Pham Ton’s Blog

Tháng Một 31, 2014

Chúng tôi đã sống như thế: Đơm hoa kết trái

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 2:34 chiều

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 2 tháng 2 năm 2014.

Chúng tôi đã sống như thế:

ĐƠM HOA KẾT TRÁI

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế – Phần II: Nơi gặp gỡ của tình yêu, từ trang 108 đến trang 112; Phần III: Tổ ấm đầy biến động từ trang 115 đến trang 120)

Nguyễn Ánh Tuyết.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọc trung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất Ba Tuyet sach chung toi da song nhu thebản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

*

*     *

Đ

ến đây, ngẫm nghĩ lại thấy con đường tình yêu của anh và tôi thật quá gian truân, đúng là “bảy nổi ba chìm chín lênh đênh”, lắm trở ngại có lúc tưởng chừng không vượt qua được. Thế mà cuối cùng chúng tôi đã chiến thắng. Đó là nhờ công sức giúp đỡ của biết bao nhiêu người, đặc biệt là các “Ông Bụt”, các ông đã ra sức cứu nguy mặc dù chẳng có một phù phép nào cả, chỉ có tấm lòng nhân hậu, tin yêu và sẵn sàng sẻ chia với tuổi trẻ.

Có một “Ông Bụt” vô hình không thể không nhắc tới, đó là tình yêu mãnh liệt, tha thiết giữa anh và tôi. Tình yêu ấy là sức mạnh diệu kỳ giúp chúng tôi vượt qua mọi sóng gió bão bùng. Chính tình yêu ấy đã làm cho mọi người xung quanh tin tưởng ở chúng tôi hơn và cũng chính tình yêu ấy đã huy động sức mạnh “vô thần” của các “Ông Bụt”, mạnh hơn cả những phép biến hóa thần thông để đem lại hạnh phúc cho chúng tôi.

Thế là mùa xuân năm ấy chúng tôi đã có một tổ ấm nho nhỏ trong một căn phòng xinh xắn, ấm cúng nằm ở giữa dãy nhà gia đình cán bộ giáo viên. Tuy không có tuần trăng mật, tôi và anh đều bắt tay vào làm việc ngay, nhưng chúng tôi rất hạnh phúc vì đã có nhau. Giờ đây không ai có thể chia lìa chúng tôi được!

Hằng ngày tôi vẫn lên lớp giảng dạy và luôn tìm mọi cơ hội để gần gũi học sinh, cả lúc tự học, lúc ăn, lúc ngủ. Buổi tối thì lên xem các em học bài có thắc mắc gì không; giờ ăn thì đến xem các em ăn uống ra sao; đến tận đêm khuya còn xem chúng ngủ có yên giấc không. Bản tính tôi vốn có tinh thần trách nhiệm trong công tác, nhưng giờ đây việc đó còn có thêm một ý nghĩa nữa là để xua tan đi cái cảm giác “bị mất cô giáo” trong đầu các em học sinh nhỏ.

Hè năm 1957 chúng tôi được về nước để chính thức ra mắt hai gia đình. Tôi đưa anh về gặp mẹ tôi ở 36 phố Tăng Bạt Hổ. Lần đầu tiên làm rể, anh không khỏi e ngại, nhưng mẹ tôi đã thể hiện ngay tình cảm mẹ con, coi anh như đứa con đi xa bây giờ mới gặp. Mỗi tội là mẹ tôi vẫn ở tại cơ quan, vẫn ăn cơm tập thể (vì cậu tôi đang chữa bệnh bên Trung Quốc chưa về) nên cảnh nhà vẫn chưa phải là cảnh một gia đình ấm cúng. Mẹ tôi tranh thủ nghỉ phép để đưa tôi về thăm Quảng Bình cũng là để báo cáo với quê hương rằng tôi đã thành lập gia đình với anh Phạm Tuyên. Trong khi đó anh ở lại Hà Nội họp hành với các nhạc sĩ để chuẩn bị thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam (anh là một trong những hội viên đầu tiên sáng lập Hội). Khác hẳn với thái độ phản ứng trước đây, bây giờ bà con lại ủng hộ cuộc thành hôn của chúng tôi và cầu mong cho chúng tôi được hạnh phúc.

Anh chờ tôi ở Hà Nội để đưa tôi về gặp chị Bình, (tức bà Phạm Thị Giá – chị gái lớn nhất của anh) ở 16 Hàng Da. Chị bằng tuổi mẹ tôi, con gái lớn của chị cũng xít xoát bằng tuổi anh. Đây đúng là một gia đình thật sự, nơi mà tôi bao lâu mong ước. Chị Bình nhìn tôi âu yếm như người mẹ nhìn đứa con dâu ở nơi xa về. Thế là lần đầu tiên tôi được hòa vào không khí của cái gia đình ấm cúng ngày. Chị sắp xếp cho chúng tôi ngủ ở trên sân thượng đầy gió, chỉ có hai chúng tôi với trăng sao. Bầu trời thì cao rộng mà chúng tôi không hề thấy bị lạc lõng cô đơn, trái lại chúng tôi cảm thấy như được ôm ấp giữa ngàn sao. Suốt đêm không ngủ, chúng tôi trò chuyện với nhau, ôn lại chặng đường đã vượt qua biết bao trắc trở để được sống cùng nhau như bây giờ. Cái giọng Quảng Bình của tôi làm anh buồn cười, vì trước khi về quê hằng ngày tôi vẫn nói giọng Bắc chay, anh vẫn khen tôi nói rất chuẩn giọng Hà Nội. Thế mà bây giờ, chỉ sau có hơn một tuần trở lại quê nhà, tôi đã đổi giọng một cách thật tự nhiên và nhanh chóng. Thế mới biết bản tính quê hương vẫn luôn ẩn giấu trong tận xương tủy của mỗi người, giờ đây như sự trỗi dậy của một “bản năng”. Không xa lạ, không ngỡ ngàng, vẫn gần gũi và gần gũi hơn bao giờ hết, anh ôm ghì lấy tôi mà gọi: “O gái Quảng Bình của anh!” và cả sau này anh vẫn thường hay gọi tôi là o. Đó là mùa trăng áp Trung thu năm 1957. Chúng tôi sống ở nhà chị Bình được gần một tuần thì quay về Khu học xá, nơi có căn phòng của cái tổ ấm bé nhỏ.

Ngày 11 tháng 5 năm 1958, chúng tôi có con gái đầu lòng, đặt tên là Thanh Tuyền (tức là dòng suối âm thanh), áo, tã, chăn, gối đều được thêu đầy những nốt nhạc. Tôi sinh cháu ở bệnh viện Nam Ninh, bác sĩ, y tá, hộ lý đều là người Trung Quốc cứ gọi tôi là “xẻo ma ma” (tức là bà mẹ nhỏ) và chăm sóc rất chu đáo cả về vật chất lẫn tinh thần. Ngày tôi sinh cháu, anh phải về Hà Nội họp Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Tuy váng anh nhưng bên tôi đã có bạn bè, học sinh quây quần giúp đỡ. Các em học sinh thì phấn khởi lắm, ngày nào cũng đến thăm em bé và giúp cô giáo. Lúc anh sang thì mẹ con tôi đã về nhà, anh sung sướng nhìn hai mẹ con trong cái dáng làm mẹ lúng túng của tôi, anh thấy buồn cười quá nên cứ gọi yêu hai mẹ con tôi là “hai con chó của anh!”.

Tổ ấm gia đình đang hình thành nhưng bầu không khí Khu học xá lại trở nên vắng lặng sau những cuộc liên hoan rầm rộ và cảm động để chia tay giữa học sinh Việt Nam và học sinh Trung Quốc. Khối Sư phạm đã về nước gần hết, khối Phổ thông cũng đang lục tục lên tàu. Những gia đình có con nhỏ thì về nước chậm hơn, còn cái gia đình nhỏ bé của tôi thì về chuyến tàu sau rốt. Những người phục vụ, các đồng chí Tổng vụ khoa Trung Quốc ra tiễn tận sân ga. Không khí nặng hẳn xuống vì quyến luyến, những giọt nước mắt, những lời chia tay, những nỗi nhớ nhung cứ như kéo chúng tôi quay trở lại.

Tàu chạy để lại đằng sau bao kỷ niệm đẹp đẽ, còn chúng tôi mang theo về những tình cảm sâu đậm, những tri thức quý giá, những kinh nghiệm cần thiết cho nghề nghiệp và cuộc sống sắp tới của minh ở trong nước. Riêng tôi, ngày ra đi còn là một cô bé “không gia đình”, nay trở về với cả một “bầu đàn phu tử”. Điều đó khiến tôi hết sức cảm động, lòng trĩu nặng, không muốn rời xa cái nơi đã nuôi dưỡng dạy dỗ mình nên người, mặc dù nguyện vọng trở về phục vụ Tổ quốc nay đã được toại nguyện.

(…)

Về đến Việt Nam, chúng tôi ở tạm nhà chị Bình (tức là Phạm Thị Giá, trưởng nữ học giả Phạm Quỳnh, vợ giáo sư Tôn ba Pham Thi GiaThất Bình – PT chú) tại 16 phố Hàng Da, Hà Nội để chờ phân công tác. Một tháng ở nhà được chị chăm sóc chu đáo như sự chăm sóc của người mẹ, chị vừa chăm sóc cháu vừa dạy tôi cách làm mẹ.

Mùa hè năm đó (1958) lại có một đợt chỉnh huấn cho các giáo viên toàn miền Bắc. Vừa mới về nước chân ướt chân ráo, tôi ôm con nhỏ chưa đầy ba tháng tuổi đi học tập chính trị. Như một “trại tập trung”, chúng tôi – những người mẹ trẻ với những đứa con còn đỏ hỏn hoặc đang tập bò tập lẫy hoặc lẫm chẫm tập đi, vẫn miệt mài lên lớp nghe giảng chính trị và nghiên cứu tài liệu. Anh Tuyên lúc đó như một trợ lý cho người phụ trách trại, anh thường đọc tài liệu tham khảo trước hội trường cho đông đảo người nghe. Một giọng đọc trôi chảy mạch lạc, nhấn mạnh những câu, những ý quan trọng, một giọng đọc hấp dẫn khiến người nghe chăm chú và bị lôi cuốn vào tài liệu. Một buổi sáng anh đi mua quà sáng cho tôi và đánh mất ví tiền. Thế là vì mua gói quà chỉ mấy xu thôi mà lại đánh mất cả số tiền dành dụm được từ Khu học xá! Ai cũng thương cho anh chàng thư sinh của trại chỉnh huấn này!

Sau chỉnh huấn, chúng tôi lại trở về nhà chị Bình. Đang sống yên vui, êm ấm thì chúng tôi bị phân công tác ở hai địa điểm khác nhau: anh Tuyên ở lại Hà Nội công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam, ít lâu sau được cử ngay làm Trưởng ban biên tập ca nhạc kiêm Trưởng đoàn Ca nhạc của Đài. Còn tôi thì về trường Phổ thông cấp II Học sinh miền Nam số 13 tại Hải Phòng, nơi đó tập trung các em học sinh miền Nam từ Khu học xá về. Tôi ngỡ ngàng và luyến tiếc cảnh gia đình đầm ấm này, không ngờ cái tổ ấm bé nhỏ của chúng tôi bây giờ lại bị chia làm đôi. Nhưng đang trong phong trào “tam bất kỳ” (còn được gọi là “ba sẵn sàng”), chúng tôi chấp nhận ngay mà không hề đề đạt một nguyện vọng nào. Trong khi soạn đồ đạc để xuống Hải Phòng, lỉnh kỉnh nhiều thứ vì có con nhỏ, tôi mới nhận thấy anh Tuyên là người nghĩ xa trông rộng hơn tôi. Hồi còn ở Khu học xá khi chuẩn bị về nước, anh bàn mua cho mỗi người một cái va li to phòng khi sau này không được ở cùng nhau. Lúc đó tôi còn ngây thơ nghĩ người ta sẽ cho cái tổ ấm bé nhỏ của mình ở cùng một nơi thôi, nào ngờ đó là sự thật, bây giờ chúng tôi bị chia thành đôi ngả!

Cuối hè năm 1958, tôi bế con xuống Hải Phòng, sống trong một nhà thờ đạo cũ, nơi đường Hoàng Văn Thụ cắt đường Hồng Bàng. Đó là cơ ngơi của trường Học sinh miền Nam số 13. Anh tiễn hai mẹ con tôi xuống Hải Phòng rồi lại vội vàng về Hà Nội ngay.

Một thời gian khá dài, tôi một mình nuôi con nhỏ, cháu mới hơn ba tháng tuổi. Nhìn ra xung quanh bọn bạn tôi khá đông cũng đều là giáo viên trường Học sinh miền Nam. Đang tuổi thanh niên hăng say công tác, tôi gửi cháu ở nhà trẻ để lên lớp và làm nhiều công việc khác do trường phân công. Rất nhiều lần tôi phải dẫn học sinh đi lao động tại nhà máy điện Cửa Cấm, nhà máy Đóng tàu Bạch Đằng, có khi còn ra tận ngoài đảo Hòn Ngọc, Hòn Dấu để biểu diễn văn nghệ cho bộ đội và bà con trên đảo xem. Buổi biểu diễn thật đặc biệt, diễn viên đông hơn khán giả. Buổi tối còn đi dạy bổ túc văn hóa cho công nhân nhà máy len. Cháu nhỏ vì thế mà ít được bú mẹ nên đổ nhiều thứ bệnh, chủ yếu là ho gà, mặc dù các bác, các cô ở nhà trẻ hết lòng chăm sóc. Lâu lâu bố cháu mới về thăm hai con tôi một lần vì quá bận công tác, phần vừa phụ trách biên tập nhạc, (lúc đó ca nhạc trên làn sóng phát thanh được coi là trung tâm ca nhạc của cả nước), phần vừa dẫn Đoàn Ca nhạc của Đài đi biểu diễn xa lại vừa hay đi thực tế để sáng tác bài hát.

Chỗ tôi ở là một cái phòng khá rộng khoảng 30m2, nhưng lại chung nhau những ba cặp mẹ con, tức là ba gia đình nhỏ: U HoanMinh và con, Liên và con và mẹ con tôi. Mỗi cặp mẹ con ở một góc, chỉ đủ kê một giường ngủ và một bàn làm việc, góc thứ tư là cửa ra vào. Mỗi lần về thăm, anh không được ở lại phòng mẹ con tôi với lý do mà ông Tuệ, người phụ trách hành chính của trường cho là không tiện vì gần phòng ở của học sinh. Chúng tôi bị điều xuống tầng trệt tối tăm, ẩm ướt, rất nhiều chuột, gián… Thật khủng khiếp! Đến giờ nhớ lại vẫn thấy rùng mình! Vì thế mà anh cũng ngại về qua đêm ở Hải Phòng, sợ bất tiện, chỉ về thăm chớp nhoáng mẹ con tôi rồi vội vàng ra tàu về Hà Nội. Xót vợ, thương con, lòng nặng trĩu mỗi lần từ Hải Phòng về. Cháu nhỏ lúc này lại hay ốm mà tôi thì công tác rất bận, nên anh bàn với tôi theo gợi ý của chị Bình là đưa cháu về Hà Nội để chị chăm sóc cho. Thế là mẹ con lại xa nhau, cứ chủ nhật tôi lại lên xe hàng về Hà Nội thăm con và thường bị cánh lái xe hỏi trêu chọc: “Thăm con trai hai mấy tuổi rồi à?”. Ít lâu sau thấy bất tiện quá, vì tôi đang dạy ở một trường nội trú, ba má học sinh lại đang chiến đấu ở tận miền Nam, nên chủ nhật các giáo viên cũng phải có mặt tại trường để chăm sóc học sinh. Có thể nói, hồi đó chúng tôi ngày làm việc tại trường 24/24 cả lúc các em học, lúc các em ăn, lúc các em ngủ, cả lúc các em chơi… chúng tôi đều có mặt. Tất cả vì học sinh miền Nam ruột thịt! Do đó ngày nghỉ để về Hà Nội cứ thưa dần, lâu lâu mới về một lần. Tuy bận suốt ngày nhưng đêm đến lại nhớ và thương con quá chừng. Tôi bàn với anh để con xuống lại trường cho có mẹ có con. Anh và chị Bình thấy nguyện vọng của tôi là hợp lý hợp tình, nhưng lại sợ tôi bận mà không chăm được cháu chu đáo, đành mướn một bà cụ đã trông chị Hoàn (người chị kề với anh Tuyên) lúc còn bé. U hết lòng thương yêu, chăm sóc cháu bé, cháu thì khỏe hẳn ra trông thấy mà u lại vui hơn vì được gần trẻ nhỏ. Hơn nữa u là người ở lâu trong gia đình anh từ ngày xưa, khi có gia biến u một mực đòi ở lại với gia đình, khổ mấy cũng chịu, còn tôi thì được rảnh tay mà lao vào công tác. Nhưng thật không may cho tôi, đó lại là một trở ngại lớn trên bước đường phấn đấu vào Đảng. Lúc này tôi là đối tượng đang được thử thách để kết nạp vào Đảng đợt mùng 6 tháng Giêng, đúng vào ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam nhân kỷ niệm Đảng tròn 30 năm (sau này mới đính chính lại là ngày 3 tháng 2). Nhưng khi chi bộ xét kết nạp tôi thì có một đồng chí phát hiện tôi đích thị là thành phần bóc lột vì nuôi người ở trông con! Tội này còn nặng hơn là tội dính líu với thành phần phản động (vì tôi là con dâu của Phạm Quỳnh). Tội lỗi chồng chất, thế là tôi bị ra rìa! Nhưng bụng bảo dạ, mình phải như một phần tử trung kiên chiến đấu vì lý tưởng cộng sản, kiên trì phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Vả lại trong gia đình tôi từ cha mẹ, anh chị và cả chồng nữa (Phạm Tuyên, con Phạm Quỳnh) đều là đảng viên rồi, hơn nữa ba tôi là một chiến sĩ cách mạng tiền bối, là liệt sĩ, mình cần phải xứng đáng với một gia đình cách mạng!

Trong cao trào xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà, trên toàn miền Bắc những làn sóng cách mạng dâng trào như Cờ Ba Nhất (trong quân đội),  Gió Đại Phong (trong nông nghiệp_ và chính ngay trên đất Hải Phòng cũng mở đợt thi đua “dạy tốt, học tốt” rầm rộ trong các trường học. Tôi được nhà trường cử ra “dạy thao diễn” một tiết học cho giáo viên toàn thành phố đến dự. Tôi chọn bài Con mắt ở phần Quang học trong chương trình Vật lý lớp sáu. Hôm đó tôi ăn mặc chỉnh tề, say sưa giảng bài cho các em học sinh lớp tôi. Tuy có đông người đến dự nhưng do tôi đã chuẩn bị bài kỹ, cố gắng làm giáo cụ trực quan sinh động và tập giảng thật hay, nên giờ giảng đó của tôi đạt kết quả khả quan và được đồng chí Toàn, Hiệu phó phụ trách chuyên môn thay mặt nhà trường lên tặng hoa và đông chí Muôn, Giám đốc Sở Giáo dục Hải Phòng lên gắn bông hồng đỏ – một sự tuyên dương đặc biệt. Tôi lúc đó sung sướng khôn kể, cảm thấy mình như là một “người anh hùng”! Thế rồi đến niên học 1960-1961, tôi được cử đi học ở khoa Toán trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Cuộc đời lại bước sang một trang mới và gia đình nhỏ bé của tôi lại biến động theo.

N.A.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: