Pham Ton’s Blog

Tháng Một 24, 2014

Chúng tôi đã sống như thế: Cuộc tình đầy song gió

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 3:37 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 1 tháng 2 năm 2014.

Chúng tôi đã sống như thế:

CUỘC TÌNH ĐẦY SÓNG GIÓ

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế – Phần II: Nơi gặp gỡ của tình yêu, từ trang 83 đến trang 108; những phần liên quan trực tiếp đến nhạc sĩ Phạm Tuyên)

Nguyễn Ánh Tuyết.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọc trung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh TBa Tuyet sach chung toi da song nhu theuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

*

*     *

Khu học xá – Nơi đào tạo nhân tài

V

ừa mới bước ra khỏi hoàn cảnh kháng chiến của đất nước, chúng tôi choáng ngợp trước một khu nhà rộng lớn vừa mới xây xong. Hàng mấy chục ngôi nhà hai tầng thật xinh xắn, những ngôi màu nâu hồng thì dùng làm lớp học, những ngôi màu vàng gạch dùng làm nhà ở. Trong khu còn có các nhà bốn tầng là nơi làm thư viện và làm nhà thí nghiệm, có nhà hiệu bộ khang trang, nhiều nhà ăn rộng rãi, bên cạnh là “căn tin” bán các hàng hóa tiêu dùng hằng ngày. Ngoài ra còn có sân vận động rộng, bể bơi to, có bệnh xá sạch rộng; có cả khu nhà cho gia đình cán bộ giáo viên ở, liền đó là nhà trẻ và trường mẫu giáo. Đường đi lối lại trong khu vuông vắn, thẳng tắp, hai bên có những cây non mới trồng. Ở giữa khu là “đại lễ đường” có thể chứa hàng ngàn người, dùng để mít-tinh, hội họp, xem phim hay xem biểu diễn văn nghệ. Hai bên đại lễ đường có hồ nước bao quanh, tối đến toàn khu lên đèn, đại lễ đường hiện lên rực rỡ, phản chiếu lung linh dưới hồ nước như một tòa lâu đài trong truyện cổ tích.

Đó là Khu học xá mà “bạn” (Trung Quốc – PT chú) gọi là “Dục tài học hiệu” – nơi giáo dục, đào tạo con em Việt Nam thành tài để trở về tham gia kháng chiến và sau này xây dựng đất nước.

(…)

Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ cùng nhiều chiến thắng khắp các chiến trường trên toàn đất nước, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Genève, hòa bình được lập lại. Ngày 10 tháng 10 năm ấy, Thủ đô Hà Nội được giải phóng. Vào dịp đó, Đại hội Văn công toàn quốc được mở ra để ăn mừng chiến thắng. Khu học xá cũng lập một đoàn văn công về nước cùng với nhiều đoàn văn công khác.

(…)

Pham Tuyen _ Bac Ho Năm sau, vào tháng Giêng (1955), để chào mừng Đảng và Chính phủ về Thủ đô, Đoàn Văn công Khu học xá lại được về nước, lần này cùng đi còn có thêm ba chuyên gia nghệ thuật Trung Quốc: đạo diễn sân khấu nổi tiếng Lưu Chấn; giáo sư dạy nhạc Túc Nhân Kim và giáo sư dạy múa Hồng Lệ Chương. Cùng với việc tham gia biểu diễn phục vụ nhân dân Thủ đô, Đoàn còn được Bác Hồ cho vào Phủ Chủ tịch biểu diễn để chào mừng các đoàn ngoại giao khi nước ta đang thành lập quan hệ với các nước. Sau những lần biểu diễn, chúng tôi đều được Bác Hồ thưởng kẹo, Bác còn ôm hôn thắm thiết ba chuyên gia Trung Quốc của đoàn. Thật không gì tả được nỗi vui mừng của chúng tôi mỗi khi được vào gặp Bác Hồ, múa hát cho Bác xem và được Bác thưởng kẹo, lại được chụp ảnh với Bác! Những lúc đó chúng tôi vui sướng đến ngây ngất, khiến cho thao tác có phần lúng túng, đứa thì đi giày trái, đứa thì quên cài hoa… nhưng ai nấy đều cố gắng múa hát cho thật hay. Những kỷ niệm ấy không thể phai mờ trong cuộc đời của mỗi chúng tôi.

Đoàn Văn công Khu học xá do anh Phạm Tuyên làm trưởng đoàn và tôi là một thành viên của điệu múa Hái chè bắt bướm (Trung Quốc), một trong những tiết mục được hoan nghênh nhiệt liệt ở Thủ đô hồi đó, đi đâu bạn bè cũng đều nhận ra tôi là “cô gái hái chè bắt bướm”. Và một điều thật kỳ diệu, đêm biểu diễn đầu tiên, mẹ tôi cũng đến xem (lúc này bà được điều động ra Hà Nội để phụ trách công tác hợp tác xã) đã nhận ra Thanh – chị cả đi đầu, và tôi – em út đi sau trong đội hình điệu múa Hái chè bắt bướm. Ngay sáng hôm sau, mẹ tôi đến thăm tôi ở trường Bưởi, nơi ở của Đoàn Văn công Khu học xá và cho tôi về cơ quan mẹ tôi một buổi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp lại mẹ sau bao nhiêu năm xa cách. Hai mẹ con ôm lấy nhau trong nước mắt mà mừng khôn xiết.

(…)

Cuộc tình đầy sóng gió

T

ừ những sinh hoạt văn nghệ tại Khu học xá cùng với những chuyến về nước tham gia biểu diễn, quan hệ giữa anh Tuyên với chúng tôi càng thêm gắn bó hơn. Với đức tính giản dị, thân mật mà đứng đắn cộng với tài năng của anh, chúng tôi bao giờ cũng quý mến anh, coi anh như người anh lớn, người thầy đáng kính.

Ngày anh viết bài Tiến lên Đoàn viên bọn đội viên quàng khăn đỏ xúm lại quanh anh tại phòng anh ở đòi học hát bài đó. Tiếng đàn accordéon của anh hòa cùng giọng hát trong trẻo, non nớt của các em nhỏ khiến cho tiếng hát càng vang xa, ước mơ của các em càng thêm bay bổng. Bài hát như một lời kêu gọi tha thiết, thúc giục bầy trẻ thơ thêm hăng hái học hành và rèn luyện. Còn những học sinh sư phạm chúng tôi lại muốn học bài hát ấy để làm vốn sau này về nước truyền lại cho học sinh thân yêu của mình.

Càng háo hức trở thành người giáo viên, càng hăng hái hoạt động văn nghệ nhất là ca hát, chúng tôi lại càng hay tìm đến anh Phạm Tuyên để xin bài hát mới. Mỗi lần nghe được bài hát nào hay do các đoàn văn công “bạn” biểu diễn, chúng tôi lại “vòi” anh dịch và dạy cho. Còn anh lại càng gần gũi chúng tôi hơn và sẵn sàng đáp ứng yêu cầu, cung cấp nhiều bài hát mới. Thậm chí chúng tôi còn đưa cả sổ tu dưỡng cho anh xem để xin ý kiến vì thấy anh là một đảng viên có quá trình phấn đấu tốt. Anh là mẫu người lý tưởng của bọn trẻ chúng tôi – những đoàn viên thanh niên đang phấn đấu để trở thành đảng viên cộng sản.

Một hôm Mê Linh (một em học sinh lớp sáu, cũng là thành viên của Đoàn Văn công Khu học xá) chạy đến nói với tôi: “Anh Tuyên nhắn chị lên gặp để anh ấy dạy cho chị bài hát mới”. Tôi vội vàng đi ngay lên dãy nhà giáo viên, vào phòng anh, thấy anh đang chờ tôi ở đấy. Anh dạy tôi bài hát mà tôi mới “vòi” anh dịch hôm rồi, với thời gian học hát rất nhanh, tôi đã thuộc ngay vì bài hát có giai điệu rất hay, rất dễ hát mà lại ngắn. Tôi sung sướng chào anh ra về, anh tiễn tôi xuống cầu thang rồi đưa cho tôi một cuốn nhật ký, anh dặn tôi: “Tuyết cứ xem đi rồi cho anh biết ý kiến”. Tôi ngây thơ, vui vẻ cầm lấy cuốn nhật ký của anh mà lòng khấp khởi vì nghĩ: “Hay quá! Thế là lần đầu tiên mình được đọc nhật ký của một anh cán bộ, xem anh viết cái gì đây?”. Từ nhà cán bộ đến nhà nữ sinh cách nhau một đoạn đường chừng 100m, hồi hộp quá! Tôi vừa đi vừa giở ra đọc, thấy trang nào cũng có tên tôi, cái tên Tuyết cứ nhắc đi nhắc lại từ trang đầu cho đến trang cuối. Tôi bắt đầu hoang mang, không dám đọc. Về đến nhà gặp cái Thanh, bạn thân của tôi từ hồi còn bé ở Quảng Bình, hai đứa rủ nhau lên nóc nhà thư viện ở tầng bốn, đọc một mạch, bỏ cả bữa chiều. Tôi đưa cuốn nhật ký cho Thanh đọc còn tôi thì ngồi nghe, lúc đầu còn nghe rõ những lời yêu đương của anh đối với tôi, nhưng càng về sau thì tai tôi dường như bị ù, người tôi bắt đầu run lên, không nghe rõ mấy. Đọc xong trời đã tối, Thanh hỏi tôi: “Anh Tuyên yêu mày tha thiết quá, mày nghĩ thế nào?”. Tôi lúng túng nói với Thanh: “Tao sợ quá! Chẳng biết làm thế nào cả”. Thật tình tôi hoàn toàn bất ngờ, không hề nghĩ anh yêu tôi đã từ lâu rồi. Tôi cứ tưởng nếu có yêu thì anh đã yêu đứa khác cũng trong Đoàn Văn công Khu học xá chứ không phải là tôi, vì chúng nó bộc lộ tình cảm đối với anh rõ ràng hơn.

Ngẫm lại thấy trong thời gian qua anh có quan tâm đến tôi nhiều hơn một chút thật, nhất là chuyện học hành, anh rất vui Pham Tuyen Accordeonkhi thấy tôi được điểm tốt. Có lẽ là người “cùng cảnh” (đều xa gia đình từ bé) anh là người an ủi tôi, chia sẻ với tôi mỗi khi tôi nhắc đến sự thiếu thốn tình cảm gia đình. Anh là ngươi luôn động viên tôi mỗi khi tôi gặp khó khăn nên tình cảm giữa anh và tôi ngày càng thêm gắn bó.

Đêm về không sao ngủ được, nghĩ vẩn vơ lung tung. Sáng hôm sau tôi liền lên “báo cáo” sự việc này cho thầy chủ nhiệm là anh Nguyễn Hữu Dũng (ở Khu học xá, chúng tôi thường gọi các thầy còn trẻ bằng anh) để được giúp đỡ giải quyết. Nào ngờ đọc xong nhật ký của anh Tuyên, anh Dũng lại nói với tôi: “Anh Tuyên yêu em với tình cảm rất chân thành, anh Tuyên là người vừa tốt vừa giỏi lại vừa đẹp trai, theo anh thì em nên nhận lời”. Mặc dù anh Dũng biết rõ mười mươi cái điều 16 trong Nội quy Khu học xá là “Trong khi còn học không ai được phép yêu đương!”Vậy mà giờ đây, với tư cách người thầy chủ nhiệm, anh Dũng lại khuyên tôi như thế! Lúc này tôi chỉ biết nói: “Em sợ lắm, em không dám gặp anh Tuyên nữa đâu!”. Đúng  là như vậy, tôi đã không gặp anh trong những ngày tiếp đó mặc dù trong lòng vẫn quý mến anh vô cùng và rất nhớ anh.

Bỗng một hôm Mê Linh lại tìm gặp tôi và nói: “Em có chuyện này hay lắm: Anh Tuyên đã chuẩn bị cho chị một bài hát, anh nhờ em nhắn chị lên gặp để anh dạy cho”. Tôi hơi lưỡng lự nhưng lại rất mong được gặp lại anh. Hôm đó tôi rón rén đến phòng anh, anh đang sốt nằm ở giường, anh bảo tôi ngồi xuống cạnh anh và câu chuyện bắt đầu: Anh nhìn tôi âu yếm nói: “Anh Dũng đã nói hết với anh về sự ngạc nhiên và nỗi lo lắng của em. Anh rất hiểu, nhưng anh yêu em vô cùng, cứ nán mãi bây giờ mới bộc lộ, em có giận anh không?”. Tôi ngượng nghịu trả lời: “Không! Nhưng em muốn anh coi em như một đứa em gái thôi!”. Rồi anh nói như đánh trống lảng: “Thôi, bây giờ em còn phải ôn thi tốt nghiệp, hãy tập trung học cho tốt, còn chuyện này gác lại đã, để mặc anh!”.

Tôi ra về mà lòng nặng trĩu vì thương anh. Câu chuyện tạm dừng ở lại đó. Anh và tôi đều cố tạo ra mối quan hệ bình thường như trước đây. Trong đợt thực tập sư phạm tại trường phổ thông, anh vẫn động viên tôi, giúp tôi có được những bài hát mới và làm giáo cụ trực quan để dạy ở lớp thực tập. Anh làm cho tôi một các loa bằng bìa rất đẹp để tôi dạy bài Tiếng vang ở phần âm học trong chương trình vật lý lớp sáu, đúng vào lớp Mê Linh đang học. Tiết dạy thành công, được đánh giá cao. Ngay lập tức Mê Linh đã kịp loan báo cho anh biết và anh rất mừng.

Bẵng đi một thời gian, gần đến ngày tôi tốt nghiệp ra trường, anh tìm gặp tôi và lại đưa cho tôi một cuốn nhật ký mới (cuốn thứ hai). Lần này thì tôi biết bên trong nói gì rồi, tôi cũng hồi hộp nhưng bình tĩnh hơn lần trước. Anh vẫn yêu tôi vô cùng, anh phấp phỏng sợ tôi về nước sau khi tốt nghiệp thì liên lạc với tôi sẽ trở nên khó khăn. Có lẽ anh đã quá sốt ruột chờ tình yêu đáp lại mà tôi thì cứ mong ngày mong đểm để được trở về quê hương dạy đàn em nhỏ, nên trong nhật ký anh đã gọi tôi là “Tuyết tim đá của anh”, anh có biết đâu rằng lúc này tôi cũng rất sợ lại phải xa anh. Đúng vào lúc đó thì nhà trường công bố danh sách phân công công tác cho giáo sinh về các địa phương. Hồi đó chúng tôi hầu như ai cũng đều muốn về nước phục vụ ở những nơi khó khăn gian khổ như Tây Bắc, Việt Bắc. Đứa nào bị phân về Hà Nội hay các thành phố khác thì lấy làm buồn lắm, có đứa còn khóc vì sợ “viên đạn bọc đường” (tức là sự cám dỗ của chốn phồn hoa). Tôi được quyết định ở lại Khu học xá giảng dạy, tôi bàng hoàng vì rất muốn về nước.

Ngay sau khi công bố sự phân công của nhà trường cho các giáo sinh, anh Lê Viết Song lúc đó là Bí thư Đảng bộ Khu học xá cho gọi tôi lên gặp. Anh khen tôi là đã học tập và rèn luyện tốt trong những năm ở Khu học xá và tốt nghiệp ở loại xuất sắc, anh hỏi tôi: “Bây giờ được giữ lại Khu học xá, em thấy thế nào?”. Tôi ngập ngừng trả lời: “Em chỉ thích về nước thôi!”. Anh nghiêm trang nói lên lời khuyên: “Bây giờ đất nước đang bị chia cắt, đồng bào miền Nam đang đấu tranh anh dũng để thoát khỏi ách kìm kẹp của Mỹ ngụy nhằm thống nhất đất nước. Đảng và Nhà nước ta chủ trương đưa con em của đồng bào miền Nam ra Bắc học tập, một số được sang Trung Quốc học tại Khu học xá, đó là những hạt giống đỏ sau này trở về miền Nam đấu tranh chống kẻ thù và xây dựng cuộc sống mới. Vì miền Nam ruột thịt chúng ta hãy làm tốt nhiệm vụ thiêng liêng này. Em được giữ lại Khu học xá là một vinh dự”. Tôi nghe cũng bắt đầu xuôi tai. Sau này mới biết anh Tuyên đã “báo cáo” quan hệ giữa anh và tôi cho đồng chí Bí thư Đảng bộ biết và đã được ủng hộ nhiệt tình. Tuy vậy, tôi vẫn muốn giữ tình cảm anh em giữa tôi và anh, chưa muốn vượt quá giới hạn đó bởi một lý do: Trước khi chia tay nhau về những nơi công tác, bọn nữ sinh trong khối lớp khoa học tự nhiên chúng tôi đã hứa với nhau là sẽ công tác tốt và vài ba năm sau mới được yêu đương, mới được lấy chồng! Lời hứa thật trong sáng nhưng rất ngây thơ của tuổi trẻ hồi đó. Pham Tuyen va Ba Tuyet _ Truong cua chau la truong mam non0003Khi đã nhận công tác ở trường Phổ thông số 5 tại Khu học xá, tôi làm việc hết mình vì học sinh thân yêu, trong đó đa số là học sinh miền Nam. Anh và tôi có điều kiện gần gũi nhau hơn. Mỗi lần gặp khó khăn, tôi lại lên anh để được giúp đỡ. Anh cũng hết lòng truyền cho tôi những kinh nghiệm anh đã trải qua đối với đàn em nhỏ mà anh đã giảng dạy. Những băn khoăn của tôi trong nghề nghiệp, trong cuộc sống, từ chuyện học sinh đau ốm hay bướng bỉnh đến các sự kiện xảy ra trên thế giới như việc chống sùng bái cá nhân Stalin… đều được anh đồng cảm và chia sẻ một cách chân tình vừa như một người anh vừa như một người thầy và… anh không quên dạy tôi bài hát mới. Khi viết xong bài Chiếc đèn ông sao liền lập tức anh tìm gặp tôi để dạy bài hát xinh xắn đó để rồi tôi lại dạy cho học sinh lớp tôi. Các em thích thú say mê hát một cách khoái chí, bởi bài hát có giai điệu trong sáng với tiết tấu rộn ràng rất phù hợp với tâm trạng háo hức của các em đang chuẩn bị cho cuộc rước đèn lớn trong toàn khu vào dịp rằm Trung thu sắp tới, rằm Trung thu trong hòa bình cũng là Tết Trung thu đầu tiên của thiếu nhi miền Nam trên ‘đất Bắc” (tại Khu học xá, Nam Ninh, Trung Quốc_.

Vạn sự khởi đầu nan, tôi vừa mới bắt đầu công tác, mọi việc đối với tôi đều rất khó khăn, chỉ có nhiệt tình là dồi dào. Biết vậy, anh để cho tôi yên, không khắc lại chuyện yêu đương gì nữa. Nhưng anh vẫn thường xuyên tranh thủ gặp tôi, lúc thì dạy cho bài hát mới, lúc thì nói chuyện nghề nghiệp, chuyện cuộc đời… Càng ngày tôi càng gần gũi gắn bó với anh hơn, nỗi cô đơn vì các bạn thân thiết đã về nước hết rồi cũng nhờ đó mà vơi dần.

Mùa hè năm 1956, một trại chỉnh huấn cho giáo viên toàn miền Bắc do Bộ Giáo dục mở tại trường Bưởi bên bờ Hồ Tây (bây giờ là trường Chu Văn An). Các giáo viên Khu học xá lục tục kéo về Hà Nội dự trại, tôi tuy mới ra trường nhưng cũng được đi chỉnh huấn. Cả khối lớp chúng tôi lại được gặp nhau, tay bắt mặt mừng nói cười râm ran như bầy chim vừa mới ra ràng tung bay khắp bốn phương, nay được tề tựu, thật vui mừng khôn xiết! Bọn nữ sinh bạn tôi xúm lại bắt nọn tôi. Hình như “thông tin” đã bị rò rỉ hay sao ấy mà đứa nào cũng biết quan hệ giữa anh Tuyên và tôi. Lúc đó tôi đành phải thú nhận, nhưng mới ở mức độ “đơn phương” còn tôi thì vẫn chưa quyết định. Mấy đứa bạn thân đoán biết ý: “Chắc mày sợ bọn tao phê bình là yêu đương quá sớm chứ gì? Thôi mày nhận lời đi. Bọn tao thấy anh Tuyên thật quá tốt, chẳng chê được nỗi gì!”. “Được lời như cởi tấm lòng”, được bạn bè ủng hộ, tôi như mở cờ trong bụng, nhưng vẫn e ngại không dám gặp anh trong suốt mấy ngày chỉnh huấn. Một hôm anh tìm gặp tôi không quên đưa cho tôi bản nhạc Em bé chăn trâu của nhạc sĩ Văn Chung kèm theo là một lá thư viết cho tôi và rủ tôi đi chơi. Thật tội nghiệp! Nhạc sĩ chỉ có bảy nốt nhạc nên quà tặng cho người yêu cũng chỉ có vậy! Nhưng đối với tôi thì đây là món quà vô giá. Chiều ấy sau buổi nghe báo cáo xong, anh chờ tôi ở cổng trường, tôi bẽn lẽn theo anh đi ra Hồ Tây. Ngồi bên bờ hồ dưới gốc cây liễu, bóng liễu rũ xuống mặt nước, gió thổi làm mặt hồ gợn sóng lung lay bóng liễu như lòng tôi đang bị xáo động. Cầm tay tôi, anh nói nhỏ nhẻ: “Anh chỉ mong đến ngày hôm nay để được ngồi bên em và được nghe em nói lời yêu anh”. Tôi không nói gì, chỉ biết nép vào người anh. Im lặng và bằng lòng! Chúng tôi cứ ngồi với nhau như thế, không dám nói với nhau một câu gì nữa, cũng không dám nhúc nhích cựa quậy, chỉ muốn giữ mãi cái giây phút thiêng liêng này. Hôm nấy là ngày 30 tháng 7 năm 1956, tờ lịch đó được ép vào cuốn nhật ký viết chung của anh và tôi để nói lời yêu đương, để giãi bày tâm sự và trao đổi với nhau về mọi việc mà mình quan tâm thay cho hai cuốn nhật ký cá nhân trước đây.

Thế là coi như tôi đã đính hôn! Bọn bạn tôi mở một cuộc liên hoan nhỏ ngay trong vườn Bách thảo để mừng cho hạnh phúc của chúng tôi. Cũng những ngày đó, anh Tuyên đưa cho tôi xem những lá thiếp chúc mừng và những bài thơ ca ngợi hạnh phúc lứa đôi của các bạn anh gửi đến. Trong đó có bức thư mừng anh Tuyên đã hái được “một bông hoa đẹp và thơm một cách kín đáo”. Những hình thức đó người ta chỉ tặng nhau trong ngày cưới, thế mà giờ đây chúng tôi lại được nhận, thật quá hạnh phúc!

Những ngày tiếp theo, như “tuần trăng mật”, cứ đến chiều tối là anh lại rủ tôi vào vườn Bách thảo (kề ngay bên trường Bưởi) để tâm sự cùng nhau. Ngồi dưới gốc cây cổ thụ, bóng cây bao trùm lấy hai người như che chở cho mối tình đầu của chúng tôi, đến tối mịt mới về. Tuy nhiên khi ngồi bên nhau lại ít nói được điều gì, anh bèn viết cho tôi một lá thư khá dài để nói lên niềm hạnh phúc anh đã có tôi. Trong bức thư ấy, anh dành nhiều trang để nói về hoàn cảnh gia đình anh. Hình như anh có linh cảm là cuộc tình duyên giữa anh và tôi sẽ gặp khó khăn trở ngại bởi “chủ nghĩa lý lịch” đang rất nặng nề. Nhưng khi đọc thư, tôi ít để ý đến điều đó mà chỉ ham đọc những chỗ anh nói lời yêu thương khiến xúc cảm của tôi trào dâng khó tả. Bởi tôi cho rằng hoàn cảnh gia đình anh không ảnh hưởng gì đến tình yêu của chúng tôi, miễn là thực sự yêu nhau thì bất cứ trở ngại nào cũng đều vượt qua nên tôi rất vô tư, trong lòng chỉ có anh và chỉ biết yêu anh.

Sau khi trại Chỉnh huấn bế mạc, anh trở về Khu học xá (Nam Ninh, Trung Quốc) còn tôi được nghỉ phép về thăm quê ở Quảng Bình vi lâu chưa được về quê. Quả nhiên khi ra đến Hà Nội thì tôi bị một sự phản đối ghê gớm của gia đình và những người bạn chiến đấu của ba mẹ tôi, kể cả các bác, các cô trong tỉnh ủy Quảng Bình ngày trước khi biết tôi nhận lời yêu anh Phạm Tuyên. Họ cho rằng con của một gia đình cách mạng không thể lấy con của một quan lại phong kiến! Lời nặng tiếng nhẹ, mọi người đều đồng lòng bắt tôi cắt đứt quan hệ với anh Tuyên. Tôi đau khổ và hoang mang đến cực độ. Ngày lên tàu quay về Khu học xá, chú ruột tôi là ông Nguyễn Chuẩn, Bí thư Đảng ủy Tổng cục Đường sắt tiễn tôi sang tận Bằng Tường (một huyện của tỉnh Quảng Tây giáp với Việt Nam). Suốt thời gian tàu chạy, chú chỉ thuyết phục tôi là phải cắt đứt quan hệ với anh Tuyên. Tôi chẳng nói chẳng rằng, chỉ nhìn ra ngoài trời tối đen như mực mà khóc. Pham Tuyen va Ba Tuyet _ Truong cua chau la truong mam non0004

Sang đến Khu học xá, gặp anh tôi không nói được câu nào, chỉ khóc là khóc! Linh cảm mách bảo anh: chắc có trở ngại về lý lịch rồi. Anh đau khổ nhưng cố bình tĩnh dỗ dành, an ủi tôi, anh nói giọng hơi run: “Chúng mình đã có nhau thì không thể có gì ngăn trở được tình yêu này!”.

Như một đợt phản công, anh và tôi đều liên tục gửi thư về nhà để thuyết phục gia đình và các bác, các cô bạn bè của gia đình về tình yêu chân chính của mình và “hô hào” sự ủng hộ của họ, rồi hứa hẹn sẽ sống xứng đáng với công lao nuôi dưỡng của Đảng, của cách mạng. Mặt khác lại phải tranh thủ sự đồng tình của những người lãnh đạo Khu học xá, lúc đó ông Võ Thuần Nho (em đại tướng Võ Nguyên Giáp) là giám đốc lại là bạn chiến đấu của ba tôi ngày trước, là người nhận đỡ đầu cho tôi khi tôi sang Khu học xá học. Thật may quá, ông lại là người biết rất rõ về anh Tuyên. Số là:

Trong Đại hội Đảng bộ Khu học xá, ngồi ở ghế Chủ tịch đoàn, đang chăm chú nghe đọc danh sách đại biểu dự Đại hội, bỗng nghe thấy tên Phạm Tuyên, ông giật mình, lấy làm lạ, tại sao Phạm Tuyên thuộc thành phần quan lại (con Thượng thư Phạm Quỳnh đã bị xử từ đầu Cách mạng tháng Tám) mà là đảng viên Đảng Cộng sản, hơn thế nữa lại là đại biểu chính thức dự Đại hội Đảng? Điều đó làm ông băn khoăn, đặt vấn đề phải tìm hiểu. Sau Đại hội Đảng, ông đề nghị Đảng ủy phân cho ông đến sinh hoạt cùng một tổ đảng với Phạm Tuyên. Khi đó, anh Tuyên cũng vừa mới chuyển từ Đảng bộ trường Thiếu sinh quân Việt Nam về Đảng bộ Khu học xá. Suốt trong một thời gian khá dài đủ để tìm hiểu kỹ về một con người, ông đã đi đến kết luận: “Phạm Tuyên là một người trẻ tuổi có đức, có tài, là một người có một tư cách tốt đẹp, xứng đáng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”. Từ đó quan hệ giữa ông và anh Tuyên khá gần gũi thân tình, nay nghe thấy anh gặp khó khăn trong chuyện tình duyên bởi lý lịch, mà người yêu của nó lại là đứa cháu thân thiết của mình, ông liền “ra tay cứu giúp”. Thật đúng là “Ông Bụt” trong truyện cổ tích vậy.

Một lần về Thủ đô họp, ông tìm gặp mẹ tôi, lúc đó bà đang phụ trách công tác hợp tác xã của Hà Nội. Ông đã nói rõ cho mẹ tôi biết về con người và phẩm chất của anh Phạm Tuyên rồi đứng ra bảo lãnh cho anh. Không những ông mà cả bà Võ Thuần Nho, hai ông bà mà tôi thường gọi là chú thím đều hết sức bênh vực chúng tôi, bà nói: “Tuyên và Tuyết thật là xứng đôi vừa lứa”. Ý này năm mươi năm sau bạn bè cũng học gặp lại nhau, “Linh thịt chó mạ kền” (Linh được chúng tôi đặt cho biệt hiệu như thế là vì ngày đó Linh đã đóng một vai trong vở hài kịch tự biên tự diễn với nội dung là viễn cảnh đời sống của chúng tôi 50 năm ra trường. Lúc này ai nấy đều đã về già, mắt mờ, chân chậm, tóc bạc, mồm móm mém, răng rụng gần hết, thế mà vẫn nhai được món “thịt chó mạ kền”!) cùng học lớp Sư phạm Toán Lý với tôi ở Khu học xá, đã nhắc lại một cách hóm hỉnh: “Anh Tuyên vớ được Tuyết là rất hay mà Tuyết vớ được anh Tuyên cũng rất hay nhỉ!”. Thật kỳ diệu thay! Đã nửa thế kỷ rồi mà đến nay phần lớn chúng tôi đều khỏe mạnh, trẻ trung và vẫn đùa nghịch với nhau như quỷ sứ. Chỉ thương tiếc một số thầy và bạn đã qua đời, một số khác đang đau yếu không đến được!

 Pham Tuyen_Nguyen Anh TuyetĐể củng cố niềm tin cho gia đình, anh Hạo lại về gặp mẹ tôi, với tư cách là Bí thư Liên chi Đảng bộ cùng sinh hoạt với anh Tuyên để nói rõ thêm một lần nữa về anh Tuyên cho bà rõ hơn. Mẹ tôi là người thức thời nên bị thuyết phục ngay, tuy vậy những người thân xung quanh vẫn chưa thông, vẫn chưa đồng tình.

Chúng tôi lúc này chỉ biết thương yêu nhau, động viên nhau công tác cho thật tốt để xứng đáng với sự tin yêu của mọi người. Tuy vậy lúc nào cũng canh cánh bên lòng nỗi sợ hãi phải chia lìa. Nỗi niềm ấy đã ghi vào cuốn nhật ký chung được luân phiên nhau, anh giữ và ghi vài ngày rồi đến lượt tôi giữ và ghi vài ngày…

Cũng may cho chúng tôi, lúc này lại có thêm một “Ông Bụt” nữa, đó là cậu tôi, tức là bố dượng tôi, lúc đó đang điều trị tại Quân y viện thuộc Nam Ninh Trung Quốc, nơi “bạn” dành để chữa trị cho cán bộ cách mạng Việt Nam bị lâm bệnh nặng sau bao năm kháng chiến gian khổ. Cùng nằm điều trị ở bệnh viện đó có đồng chí là ủy viên Trung ương, có đồng chí là ủy viên Thành ủy Hà Nội đã hoạt động lâu năm từ trước Cách mạng tháng Tám. Cậu tôi được dịp dò hỏi về hoàn cảnh gia đình anh Tuyên. Có một đồng chí tỏ ra am hiểu, cho cậu tôi biết: “Phạm Tuyên là con bà vợ thứ ba của Phạm Quỳnh” (thực ra bố anh chỉ có một vợ là mẹ anh). Thông tin ấy đối với cậu tôi là rất quan trọng, vì ông và các đồng chí của ông đều nghĩ: “Đã là vợ ba chắc mẹ Phạm Tuyên trong gia đình thể nào cũng bị bóc lột và như vậy thì cậu ta đâu có thuộc thành phần bóc lột”. Điều phủ nhận ấy đã cởi trói sợi dây “thành phần chủ nghĩa” cho gia đình và người thân của tôi, nhờ thư từ qua lại giữa ông và mẹ tôi. Rồi một hôm cậu nhắn tôi cho ra gặp (ở Khu học xá, cứ chủ nhật là bọn chúng tôi thường được ra bệnh viện Nam Ninh thăm người thân đang điều trị ở đó). Lần này trông thấy ông tươi tỉnh hẳn lên. Xoa đầu tôi, ông vui vẻ nói: “Cậu và gia đình đồng ý cho con và Tuyên “quan hệ” với nhau, nhưng cũng cần tìm hiểu cho kỹ thêm”, cậu tôi vốn người cẩn thận. “Còn tìm hiểu gì nữa!”. Tôi nghĩ bụng.

Thế là đã vượt qua trở ngại lớn lao về lý lịch rồi, chúng tôi vui mừng khôn xiết. Anh bàn với tôi chuẩn bị một lễ cưới thật vui tươi, thật tưng bừng! Những ngày tiếp đó chúng tôi sống trong niềm hạnh phúc ngập tràn, lòng nhẹ như bấc, những phấp phỏng lo âu bay đi đâu mất.

Nhưng thật oái oăm, thế mà vẫn còn trở ngại đấy! Mà trở ngại lần này xem ra còn lớn lao hơn. Cậu tôi xin phép cho tôi ra gặp ngay. Lần này anh đèo tôi đến bệnh viện bằng xe đạp, nhân thể ghé qua phố Nam Ninh mua một ít thứ về ăn mừng “tai qua nạn khỏi”, đến bệnh viện thật nhanh không để cho cậu tôi phải chờ đợi. Nhưng thật lạ, tôi cảm thấy như có một chuyện gì bất ổn. Với vẻ mặt nghiêm trang đầy thương cảm, ông thong thả nói: “Trước đây cậu mạ không đồng ý cho con lấy Tuyên vì lý lịch, nhưng đó là lý do khách quan, còn bây giờ là lý do chủ quan ở bản thân Tuyên”. Tôi ngớ ra không biết điều gì nguy hiểm sẽ ập tới đây? Chả là câu tôi ở trong bệnh viện đã gặp một vài cán bộ của Khu học xá cũng ra điều trị ở đấy, họ cho cậu tôi biết một thông tin chẳng lành về anh Tuyên, đó là anh bị lao phổi! Lần này thì cậu tôi thấy mối quan hệ giữa chúng tôi lại trở nên nguy hại, không thể để tồn tại được. Tôi buồn quá, gặp anh không nói được câu nào, tôi chỉ khóc. Anh cũng hết sức ngạc nhiên, hai ngươi đi trên một chiếc xe đạp mà lòng nặng trĩu, bánh xe quay chậm chạp. Về đến nơi anh gặng hỏi tôi nhiều lần, mãi tôi mới nói được lý do tôi khóc. Anh nói với giọng rất buồn: “Đúng vậy, anh đã bị lao phổi có lẽ từ hồi còn ở chiến khu Việt Bắc do làm việc nhiều lại thiếu thốn đủ trăm bề nên mới phát bệnh. Nhưng từ hồi sang đây được phát hiện và điều trị kịp thời nên đã khỏi”. Rồi anh nhìn vào mặt tôi nghiêm nghị nói: “Nếu anh bị lao em có còn yêu anh không?”. Tôi lại khóc vì thương anh quá, mãi lâu mới trả lời: “Có chứ!”. Lập tức anh ôm lấy tôi hôn lấy hôn để, anh nói tiếp: “Nếu anh còn bị lao chắc anh phải xa em, không thể để em bị lây bệnh”. Còn tôi thì nghĩ khác, nếu có như vậy tôi càng thương yêu anh hơn, tôi cần phải sống với anh để chăm sóc anh bằng mọi giá, như lời “tiên đoán” của một người bạn anh đã viết trong thư gửi cho chúng tôi hồi tôi mới nhận lời yêu anh: “Tuyết sẽ chữa bệnh cho Tuyên bằng máu của tim mình”.

Đang bối rối thì lại gặp được một “Ông Bụt” nữa, đó là ông Nguyễn Hữu Thuyết, một bác sĩ nhân hậu đã từng chăm sóc sức khỏe cho Bác Hồ, nay là bác sĩ của bệnh xá Khu học xá khám và chữa bệnh cho chúng tôi. Lần này ông bị bệnh phải ra điều trị tại bệnh viện Nam Ninh.Thấy cậu tôi băn khoăn về bệnh tình của anh Tuyên, một lần nhân ngồi ăn cơm cùng bàn, ông đã nói rõ cho cậu tôi biết về tình hình sức khỏe của anh Tuyên vì anh đã được chính bác sĩ Thuyết điều trị. Ông nói: “Phạm Tuyên bị lao là có thật, nhưng mới ở giai đoạn đầu, nay đã khỏi rồi. Chính tôi là người điều trị cho cậu ấy, bây giờ như người bình thường, không ngại gì nữa, lẽ tất nhiên cần phải đề phòng như mọi người thôi”. Lời khẳng định ấy như là liều thuốc an thần xua đi nỗi băn khoăn trong lòng cậu tôi khiến cho trở ngại về sức khỏe của anh cũng tiêu tan nhanh chóng.

K

hông còn lý do nào nữa ngăn cản chúng tôi chuẩn bị cho ngày cưới. Và mùa xuân đã đến, không cần lời kêu gọi thức tỉnh của nó, chúng tôi đã sẵn sàng nghênh đón tiết Xuân. Lễ cưới của chúng tôi được tổ chức vào ngày 27 tháng 1 năm 1957 (27 tháng Chạp) sau khi đã “được sự đông ý của đoàn thể và gia đình”. (Đó là một câu quan trọng được ghi trong lá thiếp mời cưới của chúng tôi cũng như ở nhiều lá thiếp mời cưới bấy giờ).

Đúng là một lễ cưới tưng bừng, những người đồng nghiệp, những bạn bè, những học sinh, có cả các bạn Trung Quốc, mỗi người một chân một tay giúp đỡ về tinh thần và vật chất, làm cho lễ cưới có một vẻ hân hoan thật đặc biệt. Niềm vui không chỉ tràn ngập tâm hồn cô dâu, chú rể mà lan tỏa khắp mọi người trong Khu. Chỉ còn một góc buồn, đó là lớp tôi chủ nhiệm, lúc này các em học sinh của tôi không hớn hở, tò mò đứng vây quanh phòng hôn lễ như các em lớp khác, mà túm tụm lại với nhau trong phòng khóc thút thít vì cho là bị mất cô giáo! Tập thể lớp này, cho đến tận bây giờ vẫn tổ chức họp mặt hằng năm và lần họp mặt nào cũng mời và đưa đón thầy cô đến dự rất chu đáo. Mỗi lần gặp mặt tình cảm bạn bè, thầy trò vẫn rất nồng nhiệt, các em vẫn hồn nhiên chuyện trò ríu rít, nhắc lại bao kỷ niệm xưa, tuy đã đến tuổi làm ông, làm bà. Còn tôi thì thấy mình trẻ lại như cô giáo mới ra trường cách đây hơn 50 năm.

Hòa với không khí tưng bừng của mùa xuân, sau những bài hát, điệu nhảy nhộn nhịp của những người đến dự, anh và tôi cùng hát bài Mùa xuân trên đất Trung Hoa do anh sáng tác dành cho ngày cưới. Bài hát ca ngợi một tình yêu thắm thiết, thủy chung vượt qua bao gian nan trắc trở, với tiết tấu nhịp nhàng vui tươi, giai điệu bay bổng thiết tha mà nồng thắm, giàu ước mơ và tràn đầy hạnh phúc đã truyền đến mọi người một niềm vui sướng ngây ngất: “Mùa xuân đã tới trên đất Trung Hoa ngời sáng/ Trong muôn ngàn tiếng ca đàn chim cất cánh trong gió xuân sang/ Mùa xuân sáng tươi thắm tô chiếc khăn quàng bay/ Trên đất Trung Hoa chứa chan tình yêu đẹp thay!/ Ta yêu nhau trong đấu tranh thiết tha lý tưởng chung/ Ta bên nhau đắp xây mối tình ta thêm đẹp tựa ngàn bông hoa/ Ta yêu nhau trong tiếng đàn câu hát thiết tha tự do/ Ta đứng bên nhau đưa tay bảo vệ tình yêu”…

Hát xong, cả phòng hôn lễ vỗ tay ran đòi hát lại. Lúc đó anh Thành Thế Thái Bình, một thầy giáo dạy văn nhanh chân đến xin ngay bản nhạc. Ngày ấy chưa có kỹ thuật photocopy nên đưa bản nhạc xong cho anh ấy, chúng tôi không lưu được bản chính mà chỉ nhớ lại theo trí nhớ của mỗi người, anh thì nhớ nhạc còn tôi thì nhớ lời, chắp lại cũng thành một bài hát hoàn chỉnh ghi lại trong tập sáng tác nhạc của anh.

Vậy là mối tình của chúng tôi bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới.

N.A.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: