Pham Ton’s Blog

Tháng Hai 14, 2014

Chúng tôi đã sống như thế: Căn hộ bé nhỏ

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 6:09 sáng

Blog PhamTon năm thứ năm, tuần 4 tháng 2 năm 2014.

Chúng tôi đã sống như thế:

CĂN HỘ BÉ NHỎ

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 135 đến trang 140)

Nguyễn Ánh Tuyết.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọc trung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm Ba Tuyet sach chung toi da song nhu the2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

*

*     *

Đ

ến giữa năm 1973 thì chúng tôi có nhà riêng do thành phố bán cho theo phương thức trả dần. Căn hộ 24m2, có hai phòng cùng với chỗ nấu ăn và phòng vệ sinh bé tí, ở tầng ba nhà A5 khu tập thể Khương Thượng, một khu tập thể mới hình thành. Vào thời buổi ấy được như thế cũng là tiện nghi mà nhiều gia đình mơ ước. Đây là thời kỳ gia đình tôi ổn định nhất. Tuy vậy cuộc sống những năm đó vẫn còn nhiều khó khăn. Mọi thứ từ lương thực, thực phẩm đến quần áo, chăn màn đều phải mua theo tem phiếu; hàng hiếm thì phân phối từng đợt cho một số ít người. Riêng cái khoản mua hàng theo tem phiếu thì thật khốn nạn! Có khi phải xếp hàng từ hai ba giờ sáng mới mua được một ít cá thịt, mà có ra gì đâu, chậm thì chỉ mua được cá ươn thôi, thịt bạc nhạc. Mấy mẹ con thay nhau xếp hàng, nhiều khi phải bỏ cả công việc cơ quan hay học hành, nhất là khi tem phiếu sắp hết hạn. Cháu Tuyền cũng giúp mẹ một tay cho đỡ vất vả, được cái là cháu rất tự giác. Có khi từ đêm hôm trước cháu đã dặn mẹ đánh thức dậy từ hai ba giờ sáng hôm sau để kịp đi xếp hàng (bằng rổ rá, gạch đá…) kẻo sợ hết hàng. Những lúc còn ở nhà, thấy mấy mẹ con vất vả, bố cháu cũng giúp vào một tay, anh nhận nhiệm vụ mua gạo. Mua gạo tại cửa hàng lương thực thường không phải xếp hàng bằng rổ rá gạch đá mà xếp sổ mua gạo thành từng chồng cao ngất ngưởng và đợi hàng buổi mới đến lượt. Những lần như thế anh tranh thủ mang theo sách báo đọc, có lần mê mải đọc, đến lượt mình cô hàng gạo hô tên “Phạm Tuyên!” mấy lần liền mà anh không nghe thấy. Như thường lệ thì tên “Phạm Tuyên” đã phải bị gạt ra rìa. Nhưng cô bán hàng biết đây là tên người nhạc sĩ mà mình hâm mộ nên không nỡ gạt đi, cứ gọi thêm vài lần nữa, còn những người có sổ gạo tiếp theo thì cũng thông cảm, đến nhắc nhở anh mới tỉnh ra và vội vàng chạy đến quầy mua gạo. Họ vừa thương cảm vừa buồn cười. Thồ gạo về đến nhà, mẹ con tôi vội vàng xuống đẩy xe lên gác ba mà trong lòng vừa thương vừa mừng, mặc cho mùi gạo hẩm bốc lên đến tận mũi. Việc đi mua gạo của anh thế mà có tác dụng tích cực đến hàng xóm xung quanh, khiến nhiều ông chồng là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư… trong khu tập thể trí thức này thấy cần phải “noi gương” và họ cũng bị lôn cuốn vào công việc xếp hàng mua gạo đỡ cho vợ con.

Đi công tác thì thôi chứ khi ở nhà anh cũng là một tay “thợ thủ công” khéo léo, sữa chữa các vật dụng bị hỏng, làm một số đồ chơi cho con, cùng vợ sắp xếp trang trí nhà cửa… Hồi còn ở nhà cấp bốn, trong khu tập thể Đài Tiếng nói Việt Nam, mỗi lần mưa xuống nhà dột tứ tung, có khi đang đêm mấy mẹ con ngủ say, một mình anh bê chậu hứng nước mưa khắp nhà, rồi lại bế con đến chỗ khô ráo, có khi còn bế cả vợ nữa!

Giai đoạn này gia đình tôi có nhiều chuyện vui: Bố cháu lần đầu tiên được xuất ngoại, được Hội Nhạc sĩ Việt Nam cử đi dự Đại hội âm nhạc của toàn Liên bang Xô Viết cùng với nhạc sĩ Văn Chung. Đây là tín hiệu đáng mừng cho cả nhà, mấy chục năm qua cứ vướng vào lý lịch, nay mới tháo gỡ dần. Quả nhiên năm 1975, cháu Tuyền do thi vào đại học đạt điểm cao nên được chọn đi học tại Liên Xô về ngành Dầu khí mà không bị cản trở bởi thành phần. Đúng là “đầu xuôi đuôi lọt”. Đến năm 1980 tôi lại được cử đi Hội nghị Tâm lý học Quốc tế lần thứ XXII tại Leipzig Cộng hòa Dân chủ Đức rồi sau đó sang nghiên cứu Giáo dục Tiền học đường tại Liên Xô và năm 1985, cháu Hồng Tuyến cũng được sang Liên Xô học về ngành Ngữ văn. Thế là cả nhà được xuất ngoại! Một điều lý thú là vào năm 1980 gia đình tôi có một cuộc hội ngộ tại Matxcơva: số là bố cháu được cử sang làm giám khảo Cuộc thi âm nhạc Quốc tế mang tên Bảy sắc cầu vồng của các Đài Phát thanh các nước Xã hội chủ nghĩa tổ chức tại Matxcơva, lúc đó cháu Tuyền đang học ở trường Dầu khí mang tên Gupkin tại Matxcơva và tôi đang nghiên cứu tại Viện Hàn lâm khoa học Giáo dục Liên Xô cũng ở đó. Thế là bố mẹ con cái được gặp nhau ở nước ngoài, chúng tôi có dịp đi tham quan những công trình văn hóa, những thắng cảnh của nước Nga. Thật đúng là điều kỳ diệu mà trước đây nằm mơ cũng không thấy. Cho đến sau này cả nhà tôi ai cũng được tin tưởng cử đi hội nghị hay công tác ở nhiều nước, kể các các nước tư bản, nhiều khi chỉ đi có một mình!

T

ình yêu của anh và tôi đã vun đắp cho hạnh phúc gia đình. Chúng tôi chỉ có hai cô con gái nhưng sống với nhau thật đầm ấm và tràn ngập tình thương yêu, trong nhà chỉ có nghe tiếng cười, tiếng hát, tiếng trò chuyện thân thiết giữa vợ chồng con cái. Anh thực sự yên lòng với công việc sáng tác của mình vì đã có cái tổ ấm đó. Những đợt đi thực tế xa, có khi vào cả tận nơi tuyến lửa ác liệt, anh vẫn vững tâm đi viết, anh luôn tự hào với cái “hậu phương” vững chắc của mình, đó là người vợ biết lo toan và hai cô con gái ngoan, học giỏi. Sau mỗi chuyến đi công tác về, bao giờ anh cũng “báo cáo” tác phẩm của mình cho vợ nghe và tôi là người đầu tiên được nghe và hát những bài hát mới đó. Còn anh thì luôn luôn coi tôi là người thẩm định đáng tin cậy tác phẩm của mình, bởi những lời nhận xét của tôi phần lớn là phù hợp với nhận định sau này của đông đảo người nghe. Thường những bài hát tôi thích đều là những ca khúc được quần chúng yêu nhạc đón nhận một cách nồng nhiệt.

Cuộc sống gia đình có nhiều biến đổi cùng với những biến động của xã hội, nhưng có một điều không thể thay đổi được trong gia đình chúng tôi, đó là tình yêu của chúng tôi và sự gắn bó của con cái với cha mẹ. Đó chính là nền tảng vững chắc cho sự nghiệp của hai vợ chồng và là bệ phóng đưa các con đến những chân trời của ước mơ.

V

ào dịp 8/3 năm 1995, sau 20 năm Sài Gòn giải phóng, báo Lao Động thành phố Hồ Chí Minh cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố có tổ chức một cuộc gặp mặt những cặp vợ chồng lấy tên là “Điểm tựa của tài năng”, vợ chồng tôi đã phát biểu mà về sau nhiều báo có nhắc lại: “Nếu tôi được coi là điểm tựa của nhạc sĩ Phạm Tuyên, thì chính anh ấy cũng là điểm tựa của tôi. Chúng tôi dựa vào nhau để sống và làm việc”. Quả thật đây là điểm tựa vững chắc cho cả hai cuộc đời. Ở ta, theo truyền thống, vợ thường là điểm tựa của chồng, lo lắng mọi việc cho chồng, hy sinh tất cả vì sự nghiệp của chồng là lẽ thường tình, nhưng chồng là điểm tựa của vợ, quan tâm lo lắng đến sự nghiệp của vợ thì không phải là phổ biến. Tôi thực sự hạnh phúc bởi đây lại là nét đặc biệt trong nhân cách của nhà tôi. Niềm vui đến với anh không chỉ khi mình thành công trong sáng tạo mà cả khi người vợ yêu quý thành đạt một cái gì đó trong nghiên cứu khoa học hay trong giảng dạy. Để đạt tới một trình độ hay để hoàn thành một công trình khoa học nào đó, tôi đã phải mất nhiều công sức và thời gian. Điều đó cũng đồng nghĩa với sự giảm sút trong việc chăm sóc gia đình. Những lúc đó, nhà tôi không những động viên còn tạo điều kiện cho tôi làm tốt nhiệm vụ. Tất nhiên khi hoàn thành công việc thì anh lại được “đền bù” xứng đáng.

Anh làm công tác nghệ thuật còn tôi là người nghiên cứu khoa học, ấy thế mà chúng tôi lại hỗ trợ cho nhau, bổ sung cho nhau rất nhiều. Ngày tôi mới viết những cuốn sách đầu tiên, sao mà khó thế, ý tứ thì nhiều mà không sao diễn đạt nổi, vì tôi chưa quen viết văn bao giờ (tôi tốt nghiệp ở khoa Toán). Lúc đó anh là người thầy dạy cho tôi viết văn, rồi sửa văn, có khi còn đánh máy giúp và vẽ tranh minh họa, nhờ đó tôi đã là tác giả của hàng chục cuốn sách khoa học nhưng lại đậm chất văn học như mọi người nhận xét. Khoa học mà tôi đang theo đuổi là Tâm lý học trẻ em, là khoa học Giáo dục Mầm non, ở đó chứa đựng nhiều tri thức mà anh đang rất cần. Nhiều ý tưởng khoa học của tôi đã giúp anh hiểu thêm thế giới tâm hồn trẻ để viết nên những bài hát phù hợp với từng độ tuổi của các cháu.

N.A.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: