Pham Ton’s Blog

Tháng Một 17, 2014

Ký ức về người vợ tâm lý và tài ba của nhạc sĩ Phạm Tuyên

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:17 sáng

Blog PhamTon năm thứ ba, tuần 2 tháng 3 năm 2012.

KÝ ỨC VỀ NGƯỜI VỢ TÂM LÝ VÀ TÀI BA

CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

Nguyễn Hải

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài đăng trên trang 4-5 của đặc san Phụ nữ Thủ Đô: Đang Yêu số 46 thứ ba 25/10/2011 trong mục Gia đình người nổi tiếng. Nỗi lòng âu lo cho thân phận của phụ nữ Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX dường như được giải tỏa trong “thân phận” của nàng dâu, vợ của con trai cưng của ông là nhạc sĩ Phạm Tuyên.

*

*    *

Mãi mãi là ngày đầu tiên

Trong không khí chớm lạnh của những ngày đầu đông, ngồi trong căn hộ nhỏ, bên những tủ sách, những tác phẩm đã làm nên tên tuổi của một người nhạc sĩ nổi tiếng, tôi thực sự ấm áp. Người đàn ông ấy dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn thư thái, vẫn lạc quan, yêu đời. Nụ cười đôn hậu luôn nở trên môi, nhạc sĩ lấy cho tôi xem bản thảo của cuốn hồi ký mà vợ ông – Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết đã để lại. Đó là tài sản tinh thần quý giá mà nhạc sĩ luôn nâng niu, trân trọng như ông đã trân trọng và yêu thương bà trong suốt gần 60 năm qua.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên sinh ra trong một gia đình khá giả, cha nhạc sĩ là học giả Phạm Quỳnh từng làm chủ bút của tạp chí Nam Phong. Cụ cũng từng giữ chức thượng thư trong Triều đình Huế, nhưng là người có tư tưởng tiến bộ nên khi ra làm quan, cụ chỉ mong sao có thể làm được việc gì có ích cho dân. Dù làm việc trong triều đình phong kiến nhưng cụ Phạm Quỳnh lại rất chú trọng đến chữ quốc ngữ, coi chữ quốc ngữ là hồn của dân tộc. Cụ đã có rất nhiều tác phẩm để lại cho hậu thế, trong đó đáng lưu ý là cuốn Le Viet NamDu ký Việt Nam một tác phẩm viết bằng tiếng Pháp rất có giá trị. Mặc dù là người có tư tưởng tiến bộ và không theo phong kiến cũng chẳng theo Tây, nhưng sống trong buổi giao thời nên cụ Phạm Quỳnh và gia đình gặp phải nhiều thị phi. Ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, cả nước tưng bừng niềm vui thì gia đình nhạc sĩ gặp phải biến cố, từ đó 13 anh chị em của nhạc sĩ phải sống tự lập, ngôi nhà đầm ấm bỗng chốc tan đàn xẻ nghé. Chính vì thế sau này, khi gặp vợ mình là Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết, nhạc sĩ Phạm Tuyên mới sớm có sự đồng cảm về ý chí và tinh thần tự lập của cô và tình yêu đã nhanh chóng đến với người nhạc sĩ từng là thần tượng của biết bao cô gái trong khu học xá (tức khu học xá tại Nam Ninh, Trung Quốc – PT chú).

Nhạc sĩ còn nhớ như in ngày đầu tiên ấy, ngày được đón nhận tình yêu từ một cô gái mà có lúc anh gọi cô là người có “tim đá”. Đó là một ngày mùa hè năm 1956, khi hai người được về dự lớp chỉnh huấn cho giáo viên toàn miền Bắc do Bộ Giáo dục mở tại trường Bưởi bên Hồ Tây. Ngôi bên bờ hồ gợn sóng, dưới gốc cây liễu lung linh, nhạc sĩ đã có cơ hội được cầm tay người phụ nữ nhỏ bé ấy để nói lời yêu thương: “Anh chỉ mong đến ngày hôm nay để được ngồi bên em và được nghe em nói lời yêu anh”. Dù không được nghe câu nói ấy trực tiếp, nhưng được cô ngả vào lòng, nhạc sĩ đã cảm nhận được tình yêu vô bờ bến của người phụ nữ nhỏ bé ấy. Chính tình yêu ấy đã giúp vợ chồng nhạc sĩ vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Bởi họ luôn có tâm niệm rằng chỉ có tình yêu và công việc mới mang lại cho họ một cuộc sống hạnh phúc thật sự.

Trước khi trở thành một Tiến sĩ Tâm lý học thì vợ ông đã là một nhà tâm lý tài ba. Bà biết cách thu vén mọi công việc gia đình để chồng yên tâm công tác mà bà cũng có điều kiện học tập và phát triển con đường khoa học của mình. Không những thế, bà là người hiểu chồng và quan tâm chồng cũng như gia đình chồng và hơn hết là nuôi dạy con cái nên người. Bà là Phó giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết, nguyên Trưởng khoa Giáo dục Mầm non của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, người đã có những đóng góp hết sức to lớn đối với sự hình thành và phát triển Giáo dục Mầm non nói riêng và trường Đại học Sư phạm nói chung.

Người con gái yêu môn toán

Sinh ra trong một gai đình cách mạng, bố mẹ đều hoạt động ngay từ những ngày Tiền khởi nghĩa, khi mà phong trào cách mạng cả nước nói chung và Quảng Bình nói riêng đang phát triển sôi nổi. Bố mẹ Ánh Tuyết đi hoạt động triền miên, hết tỉnh này đến tỉnh khác, ba anh em cô phải đi ở nhờ nhà bà ngoại. Nhờ có tình yêu thương của bà và sự giúp đỡ của những người dân quê lam lũ mà anh em cô bớt đi phần nào tủi thân khi phải xa bố mẹ. Những tháng ngày ấy đã giúp anh em cô sớm có tinh thần tự lập, ai cũng cố gắng chăm chỉ học hành để không phụ lòng mong mỏi của gia đình. Từ nhỏ, Ánh Tuyết đã nổi tiếng là cô gái nhỏ bé thông minh và nhanh nhẹn, đặc biệt cô rất giỏi và yêu thích môn toán, cô luôn được thầy cô khen và các bạn ngưỡng mộ. Lớn lên, cô luôn ấp ủ giấc mơ được tìm tòi, nghiên cứu sâu hơn những con số, những định lý, định luật.

Sau khi Trung Quốc công nhận nền Độc lập của nước Việt Nam (1950), khu học xá Trung ương dành cho con em gia đình hoạt động Cách mạng của Việt Nam đã được thành lập tại Nam Ninh – Trung Quốc. Tại đây, được sự giúp đỡ của nhân dân Trung Quốc, rất nhiều các nhà khoa học, nhạc sĩ được đào tạo, và sau này, khi đất nước thống nhất, có cơ hội trở về xây dựng quê hương. Ánh Tuyết cũng vinh dự được sang Trung Quốc học tập theo tiêu chuẩn. Cũng tại đây, cô đã gặp gõ và quen nhạc sĩ Phạm Tuyên. Khi dó, cô là một học viên ban Toán – Lý hệ Trung cấp trường Sư phạm Khoa học tự nhiên, còn nhạc sĩ Phạm Tuyên là người phụ trách Văn Thể Mỹ cho toàn khu học xá. Đến cuối năm 1956, Ánh Tuyết chính thức trở thành hậu phương vững chắc của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Ngay từ những ngày đầu hai người quen nhau đã gặp không ít những khó khăn, trắc trở bởi lý lịch “con em phong kiến” của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Nhưng bằng tình yêu và niềm tin, họ đã cố gắng vượt qua tất cả.

Khi trở về, Ánh Tuyết được phân công công tác tại khoa Toán – Lý – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đúng với chuyên ngành của mình, nhưng chỉ một thời gian sau đó, vì nhu cầu về phát triển toàn diện cho sinh viên, cô đã được giao nhiệm vụ học thêm và giảng dạy về môn tâm lý học. Vốn là người yêu trẻ và hết sức tâm huyết với nghề, nên dù rất khó khăn khi phải chuyển từ bộ môn khoa học tự nhiên sang khoa học xã hội nhưng cô đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Không những thế, luận án nghiên cứu về năng khiếu thơ của trẻ em của cô đã được đánh giá cao không chỉ trong nước mà cả trên thế giới.

Dù ở bất cứ cương vị nào, là một người vợ hay một nhà giáo, cô giáo Ánh Tuyết trẻ trung khi xưa và khi đã là một người bà đều luôn cố gắng phấn đấu để hoàn thành xuất sắc công việc của mình. Ở bà, người ta luôn thấy một nghị lực phi thường, một sự cố gắng không mệt mỏi cho tình yêu đối với nền giáo dục nước nhà, một tình yêu đối với trẻ thơ. Cũng chính tình yêu đó đã giúp bà thành công hơn khi đóng vai trò của Trưởng khoa Giáo dục Mầm non. Ngay những ngày đã về hưu, dù sức khỏe giảm sút và mang trong mình căn bệnh tiểu đường, bà vẫn âm thầm chịu đựng, dốc hết sức mình cho sự nghiệp nghiên cứu về tâm lý và giáo dục Mầm non. Bà đã để lại 18 bộ giáo trình môn tâm lý học, 14 cuốn sách phổ biến khoa học liên quan đến Giáo dục Mầm non và trẻ em. Ngoài ra, bà còn là tác giả của vài chục công trình nghiên cứu khoa học giáo dục đã công bố, trong đó có hai công trình được công bố ở Hội nghị Tâm lý học Quốc tế lần thứ XXII tại Leipzig – Cộng hòa Dân chủ Đức tháng 6/1980 và Hội nghị Giáo dục Tiền học đường Quốc tế lần thứ X tại Matxcơva – Nga tháng 12/1984, và nhiều bài báo về khoa học giáo dục trẻ em được đăng tải ở các báo, tạp chí chuyên ngành.

Bà đã có gần 40 năm giảng dạy, đào tạo hàng trăm cử nhân về Tâm lý học và Giáo dục Mầm non. Giảng dạy cao học nhiều khóa tại Trường Đại học Sư phạm, hướng dẫn thành công hàng chục nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ về Tâm lý học và Giáo dục Mầm non. Không chỉ với công việc, với gia đình, bà cũng là một chuyên gia tâm lý đối với hai cô con gái, dạy dỗ con từ việc nữ công gia chánh đến việc học hành và đặc biệt dạy con nhân cách để sống sao cho tốt. Với chồng, bà không chỉ là người bạn đời mà còn là người thẩm định những tác phẩm âm nhạc của ông, người luôn đưa ra những ý kiến xác đáng cho những tác phẩm mới ra đời. Người giúp ông hiểu rõ hơn về tâm lý của từng lứa tuổi, từ đó, nhạc sĩ mới có được những thành công trong những tác phẩm viết về tuổi thơ. Chính những lời động viên, những nhận định xác đáng đó mà ông thường nói vui: bà là chuyên gia tâm lý của cả nhà, cũng nhờ có chuyên gia ấy mà ông mới có thể yên tâm công tác và có được những tác phẩm hay đến vậy.

Điểm tựa của tài năng.

Cuộc đời của người “Công dân Thủ đô ưu tú”, người nhạc sĩ tài ba và một người nghiên cứu khoa học cũng gặp không ít những buồn vui, trắc trở. Có lúc tưởng chừng như hai nghề ấy chẳng liên quan gì đến nhau, thế mà họ đã kết hợp một cách khéo léo và tài tình để hai ngành ấy có sự hỗ trợ cho nhau một cách đắc lực.

Trong cuốn hồi ký của mình, Tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết đã tâm sự: “Nếu tôi được coi là điểm tựa của nhạc sĩ Phạm Tuyên thì chính anh ấy cũng là điểm tựa của tôi. Chúng tôi dựa vào nhau để sống và làm việc. Quả thật đây là điểm tựa vững chắc cho cả hai cuộc đời. Ở ta trong truyền thống thì vợ là điểm tựa của chồng, lo lắng mọi việc cho chồng, hy sinh tất cả vì sự nghiệp của chồng là lẽ thường tình, nhưng chồng là điểm tựa của vợ, quan tâm lo lắng đến sự nghiệp của vợ thì không phải là phổ biến. Tôi thực sự hạnh phúc bởi đây lại là nét đặc biệt trong nhân cách của nhà tôi. Niềm vui đến với anh không phải chỉ là khi mình thành công trong sáng tạo mà cả khi người vợ yêu quý thành đạt một cái gì đó trong nghiên cứu khoa học hay trong giảng dạy. Và để đạt tới một trình độ hay để hoàn thành một công trình khoa học nào đó, tôi phải mất nhiều công sức và thời gian, điều đó cũng đồng nghĩa với việc giảm sút trong chăm sóc gia đình. Những lúc đó, nhà tôi không những động viên mà còn tạo điều kiện cho tôi làm tốt nhiệm vụ. Anh làm công tác nghệ thuật còn tôi là người nghiên cứu khoa học, ấy vậy mà chúng tôi lại hỗ trợ cho nhau, bổ sung cho nhau rất nhiều. Ngày tôi mới viết những cuốn sách đầu tiên, ý tứ thì nhiều mà không sao diễn đạt nổi, vì tôi chưa quen viết văn bao giờ. Lúc đó, anh là người thầy dạy cho tôi viết văn, rồi sửa văn, có khi còn đánh máy giúp và vẽ tranh minh họa, nhờ đó mà tôi đã là tác giả của hàng chục cuốn sách khoa học nhưng lại đậm chất văn học.”

Khi cầm cuốn hồi ký của vợ, đọc những dòng tâm sự ấy, nhạc sĩ không sao cầm được nước mắt. Đặc biệt, ông càng khâm phục hơn khi những sáng tác của ông trước đây có nhiều tác phẩm ông không nhớ được hoàn cảnh sáng tác nhưng bà thì lại nhớ rất rõ. Tất cả những bản nhạc, những bản đã in, những bản nháp đều được bà cất giữ cẩn thận, chỉ cần ông nhắc đến đâu là bà lấy ra ngay, hay khi có nhà báo đến hỏi bà dễ dàng lấy ra những gì mà họ cần. Từ ngày bà mất, nhạc sĩ như bị lạc vào một mê cung vì không biết sắp xếp mọi thứ như thế nào và tất cả những đồ đạc, những tác phẩm được cất ở đâu. Những lúc này, nhạc sĩ lại càng cảm thấy một sự hụt hẫng lớn trong cuộc sống của mình. Đối với nhạc sĩ, bà là chỗ dựa rất quan trọng, không chỉ là người nâng khăn sửa túi cho chồng, chia sẻ với chồng mọi công việc gia đình mà còn là người có ảnh hưởng rất lớn đến các sáng tác của ông. Nhiều lúc, nhạc sĩ hay nói đùa mình là người “ăn theo vợ”, vì cả sự nghiệp âm nhạc viết cho thiếu nhi, nhạc sĩ đều phải nhờ vào vợ cả. Mặc dù không phủ nhận năng khiếu âm nhạc vốn có sẵn, nhưng sáng tác âm nhạc cho thiếu nhi không phải chỉ cần có năng khiếu vì đó là lĩnh vực vừa mang tính nghệ thuật lại vừa mang tính khoa học. Là một nhà giáo có nhiều năm kinh nghiệm trên giảng đường Đại học cả trong nước và quốc tế, bà nhắc ông quan điểm của ngành Giáo dục nói chung và đối với thế hệ măng non là: Chơi mà học, học mà chơi. Từng bảo vệ thành công Luận án Phó Tiến sĩ (nay là Tiến sĩ) Tâm lý học tại nước ngoài nên bà hiểu rất rõ: Tâm lý của thiếu nhi ở từng độ tuổi rất khác nhau chứ không phải như quan niệm thường đánh đồng tất cả đều là trẻ con.

Bà còn giúp ông thẩm định: Lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng khác người lớn ở chỗ bài hay, bài dở, người ta có ý kiến tranh luận khác nhau, có thể đồng thuận, có thể bảo lưu. Nhưng đối với trẻ thơ lại khác, trẻ thơ không có ý kiến gì hết. Cái nào các cháu chấp nhận là chấp nhận. Cái nào các cháu không nhận là người nhạc sĩ phải chịu. Bởi vì chất lượng nghệ thuật là yếu tố quyết định nhất.

Theo nhạc sĩ thì thẩm định của bà rất chính xác. “Có những bài nghe xong bà nói luôn: “Bài này cũng được nhưng chắc là không phổ biến mấy”. Có những bài vừa nghe bà vừa nói: “Bài này được, hát được”. Mà đúng vậy, khi các bài hát của tôi được đưa ra đều có những phản hồi y như vợ tôi đã nói”.

Nói đến đây, nhạc sĩ im lặng, hướng ánh mắt xa xăm nhìn về nơi vô định. Ông hồi tưởng lại những năm tháng tuổi trẻ của mình thường phải đi công tác vắng nhà. Tất cả mọi việc, ông đều dồn hết lên đôi vai của vợ, quà mà ông dành tặng bà chỉ là 7 nốt nhạc. Nhớ đến cuộc đời sáng tác của mình, ông chỉ có hai tác phẩm để tặng vợ, đó là bài hát được sáng tác vào ngày cưới mà hai vợ chồng ông đã hát cùng nhau, và sau này khi đã ở cái tuổi thất thập cổ lai hy, ông mới viết bài Mãi mãi ngày đầu tiên được phổ từ thơ của Bế Kiến Quốc để tặng bà: “Cần những nhành hoa mới nở cho anh và em/ Cần những tuần trăng mới đưa ta vào trời đêm/ Cần có những hờn dỗi để nhớ và để quên/ Cần có những câu hỏi để nghi ngờ hờn ghen!” Với điệp khúc nhẹ nhàng, say mê như đã lột tả hết tâm trạng tình yêu của hai người buổi xế chiều: “Tình yêu không dừng lại, không sa vào thói quen/ Ngày qua rồi ngày tới tốt hơn và đẹp hơn/ Tình yêu không dừng lại, không sa vào thói quen/ Tình yêu luôn luôn mới/ Mãi mãi ngày đầu tiên”. Bài hát không nổi tiếng trong lòng người hâm mộ, nhưng với bà thì đó là nguồn động viên, khích lệ vô cùng lớn lao khi hai người đã vào tuổi xế chiều. Chỉ cần cảm nhận hết những tình cảm nồng ấm, trẻ trung trong bài hát là bà biết trong sâu thẳm tâm hồn của hai người đã sắp thành người thiên cổ ấy vẫn luôn có một tình yêu “trẻ mãi không già”.

Cho đến tận bây giờ, dù suốt hai năm qua không trực tiếp cảm nhận được hơi thở của người phụ nữ đã luôn sát cánh bên mình trong những chặng đường đầy khó khăn, gian khổ ấy, nhưng với nhạc sĩ, hơi ấm từ tình yêu và từ bàn tay cần mẫn của người phụ nữ nhỏ bé ấy vẫn luôn đâu đây. Căn hộ của ông vẫn được sắp xếp như hồi bà còn sống, phòng làm việc của bà vẫn còn nguyên vẹn, ông chỉ coi bà đang đi công tác xa chứ chưa phải đã đi vào cõi vĩnh hằng, vì những ngày nằm trên giường bệnh bà đã nói với ông rằng: “Em sẽ đi sau anh ít nhất nửa năm để lo cho anh thật chu toàn”. Và chắc chắn sau “chuyến đi công tác” này, bà lại sẽ tiếp tục yêu thương ông, chăm sóc ông, họ sẽ bắt đầu một cuộc sống mới hạnh phúc hơn, ít những bất công gian khổ hơn, và tình yêu của họ sẽ mãi mãi đằm thắm như ngày đầu tiên họ được ở bên nhau.

N.H.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: