồng bát, đồng bang

Hồn quê theo áng mây ngàn cố hương.

Anh Đào Nhật Vinh một đầu bếp ngoại hạng mà lại mở quán ăn bình dân ! »

Sau bữa cơm đầm ấm, tôi bái biệt cụ Phan Văn Trường, ông Nguyễn Ái Quốc, ông Phạm Quỳnh rồi trở lại hải cảng Marseille »…

Tháng sáu năm 1945, nhà báo Nguyễn Vạn An đại diện nhóm Tri Tân được cụ Nguyễn Văn Tố (người đồng sự với Phạm Quỳnh ngày trước ở trường Viễn Đông Bác Cổ) giới thiệu đến thăm ông. Ông An đã thuật lại những lời Phạm Quỳnh nói lúc bấy giờ : « Tôi đã lầm lỡ mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ, thật ra tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen giấy trắng. Hiện thời tôi phải tĩnh dưỡng trong ít lâu rồi tôi sẽ phải trở lại hoạt động cho văn học. Tương lai nước nhà là do chữ quốc ngữ, nó sẽ là nền móng của công cuộc giải phóng và độc lập sau này ». Về việc Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, cụ Hoàng Đạo Thúy (họ bên ngoại của Phạm Quỳnh) có lần kể lại với Phạm Tuyên (có băng ghi tiếng cụ khi còn sống) : « Trước khi vào Huế, ông Quỳnh đã nói với tôi rằng : « Tôi chỉ vào Huế làm thử một tháng xem sao rồi lại ra » ». Không ngờ ông đã ở lại trong đó cho đến cuối đời !

Rồi những ngày tháng Tám năm 1945, cả xứ Huế mộng mơ cũng sôi sục lên trong phong trào cách mạng của quần chúng. Nhất là sau ngày 19 tháng 8, Cách mạng đã thắng lợi tại Hà Nội, nơi chôn rau cắt rốn của ông, ông hồi hộp theo dõi tình hình qua máy thu thanh và qua những người nhà ra ngoài kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe, vừa mừng vừa lo, mà mừng nhiều hơn. Vì theo ông, dù sao dưới dự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân cũng đã làm được một cái việc lớn mà ông mong ước suốt cả đời nhưng cứ loay hoay trên con đường của mình. Bởi ông bao giờ cũng cố gắng dung hòa các mâu thuẫn vốn không thể dung hòa mong «giúp sức vào một sự tiến hóa khôn khéo, đưa đến một tổng hợp trọn vẹn ». Ông mừng là nước nhà đã được độc lập, ông đã có một Tổ quốc để phụng thờ như cả đời ông tâm niệm và phấn đấu góp sức cho ngày đó chóng đến. Ông bảo các con và người nhà lục tìm vóc nhiễu màu vàng và màu đỏ có sẵn trong nhà, kể cả màn thờ hay trướng đang treo cũng được hạ xuống, đem may cờ đỏ sao vàng tất. Cái to để treo, cái nhỏ cầm tay mà tham gia các cuộc tuần hành dân chúng.

Rồi ngay 23 tháng 8, nghe có lệnh của Ủy ban Khởi nghĩa huy động nhân dân tham gia mít-tinh tại sân vận động Huế, ông giục con cái chuẩn bị quần áo chỉnh tề, đem cờ nhà may sẵn sàng tham gia phong trào cách mạng cùng với dân làng An Cựu.

Nhưng rồi đến trưa ngày 23/8, cùng lúc cuộc mít-tinh lớn diễn ra tại sân vận động thì có mấy người đi xe hơi đến « đón » ông đi. Cô Hoàn (người con thứ tám) thường quấn quýt bên ông từ nhỏ vội vàng chạy theo ông, nói với : « Thầy ơi, em lên gác lấy thuốc magnésie bismurée cho thầy nhé ! » (vì cô vẫn biết ông bị đau dạ dày) thì ông quay lại dịu dàng nói : « Thầy không cần, chiều thầy sẽ về ! ».

Xe chạy và ông không bao giờ về nữa !

Ông ra đi, nhưng đã để lại cho đời một di sản quý giá về văn hóa và văn học bao gồm các thể loại : nghị luận, dịch, bút ký… trên hàng trăm số tạp chí Nam Phong (210 số) và nhiều cuốn sách viết bằng tiếng Việt và tiếng Pháp, về nhiều vấn đề của đất nước và quốc tế trong thuở giao thời của các miền văn hóa Đông Tây vào đầu thế kỷ XX. Ngày nay đọc lại, người ta vẫn thấy nguyên giá trị của nó và lại mang tính thời sự nóng hổi, khi đất nước đổi mới, hội nhập với thế giới rộng lớn. Có thể kể những tác phẩm của ông được tái xuất bản mới gần đây nhất :

        – Mười ngày ở Huế  – NXB Văn Học – 2001

  –    – Luận giải văn học và triết học – NXB Văn hóa – Thông tin, 2003

       –  Pháp du hành trình nhật ký – NXB Hội Nhà văn, 2004.

         –Thượng Chi văn tập – NXB Văn học, 2006.

         –Du ký Việt Nam – 3 tập (Trong đó có 6 tiểu luận của Phạm Quỳnh), 2007.

        – Le Viet nam (Tập 1) À la croisée des Civilisations – (Nơi giao lưu giữa các nền văn minh) – NXB Tri Thức, 2008.

          Le Viet Nam – (tập 1) Problèmes culturels et Politiques – NXB Tri thức. 2008.

và nhiều bài đăng ở các báo và tạp chí ở ta hiện nay.

Trước cổng biệt thự Hoa Đường xưa là chiếc cầu cho đò dọc thuyền ngang ghé đậu, nay tuy đã khác xưa nhưng người dân quê chân phương không ai bảo ai đã đồng lòng đặt tên là Bến Cụ Phạm.

Lúc có gia biến, hai người con gái lớn của cụ là Phạm Thị Giá (vợ của Giáo sư Tôn Thất Bình – Hiệu trưởng đầu tiên của trường Thăng Long) và Phạm Thị Thức (vợ của Giáo sư bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, người được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Y đợt 1) xin lên gặp Hồ Chủ tịch, Người đã nói : « Trong lúc khởi nghĩa cũng không sao tránh khỏi sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn ở Việt Bắc » (ngày 26/8/1945 Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội), rồi người khuyên : « Cụ Phạm là người của lịch sử sau này lịch sử sẽ phải đánh giá lại. Còn bây giờ gia đình cứ yên tâm gắn bó với đất nước, với Cách mạng không phải lo lắng gì cả ».

Điều hai bà chị của anh kể trên hoàn toàn trùng khớp với một tư liệu cũng trong bức thư của nhà văn Sơn Tùng gửi cho nhạc sĩ Phạm Tuyên và gia đình (8/12/2008). Trong thư, ông đã ghi lại những minh chứng lịch sử khi được gặp trực tiếp các nhân chứng như cụ Vũ Đình Huỳnh, ông Hoàng Hữu Nam (tức Phan Bôi)… có đoạn : « Ngày 28/8 Hồ Chủ tịch đến làm việc tại Bắc Bộ phủ, 12 phố Ngô Quyền. Một phái đoàn Trung ương – các ông Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu, Cù Huy Cận đã vào Huế dự lễ vua Bảo Đại thoái vị. Hôm phái đoàn lên đường rồi, Hồ Chủ tịch mới về Hà Nội, như chợt nhớ, Người nói với ông Võ Nguyên Giáp, ủy viên thường vụ Trung ương Đảng – Tổng chỉ huy quân đội – Bộ trưởng Bộ Nội vụ ; ông Hoàng Hữu Nam – Thứ trưởng Bộ Nội vụ, ông Lê Giản – Tổng Giám đốc Nha Công an Việt Nam, Vũ Đình Huỳnh – Bí thư của Chủ tịch nước : « Chú Bằng (Nguyễn Lương Bằng), chú Liệu (Trần Huy Liệu), chú Cận (Cù Huy Cận) vô Huế rồi mình mới về thì đã trễ, giờ chú Nam (Hoàng Hữu Nam) hoặc có ai thay được chú Nam vô Huế gặp cụ Phạm Quỳnh, trao thư tôi mời cụ… »

« Hai hôm sau, ông Hoàng Hữu Nam đến báo cáo với Hồ Chủ tịch : « Ông Phạm Quỳnh đã bị bắt, hai người con gái của ông ở Hà Nội, gặp tôi thổ lộ việc này ». Hồ Chủ tịch để điếu thuốc đang hút dở xuống gạt tàn, nói lửng : « Bất tất nhiên ! ». Người hỏi ông Hoàng Hữu Nam : « Hai chị ấy tên gì ? » Ông Hoàng Hữu Nam trình bày – « Dạ… Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức, thưa Bác ». « Chú mời hai chị em cô ấy gặp tôi, chú Tư (Vũ Đình Huỳnh) sẽ sắp xếp ngày giờ gặp ». Và sau đó Hồ Chủ tịch đã tiếp « thân nhân cụ Phạm » vào cuối buổi sáng ngày 31/8/1945 tại phòng khách Bắc Bộ phủ… Cụ Vũ Đình Huỳnh kể lại với tôi sự việc này, cụ nói trầm trầm như tâm sự : « Tôi nghe danh ông Phạm Quỳnh từ một bỉnh bút, chủ nhiệm, chủ bút báo Nam Phong và Tổng Thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức. Có lần nhìn thấy ông khăn xếp, áo the, kính trắng đi từ trụ sở Nam Phong phố Hàng Da qua phố Hàng Bông đến trụ sở Khai Trí Tiến Đức phố Hàng Trống, bên Hồ Hoàn Kiếm. Tôi có biết chị Phạm Thị Giá, vợ giáo sư Tôn Thất Bình dạy Pháp văn trường Thăng Long cùng với cụ Phó bảng Bùi Kỷ dạy Hán văn ; các giáo sư Hoàng Minh Giám dạy Pháp văn, giáo sư Đặng Thai Mai dạy Pháp văn, giáo sư Võ Nguyên Giáo dạy văn, sử, địa ; giáo sư Vũ Đình Hòe dạy văn ; giáo sư Nguyễn Xiển dạy toán, lý… Còn chị Phạm Thị Thức là vợ bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, cung quê Nam Định với tôi, lại còn thân thuộc nữa. Cho nên cái giây phút tháp tùng Hồ Chủ tịch đến gặp chị Giá, chị Thức, tôi bùi ngùi thấy hai chị rụt rè, sợ sệt ; chỉ một thoáng, hai chị xúc động mạnh trước cử chỉ Hồ Chủ tịch cầm tay hai chị chân tình, an ủi và mời ngồi vào ghế đối diện với Người. Người nói : « Tôi ở chiến khu Việt Bắc mới về Hà Nội, nghe tin chẳng lành về cụ nhà ở Huế… ». Hồ Chủ tịch dừng giây lát, nói tiếp : « Trong lúc cuộc khởi nghĩa bùng nổ khó tránh khỏi được sự lầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi đang trên đường về Hà Nội… » (ngày 22/8/1945 Hồ Chủ tịch rời Tân Trào, Tuyên Quang). Chị Phạm Thị Giá trình bày sự việc cha bị bắt trong lúc làm việc tại nhà… Chị Phạm Thị Thức hai tay nâng phong thư lên Bác, Người nhận và chuyển sang tay cho tôi, dặn : « Chú chuyển sang Bộ Nội vụ ». Người dặn : « Những việc hai cháu đề đạt, hai cháu trực tiếp gặp ông Hoàng Hữu Nam, Bộ Nội vụ nhá ! ». Rồi Người đưa tay cầm chặt bàn tay chị Giá, chị Thức : « Hai chị em về nhá, tôi có việc khẩn ».

« Ông Vũ Đình Huỳnh kể tiếp : Chiều hôm sau, Hồ Chủ tịch làm việc với ông Tôn Quang Phiệt tại đây (số 8 phố Lê Thái Tổ). Chính trong buổi làm việc này, ông Tôn Quang Phiệt báo với Hồ Chủ tịch : « Cụ Phạm đã bị khử mất rồi ! ». Bác thu hai cánh tay sát vào ngực tựa lên bàn, lặng ngắt một lúc… Người nói : « Giết một học giả như vậy thì nhân dân ta được gì ? Cách mạng được lợi ích gì ? » Người duỗi hai tay ra mặt bàn : « Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp ! Đó không phải là người xấu ! ».

Sau khi có gia nạn, gia đình trở về Hà Nội, Phạm Tuyên lúc đó tròn 15 tuổi, vừa đau khổ vừa bàng hoàng vì cha mình bị Cách mạng xử lý, suốt ngày cậu chỉ biết vùi đầu vào đọc sách ở Thư viện Trung ương vừa cho đỡ buồn vừa để tự làm giàu tri thức của mình. Đầu năm 1947, cậu tự mình « khăn gói » đi Yên Mô, Ninh Bình, Liên Khu Ba để tham dự kỳ thi tốt nghiệp trung học chuyên khoa (tức là tú tài, tương đương với tốt nghiệp trung học phổ thông bây giờ) trong khi anh mới chỉ học đến bậc thành chung (tương đương với trung học cơ sở bây giờ) ở trường Quốc học Huế. Và anh là một trong ba người đỗ cao ở kỳ thi ấy, tốt nghiệp xuất sắc về Truyện Kiều và Tiếng Anh. Như vậy, việc thâu tóm tri thức của ba năm lẽ ra phải học ở trường trung học phổ thông vào một năm đọc sách ở thư viện đã cho anh một sự thành đạt bước đầu trong cuộc sống tự lập.

Toàn bộ hoàn cảnh trên đây là điểm xuất phát của cuộc đời Phạm Tuyên mà sau này ta được biết về người nhạc sĩ này với nhiều ca khúc sống mãi với thời gian.

(Phần viết này dựa vào các bài :  Người nặng lòng với tiếng ta,  Người nặng lòng với nước, Người nặng lòng với nhà của Phạm Tôn (con trai của bà Phạm Thị Giá và Giáo sư Tôn Thất Bình) đã đăng ở các tạp chí Công giáo và Dân tộc số 140 tháng 8/2006 Xưa và Nay – số 267 tháng 9/2006, tạp chí Nghiên cứu và phát triển số 3/2006, Công giáo và Dân tộc số 141 tháng 9/2006 và theo lời của những người thân trong gia đình cùng những người quen của gia đình kể lại).

N.A.T.

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: