Pham Ton’s Blog

Tháng Hai 6, 2014

Chúng tôi đã sống như thế: Mang con đi học

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 10:16 chiều

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 3 tháng 2 năm 2014.

Chúng tôi đã sống như thế:

MANG CON ĐI HỌC

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 120 đến trang 134)

Nguyễn Ánh Tuyết.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọc trung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS NguyễBa Tuyet sach chung toi da song nhu then Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

*

*     *

L

ên Hà Nội học, tôi mang theo con nhỏ vào trường, học ở khoa Toán, lớp 1H cùng với các bạn sinh viên, họ đều là học sinh vừa tốt nghiệp lớp 10 xong, còn rất trẻ. Trong đó có nhiều sinh viên là học sinh miền Nam, có cả học sinh cũ của tôi hồi còn ở Khu học xá. Thấy tôi mang theo con nhỏ đi học thì thích lắm và hết lòng giúp đỡ, từ nay trong phòng ở lại có tiếng trẻ con. Tôi được xếp nằm tầng dưới (giường hai tầng) vì sợ em bé đái dầm và để tiện sinh hoạt cho hai mẹ con. Còn cháu Tuyền thì thích thú ra mặt vì được các cô vui đùa chiều chuộng. Hằng ngày lên lớp tôi gửi cháu ở vườn trẻ ngay trong khu tập thể của trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Có hôm đang học thì thấy cháu hai tay cầm hai chiếc dép chạy theo sau bọn trẻ con em cán bộ trong trường, một giảng viên đang chữa bài tập cho chúng tôi liền chạy ra dắt cháu vào lớp. Hồi ấy tôi lại được bầu vào Ban chấp hàng Đoàn trường, mỗi lần đi họp cháu cứ lẽo đẽo đi theo như một cái đuôi. Nhiều lần cháu bị ốm, thức suốt cả đêm, vật vã với bệnh tật, hồi hộp, thao thức canh chừng giấc ngủ cho con, sáng hôm sau phải lên hội trường lớn để nghe giảng chính trị. Tuy đêm hôm trước thức trắng nhưng tôi lại không cảm thấy buồn ngủ,  mắt cứ thao láo, nhìn khắp hội trường có gần nghìn sinh viên từ các khoa đến mà phần nhiều lại đang ngủ gà ngủ gật. Thần kinh tôi thật là tốt! Nhiều bạn trẻ khen tôi như vậy, đúng là trời phú cho. Ngay khi đã về già, nhiều đêm mất ngủ do phải suy nghĩ nhiều vấn đề khoa học và cuộc sống, thế mà ngày hôm sau tôi vẫn tỉnh táo, không cảm thấy mệt mỏi. Có lần cháu Tuyền bị bệnh sốt vàng da phải đi bệnh viện ngay, nhưng hôm ấy đến lượt tôi phải trả bài, không thể đưa cháu đi bệnh viện được. Lúc đó Thanh, một nam sinh đến từ trường Học sinh miền Nam xung phong đưa cháu Tuyền đi ngay bệnh viện B (bệnh viện chữa bệnh cho trẻ em ở Hà Nội) khám và lấy thuốc cẩn thận. Tôi thật cảm động vô cùng. Đúng là trong khó khăn mới thấu tình người!

Trời xui đất đẩy thế nào mà anh lại được lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam cử đi học lớp chính trị cao cấp tại trường Nguyễn Ái Quốc ba tháng. Trường đóng bên cạnh trường Đại học Sư phạm Hà Nội, theo đường chim bay chỉ không đầy một cây số. Thế là cứ chiều chiều sau giờ học chúng tôi lại được bên nhau, cháu đi giữa cầm tay hai bố mẹ đi hai bên dạo quanh cánh đồng lúa xanh rờn làng Dịch Vọng, nơi có nghề làm cốm nổi tiếng, gọi là cốm Vòng. Và chúng tôi “chiêu đãi” nhau bằng những hạt cốm Vòng gói trong lá sen thơm phức mùi nếp non quyện với hương sen, vừa ăn vừa chuyện trò vui vẻ. Có lần cháu ngây thơ hỏi: “Có phải bố là thanh niên cờ đỏ của trường bố không?”, vì cháu thấy ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội có rất nhiều thanh niên cờ đỏ. Đúng vậy, “học sinh” trường Nguyễn Ái Quốc toàn những người già, rất ít người trẻ như bố cháu. Rồi cứ chiều thứ bảy là ba bố mẹ con trên một chiếc xe đạp về Hà Nội, nơi ấy có một căn phòng Đài phân cho anh để vừa làm việc vừa ở tại Ngã Tư Vọng. Thế cũng là một tổ ấm, lúc này chúng tôi cảm thấy hạnh phúc vô cùng!

Việc học tập và công tác của tôi ngày càng bận, lại sắp sửa thi tốt nghiệp, anh lại bàn với tôi cho con về ở với anh, tôi hơi ngần ngừ vì thấy anh quá bận, hơn nữa cảnh “gà trống nuôi con” thì cũng quá tội. May quá, có một bà cụ già tên là Chúc không chồng không con được một ông bạn trong Đài giới thiệu về ở trông nom cho cả hai bố con để tôi yên tâm mà học tập và công tác. Hằng ngày bà dắt cháu đến mẫu giáo, có khi còn lấy lá chuối buộc tóc cho và nấu cơm cho hai bố con ăn.

Hè năm 1963, tôi tốt nghiệp ra trường, được giữ lại khoa Toán và đang được bồi dưỡng theo chương trình toán đặc biệt để trở thành cán bộ giảng dạy của khoa. Nhưng đùng một cái, theo yêu cầu của ông Phạm Huy Thông, lúc này là hiệu trưởng của trường, tôi được cử sang học thêm một khóa nữa về Tâm lý học và Giáo dục học. Vì theo ông đã là một trường Sư phạm thì phải có các bộ môn về khoa học Sư phạm thật mạnh, đó là các môn nghiệp vụ của trường. Lại tiếp thêm hai năm học để lấy thêm một tấm bằng đại học chính quy nữa về Tâm lý học và Giáo dục học. Thế là vẫn không thoát khỏi cảnh ăn cơm tập thể, ngủ giường hai tầng. Nhưng rất vui khi mỗi chiều thứ bảy được đạp xe về đoàn tụ gia đình cho đến tối chủ nhật, rồi lại hối hả đạp xe vào trường cho kịp trước 19 giờ, nếu chậm sẽ bị thanh niên cờ đỏ ghi tên!

Cuộc sống thời chiến

T

háng 6 năm 1965, tôi được ra trường, lần này thì thực sự chấm dứt đời sinh viên. Tôi được giữ lại tổ Tâm lý – Giáo dục của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tiền thân của khoa Tâm lý – Giáo dục ngày nay, đúng vào những ngày cả nước sôi sục đánh trả chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc. Tất cả các trường học từ mẫu giáo đến đại học đều phải sơ tán về nông thôn. Gia đình chúng tôi cũng phải sơ tán mỗi người một nơi. Tôi chưa thể xin cho cháu Tuyền vào học lớp Một ở trường nào cả vì chưa biết gửi cháu đi đâu. Bố cháu thì ở lại “trực chiến” tại Đài Tiếng nói Việt Nam 58 Quán Sứ, một trong những trọng điểm đánh phá của giặc, tôi thì đi theo trường nhưng chưa xác định được địa điểm.

Tội nghiệp, những ngày ở nhà, cháu Tuyền rât háo hức mong ngày mong đêm để được đi học. Nhưng biết học trường nào đây? Cuối cùng phải gửi cháu lên nhà bác Bình ở Hàng Da và cháu đành phải tự học, hằng ngày cháu cứ lôi sách lớp Một ra rồi tự ra toán để giải và viết chính tả, rồi tự cho điểm bằng bút chì đỏ. Một buổi sáng tôi lên Hàng Da thăm cháu, cháu hí hửng khoe: “Mẹ ơi! Con học được chữ ngờ rồi, dễ quá! Thế mà nhiều người vẫn chưa học được”. Vì thỉnh thoảng cháu vẫn nghe người lớn phàn nàn: “Ai mà học được chữ ngờ!”. Có lần cháu trót “dấm đài”, tự vò quần rồi mang ra phơi, mồm còn nghêu ngao: “Nắng lên đi! Mang quần ta ra phơi” phỏng theo câu hát: “Gió lên đi! Cho thuyền ta ra khơi” trong ca khúc Bám biển quê hương mà bố cháu viết trong lần đi thực tế Quảng Bình, Vĩnh Linh. Lúc đó Quảng Bình và Vĩnh Linh là địa đầu của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, là vùng “cán xoong” được dự đoán đó sẽ là nơi địch đánh đầu tiên khi mở chiến tranh phá hoại ra miền Bắc.

Tôi theo trường sơ tán lên Đại Từ (Thái Nguyên), thấy chưa ổn nhà trường lại chuyển về Phù Cừ (Hưng Yên).

Cháu Tuyền thì được gửi theo các cháu con nhà anh chị tôi sơ tán ở Sen Hồ (Bắc Ninh) được chăm sóc chu đáo. Thế là nhà tôi, ba bố mẹ con mỗi người một nơi. Đây là tình trạng chung cả nước chứ không riêng gì ai. Cháu Tuyền được ăn ở tử tế va cũng kịp vào lớp Một ở Sen Hồ, nhưng đã đến học kỳ hai rồi, may là sức học thuộc vào loại giỏi vì cháu đã tự học ở nhà. Xa nhà các cháu nhớ bố mẹ lắm, nhưng nhờ có đông anh chị em lại sàn sàn cùng lứa nên cũng vui, cũng khuây khỏa. Mỗi lần nhớ nhà, các cháu rủ nhau viết thư kể đủ thứ chuyện nơi sơ tán và cuối thư bao giờ cũng không quên câu: “Chào đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!”.

Mỗi lần đi thăm con, chúng tôi phải bố trí cho khớp ngày giờ của hai người, bởi chúng tôi mỗi người một ngả. Có lần đi thăm cháu, khi quay về, đến Dâu Keo (địa phận giáp giữa Bắc Ninh với Hà Nội) thì xe máy của anh bị trục trặc không thể tiếp tục chạy nữa, chúng tôi đành dắt bộ đến hàng chục cây số mới có nơi sửa chữa. Lần khác, khi đang đi thì gặp phải trận mưa to quần áo ướt hết, vừa đói vừa rét vì phải đi cho sớm để tránh máy bay giặc nên chưa kịp ăn uống gì. Đi mãi đi mãi mới tìm được một cửa hàng ăn mậu dịch, chúng tôi ghé vào thì người ăn đã vãn, chỉ có “phở không người lái” (một thứ phở chỉ có bánh và nước, không có thịt đang phổ biến ở các cửa hàng ăn của nhà nước thời bao cấp mà có người gọi chế nhạo là: “Phở mậu dịch, kịch truyền hình” vì đều dở như nhau!), chúng tôi đành ăn vậy. Bưng bát phở mà tay run lẩy bẩy, mồm run cầm cập, động viên nhau ăn để lấy sức mà đi. Có thể nói không lần nào đi thăm con mà không gặp phải sự cố.

Khi đã ổn định chỗ ở nơi sơ tán, tôi đưa cháu về ở cùng và cháu lại được đi học trường cấp I ở thôn Cát Dương. Thầy giáo làng dạy rất tận tụy, lại dạy cho học trò hát nữa, đại loại như bài hát “chống di cư” theo điệu cò lả: “Hỡi ai (ai) có đủ (đủ) cơm ăn! Đừng đi (đi) theo giặc (giặc) khó khăn (khăn) trăm bề/ Tình tính tang, tang tính tình, dân mình rằng, dân mình ơi, cùng nhau chống (chống) di cư, cùng nhất quyết chống di cư…” mà đến nay cháu vẫn còn nhớ. Thế là đã yên. Bây giơ không phải đi thăm cháu nữa, chỉ có anh phải về thăm hai mẹ con tôi thôi. Mỗi lần về Cát Dương, anh mang theo lỉnh kỉnh nào nước mắm, xì dầu, đường, mì chính, bánh kẹo… mua theo phiếu phân phối để tiếp tế cho hai mẹ con. Được gặp bố, cháu Tuyền sung sướng lắm, đi khoe khắp xóm, thế là chẳng mấy chốc những thứ anh mang về vơi đi nhanh chóng.

Cũng có lần tôi đạp xe về Hà Nội để thăm anh và mua một số thứ cần thiết. Những chuyến đi ấy cũng lắm gian nan, phải đạp xe gần trăm cây số. Khổ nhất là lúc quay về nơi sơ tán, có lần đạp xe giữa trời nắng to, tôi cứ cắm đầu cắm cổ mà đạp cho mau tới. Đến lúc ngẩng đầu lên thì thấy sừng sững một loạt phố xá, hỏi ra mới biết đây là thị xã Hải Dương, quá đến gần chục cây số đường rẽ vào Sặt để rồi từ đó đi tắt qua Thanh Miện mà về Phù Cừ đến Cát Dương. Mệt quá nhưng vẫn phải quay lại, không còn cách nào khác. Lại có lần từ Hà Nội về Cát Dương, đến Quán Bầu đầu làng (mà có người trong Khoa tôi gọi nhầm là Bầu Bàng, nơi vừa diễn ra trận đánh Mỹ thắng lớn ở miền Nam), đường vào làng lầy lội, chẳng may xe tôi thụt xuống một đoạn đường bùn ngập hết bánh xe, vậy là tiến thoái lưỡng nan! Bỗng nghe thấy tiếng chèo thuyền bì bõm dưới sông, tôi liền kêu to: “Ai ở dưới sông lên cứu tôi với!”. Ngay lập tức một bác nông dân trông rất khỏe mạnh lên đưa tay kéo tôi đang ngập bùn đến tận bẹn, trên vai còn mang theo chiếc đài bán dẫn Orionton, đây là chiếc đài được bộ Lâm nghiệp tặng cho anh Tuyên khi anh viết Bài ca người thợ rừng. Hồi đó có đài nghe là rất hiếm. Hỏi ra mới biết tên người chèo thuyền là Bát ở cạnh thôn Cát Dương, bác còn kéo lên được cả chiếc xe đạp cùng với mấy thứ mua được từ Hà Nội. Thật là may! Giá như bây giờ thì có mà đi toi cả người lẫn của! Thời đó sống khổ nhưng yên lành, giàu tình người, “Người với người sống để yêu nhau”. Cứ vào tối thứ bảy là bạn bè và bà con trong thôn tụ tập lại tại sân nhà tôi (một căn nhà được chị Trình nhường cho ở tạm) để nghe Kể chuyện cảnh giác phát ra từ chiếc đài Orionton vừa mới được cứu từ bùn lên.

Cuộc sống nơi sơ tán thế cũng là tạm yên, hằng ngày tôi vẫn lên lớp giảng bài, cháu Tuyền vẫn cắp sách đến trường và hằng tháng đều đặn anh vẫn xuống thăm mẹ con tôi và thường hát cho tôi nghe những bài hát mới mà anh vừa sáng tác trong các chuyến đi thực tế. Một buổi trưa mùa hè trong căn nhà nhỏ yên tĩnh của làng quê anh hát cho tôi nghe bài Chiếc gậy Trường Sơn anh vừa viết xong trong chuyến về thăm Hòa Xá (Hà Tây), nơi có phong trào “Bộ đội tại làng”, quê hương của “Chiếc gậy Trường Sơn”. Tôi hào hứng hát theo bài hát có giai điệu và tiết tấu thấm đượm dân ca đồng bằng Bắc Bộ.

Cuối tháng 4 năm 1968, nhân dịp lễ 1 tháng 5, tôi về Hà Nội cũng là để sinh cháu thứ hai, gửi cháu Tuyền lại nơi sơ tán nhờ cô Dương, một nữ cán bộ giảng dạy trẻ trông giúp, lúc này cháu Tuyền đã học lớp bốn. Tưởng là nghỉ trước được nửa tháng, ai ngờ ngay rạng sáng hôm sau (1-5-1968) tôi sinh cháu tại bệnh viện C (nay là Viện Bà mẹ và Trẻ sơ sinh). Cách 10 năm mới lại sinh thành ra cứ như là sinh con so! Vì đang là thời chiến nên bệnh viện chỉ cho ở đúng 1 ngày. Đến ngày hôm sau thì bác Bình và bố cháu vào đón hai mẹ con về nhà. Đây là một căn nhà cấp bốn Đài phân cho anh.

Như vậy tổ ấm của chúng tôi giờ đây đã có bốn thành viên. Ai cũng mừng là mẹ tròn con vuông, chỉ phải tội là tôi sinh con “một bề”, cả hai cháu đều là gái cả! Tuy vậy anh vẫn thấy rất vui khi nhìn cháu bé xinh xắn, hồng hào khỏe mạnh. Anh thường nói vui để tự động viên: “Con gái nhà mình gấp ba lền con trai nhà người ta đấy!”. Lúc đầu định đặt tên cháu là Trà Mi, Mi là tên một nốt nhạc. Nhưng rồi bị nhiều người trong gia đình phản đối vì liên tưởng tới một câu thơ trong Truyện Kiều : “Thương hay một đóa trà mi!”. Sau đó đặt lại tên là Hồng Tuyến, tên một ca sĩ nổi tiếng Trung Quốc thời bấy giờ (Hồng Tuyến Nữ). Có một cách giải thích đơn giản và dễ nhớ hơn vê tên các cháu: cứ đánh dấu huyền vào tên bố là thành tên con là Tuyền, cũng như vậy cứ đánh dấu sắc vào tên bố là thành tên con là Tuyến. Đơn giản và dễ nhớ hơn nữa là tên của cả nhà bố mẹ con cái được coi là bốn nốt nhạc nối tiếp với cao độ khác nhau: Tuyên Tuyết Tuyền Tuyến.

Ngày sinh cháu thứ hai thiếu thốn trăm bề, từ tã lót cho đến đường sữa cho trẻ em, tất cả mọi thứ đều được phân phối rất ít theo tem phiếu, cả hoa quả cũng chẳng có thứ gì vì đang giao mùa giữa xuân và hè, vả lại chưa có sự lưu thông hàng hóa giữa các địa phương nên Hà Nội đã thiếu lại càng thiếu hơn. Thế mà khi cháu mới tròn hai tháng (tức là hết hạn nghỉ đẻ) mẹ cháu đã phải đi dạy ở tận nơi sơ tán, lúc này sinh viên vẫn chưa được về Hà Nội. Sáng đi tối mịt mới về, mẹ thì bầu sữa căng phải vắt bỏ đi mà con ở nhà thì lại đói sữa, khóc lạc cả giọng, bạc cả người! Xót lắm nhưng vẫn phải hoàn thành nhiệm vụ. May mà có bà Chúc trước đây trông cháu Tuyên nay tìm đến trông cháu Tuyến, được cái bà sạch sẽ tươm tất lại tận tình chăm sóc cháu bé. Tối về mẹ con mới được hú hí bên nhau.

Lúc này máy bay Mỹ đã ngớt ném bom Hà Nội, các gia đình từ nơi sơ tán lục đục kéo về, mẹ con tôi cũng tranh thủ nán lại Hà Nội, tuy thỉnh thoảng vẫn nghe tiếng còi báo động rú lên kèm theo giọng thông báo vừa hối hả vừa bình tĩnh của phát thanh viên Đài Hà Nội: “Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Hiện nay máy bay địch cách Hà Nội 50 (40, 30…) cây số, đồng bào hãy mau chóng tìm nơi ẩn nấp!”, tôi lại bế cháu xuống hầm. Một thời gian dài tình hình vẫn như vậy, Hà Nội nửa hòa bình nửa chiến tranh, các đội tự vệ vừa chiến đấu vừa sản xuất, pháo phòng không không quân vẫn canh giữ bầu trời. Tôi cho cả cháu Tuyền về Hà Nội và tiếp tục học tại trường Hoàng Văn Thụ, gần chợ Mơ. Phố xá Hà Nội hoạt động nhộn nhịp trở lại, người về thành phố ngày càng đông. Để đề phòng máy bay địch phát hiện mọi người đều mặc quần áo thẫm màu, chủ yếu là màu đen, màu nâu hay màu rêu. Đêm đến đường phố tối đen như mực, chỉ le lói anh sáng điện ở một vài nơi quan trọng.

Gia đình tôi lúc này cũng được đoàn tụ, đầy đủ cả bốn người, không khí trong nhà thật ấm cúng và vui vẻ, chỉ mỗi tội nam giới bị thiểu số, chỉ chiếm ¼ “dân số” của cả nhà, bố cháu cũng mong có “bạn cùng giới”. May quá tự nhiên bên góc tường mọc lên một cây đu đủ mà lại là đu đủ đực, thêm vào đó có một chú mèo hàng xóm hay qua chơi, thế là anh mừng quá nói vui là: “Nhà mình được “cân bằng giới” rồi!”.

Những ngày gia đình sum họp cũng là thời gian anh đi thực tế nhiều nhất để sáng tác, lúc thì về nông thôn, lúc thì về nhà máy, lúc thì vào tuyến lửa… Trong những chuyến đi ấy anh rất yên tâm và tự hào vì đã có một “hậu phương” vững vàng. Khi về bao giờ cũng mang theo quà của các nơi gửi tặng là những đặc sản của địa phương, nhưng món quà quý giá nhất là những bái hát nóng hổi mà anh vừa mới sáng tác. Anh thường hát cho tôi nghe như là để báo cáo với vợ kết quả của các chuyến đi thực tế.

Cuộc sống đang tạm gọi là yên bình thì được tin máy bay B52 của Mỹ sẽ tập kích vào Hà Nội với lời hăm dọa biến thành phố này trở lại thời kỳ đồ đá để trả đũa cho những chiến thắng vang dội của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam và chiến công hạ máy bay địch trên toàn miền Bắc. Lệnh sơ tán triệt để ra khỏi thành phố, các cơ quan, nhà máy, trường học, cửa hàng, nhà dân… đều trở về nông thôn, chỉ để lại một số ít bộ phận trực chiến. Bố cháu cũng ở lại trực chiến về công tác phát thanh văn nghệ trên làn sóng và đã đợc thông báo về khả năng địch sẽ ném bom các cơ sở của Đài nếu chúng tấn công vào Hà Nội.

Mẹ con tôi vừa về nơi sơ tán hôm trước thì ngay hôm sau (18/12/1972) địch cho hàng loạt máy bay B52 vào ném bom dữ dội phá sập nhiều nhà cửa. Bốn giờ sáng ngày 19/12 đài phát sóng lớn nhất của ta ở Mễ Trì (ngoại thành Hà Nội) bị địch đánh sập, trưa hôm đó địch ném bom đài phát sóng ở Bạch Mai (Ngã Tư Vọng) và đó cũng là khu tập thể, nơi có căn nhà thân yêu của chúng tôi. Chúng đã biến khu tập thể thành một đống gạch vụn. Vệt bom đi đúng vào giữa căn nhà chúng tôi, chiếc dương cầm bị vỡ toang, phím đàn nát vụn, giường ngủ, tủ sách bị sập gãy lẫn trong vôi vữa của tường và trần nhà bị sụp đổ. Ngày hôm sau ga Hàng Cỏ (nay là ga Hà Nội), bệnh viện Bạch Mai cũng bị bom đánh sập, rồi ngày 26/12 Khu phố Khâm Thiên sầm uất lại bị bom rải thảm. Từ nơi sơ tán, chúng tôi nín thở hồi hộp nhìn về hướng Hà Nội thấy những vết sáng chóe lóe, những cột khói đen ngòm. Đau thương tang tóc đang trùm lên thành phố! Sáng sớm hôm sau ngày đầu tiên địch ném bom xuống Hà Nội, trên đường đi từ Đình Dù sang Tân Quang Hưng Yên, nơi có lớp học của sinh viên, tôi có lắng nghe xem có tiếng đài phát ra không thì từ xa vẳng tới tiếng nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam, tôi thở phào, thế là Đài vẫn còn, người vẫn sống! Cứ thế, từ nơi sơ tán, mẹ con tôi hồi hộp lo âu suốt 12 ngày đêm địch ném bom Hà Nội (từ 18 đến 30/12/1972). Và niềm vui như được đền đáp, ta đánh cho đế quốc Mỹ thất điên bát đảo bằng một trận Điện Biên Phủ trên không đã bắn hạ được nhiều máy bay B52 và các loại khác, buộc chúng phải ký Hiệp định Paris.

Vừa dứt tiếng bom, ở nơi sơ tán cán bộ sinh viên trường tôi ai cũng đòi về Hà Nội, trong lúc đó trường sở đã bị tháo dỡ từ lâu rồi để xây dựng lớp học nơi sơ tán, giờ đây chỉ còn lại một khu đất hoang tàn với một số nhà tầng cũ kỹ và vài dãy nhà lá lụp xụp. Cụ Nguyễn Lương Ngọc là Hiệu trưởng phải đứng ra động viên mọi người hãy yên tâm ở lại nơi sơ tán thêm ít lâu nữa để nhà trường có đủ thời gian tu sửa và xây dựng lại nhà cửa. Bây giờ dọn về cả thì không có đủ chỗ ở và thiếu thốn đủ mọi bề. Nhưng tất cả đều đồng lòng đòi về trường cũ ngay, hứa khổ mấy cũng chịu và tuyệt đối không kêu ca phàn nàn gì! Hiệu trưởng đành đồng ý cho phép các khoa trở về Hà Nội. Nhưng về trường cũ mới chưa được bao lâu thì cái thiếu, cái khổ hằng ngày cứ hiển hiện trong cuộc sống của mỗi người. Rồi…những câu kêu ca đồn thổi chẳng hay ho gì đã loan khắp thành phố: “Cán bộ và sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội ăn như sư ở như phạm” khiến ai nghe cũng phải rùng mình và thương hại cho cán bộ và sinh viên trường tôi.

Lần này từ sơ tán trở về, thấy quang cảnh đổ nát của khu tập thể mà xót xa, thấy cửa nhà tang hoang mà ngậm ngùi, chúng tôi không cầm nổi nước mắt. Bây giờ ăn ở ra sao đây? Bao nhiêu khó khăn chồng chất trước mắt. Ngay lúc dó đồng chí Trần Lâm, Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam quyết định dành một phòng thuộc dãy nhà cấp bốn nằm ngay trong khu nhà 58 Quán Sứ (địa điểm chính của Đài Tiếng nói Việt Nam) cho gia đình chúng tôi. Đó là một sự ưu ái đặc biệt của lãnh đạo Đài. Thế là có chỗ cho “bầu đàn thê tử” nương thân, lại chứa được tất cả đồ đạc từ nơi sơ tán về. Chúng tôi phấn khởi hăng hái dọn dẹp sắp xếp nhà cửa. Căn nhà rộng 18m2 cũng đủ để bố trí được phòng ngủ của bố mẹ, phỏng ngủ của con cái, có cả nơi tiếp khách và nơi làm bếp, trông cũng tươm tất xinh xắn, ai đến thăm cũng đều khen là khéo sắp xếp. Bởi dù khó khăn mấy chúng tôi bao giờ cũng muốn đưa cái đẹp vào cuộc sống gia đình, tạo cảm giác thoải mái để sống và làm việc. Nhà tuy bé như vậy nhưng luôn có hoa tươi trên bàn. Chỗ ở thay đổi nhiều nơi nhưng dù ở đâu thì hoa tươi lúc nào cũng có mà chủ yếu là được nhiều người tặng. Tôi thì nhiều học sinh, sinh viên, sau này lại nhiều nghiên cứu sinh; anh thì cũng có nhiều học trò cũ và nhất là nhiều người hâm mộ thành ra quanh năm ngày tháng ít khi nhà vắng hoa. Hơn nữa hoa đến nhà chúng tôi bao giờ cũng có sức sống bền lâu, bởi chúng tôi chung tình với chúng, luôn chăm sóc tỉa tót giữ cho hoa tươi màu. Mỗi bó hoa ở với chúng tôi thường dễ có đến bốn năm hôm. Khi nào làm việc mệt, muốn thư giãn tôi chỉ cần ngồi ngắm hoa là cũng đỡ căng thẳng thần kinh.

Vậy là “an cư lạc nghiệp”, hằng ngày anh vẫn công tác ở Đài, lại có phần thuận lợi hơn vì ở ngay trong Đài. Khốn nỗi vợ con ra vào đều phải xin phép cảnh vệ, rắc rối hơn là bạn bè các con không được đến chơi tự do, lại nữa phiếu mua gạo đăng ký ở tận cửa hàng gạo Đại La (Ngã Tư Vọng). Mỗi tháng đến kỳ mua gạo phải đi rất xa. Có lần bố mẹ bận, cháu Tuyền năm ấy 14 tuổi phải đi mua gạo tận dưới Đại La rồi thồ về Quán Sứ bằng xe đạp, xa phải đến những sáu, bảy cây số. Chẳng may đi được một quãng thì xe bị trật bánh, cháu vấn cố gắng đẩy xe về đến tận nhà, về đến nơi, mệt và ức quá đành quăng cả xe lẫn gạo mà khóc! Riêng đối với cháu Tuyến bốn tuổi thì tình hình khả quan hơn, hằng ngày cháu được đến trường Mầm non A ở phố Hàng Bông Nhuộm gần Đài, về nhà lại được các chú nhạc sĩ của Đài dạy cho nhiều bài hát thiếu nhi. Lúc đó cháu như “một ca sĩ nhí” hát rất nhiều bài do nghệ sĩ Hoàng Mãnh đệm đàn piano như bài Trường của cháu là trường Mầm non của bố cháu, Cô thợ sơn của chú Lưu Cầu, Chúng cháu chào cô ạ của bác Văn Chung…

Sau Hiệp định Paris, buộc đế quốc Mỹ phải ngừng chiến tranh phá hoại, miền Bắc coi như hòa bình, nhưng nhiệm vụ chi viện cho miền Nam vẫn rất nặng nề cả tinh thần lẫn vật chất, nhiệm vụ của Đài Tiếng nói Việt Nam do đó mà nặng nề hơn và anh lại phải đi công tác vào phía Nam nhiều hơn.

N.A.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: