Pham Ton’s Blog

Tháng Hai 28, 2014

Chúng tôi đã sống như thế: Đặc trưng tâm lý của trẻ có năng khiếu thơ

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 4:46 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 3 năm 2014.

ĐẶC TRƯNG TÂM LÝ

CỦA TRẺ CÓ NĂNG KHIẾU THƠ

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 168 đến trang 179)

Nguyễn Ánh Tuyết.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọc trung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bảBa Tuyet sach chung toi da song nhu then cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

*

*     *

Đ

ối với tôi, nghiên cứu khoa học đã trở thành một nhu cầu bức bách, tôi không thể hình dung nổi một cán bộ giảng dạy ở bậc đại học mà lại không có công tình khoa học nào, nên tôi lại loay hoay đi tìm đề tài để nghiên cứu. May quá lúc đó Bộ Giáo dục đưa xuống trường mười vấn đề nghiên cứu để chuẩn bị cho công cuộc cải cách giáo dục, trong đó có mảng đề tài về năng khiếu của trẻ em Việt Nam.

(…)

Cũng thật là may, lúc đó đang có phong trào làm thơ của các em nhỏ nước ta, tôi may mắn được đọc một tập thơ do em Trần Đăng Khoa chép tay. Tôi say mê đọc, càng đọc càng thấy hay, càng bị cuốn hút vào những vần thơ của em nhỏ nhà quê đó. Lòng tôi lâng lâng như đang được nâng lên bởi một lực đẩy Archimèdes. Lại « Eureka ! ». Tìm ra rồi ! Trong óc tôi hiện lên ngay đề tài nghiên cứu « Đặc trưng tâm lý của trẻ em có năng khiếu thơ », đề tài được xác định khá nhanh. Một thời gian sau lại xuất hiện nhiều bài thơ của những em bé khác như  Cẩm Thơ, Nguyễn Hồng Kiên, Hoàng Hiếu Nhân, Thúy Giang… rồi Ngô Thị Bích Hiền, Hoàng Hoa Anh, Hạnh Thắm, Vàng Anh…

Tôi hăm hở bắt tay vào nghiên cứu, một mình tôi trong thời chiến đi tìm gặp các « nhà thơ tí hon » ở các vùng quê, Tran Dang Khoa 8 tuoinhưng sức không kham nổi nên sau đó tôi đề nghị một nhóm sinh viên khoa Tâm lý hỗ trợ. Dưới sự hướng dẫn của tôi, mỗi sinh viên tự chọn lấy một « nhà thơ tí hon » ở một vùng quê thuận tiện cho việc nghiên cứu của mình. Theo hướng nghiên cứu của đề tài, bằng những phương pháp khoa học (như phương pháp quan sát, trò chuyện, nghiên cứu sản phẩm, lập tiểu sử, test, thực nghiệm…) sinh viên thu thập cứ liệu khoa học và phân tích các cứ liệu ấy để thực hiện luận văn của mình. Còn tôi thì tập trung nghiên cứu nhân vật trung tâm của đề tài là Trần Đăng Khoa, vì theo tôi, em là biểu hiện tập trung nhất của năng khiếu thơ. Việc phối hợp nghiên cứu giữa thầy và trò đã đem lại hiệu quả trước mắt : cứ liệu khoa học thu thập được khá phong phú đủ cho việc hoàn thành các luận văn tốt nghiệp của sinh viên và cung cấp cho đề tài nghiên cứu của tôi.

Từ những năm đầu thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước, tôi chuyên tâm nghiên cứu đề tài này. Những đợt đi thực tế gặp gỡ các « nhà thơ tí hon » ở các nơi, tôi đã dành thời gian để đến nhà Trần Đăng Khoa nhiều nhất, có khi ở lại đó hàng tuần lễ. Lần đầu tiên gặp Khoa, lúc đó em đã 12 tuổi, không khác gì lắm so với sự hình dung của tôi. Đó là một em bé nông thôn thông minh hiền lành dễ thương, em kể cho tôi nghe nhiều chuyện về làng quê, về người thân, về bạn bè của mình, về những cảnh vật xung quanh. Qua cái cách em kể, tôi nhận thấy em có một tình yêu gia đình, quê hương tha thiết nhưng cũng xen vào đó nhiều hư cấu thật thú vị. Dần dần những năm tiếp theo thỉnh thoảng tôi vẫn về thôn Trực Trì, lúc đó nhà em thường hay tiếp khách từ nơi xa đến, kể cả khách nước ngoài, và tôi được mẹ em gọi là « cô nhà báo ».

Khi đã quen thân với Khoa, em đưa cho tôi xem cả những bài thơ chưa đăng ở đâu cả, em gọi đó là « thơ bỏ bị » và em nói vui : « Làm thơ như bắt được của rơi, cô ạ ». Một ý nghĩ rất lạ lùng khiến tôi phải tìm hiểu. Phải chăng đó là những phút thăng hoa ? Về Hà Nội, thỉnh thoảng tôi vẫn nhận được thư Khoa, trong đó bao giơ cũng kèm theo một vài bài thơ em mới làm. Kể cả sau này khi đã trở thành anh bộ đội sang tận Campuchia chiến đấu hay làm anh lính hải quân lênh đênh trên mặt biển, em vẫn không quên gửi thư và thơ cho tôi. Tôi có dịp gần gũi đi sâu khám phá tâm hồn « nhà thơ trẻ em » đó, giúp hiểu sâu hơn những điều em viết trong thơ. Có lần Khoa hỏi tôi : « Cô có biết em muốn nói điều gì qua bài Đánh tam cúc không ? ». Đó là một bài thơ kể chuyện bé Giang bốn tuổi (em gái Khoa) đánh tam cúc với con mèo khoang khi cả nhà đi vắng. Trong khi chơi với con mèo em đã nhường phần thắng cho nó ở cả hai hiệp. Lúc đó tôi liền nhớ lại lời bình của nhà thơ Xuân Diệu : « Sở dĩ bé Giang biết nhường nhịn bạn trong khi chơi là vì bé Giang là một bé người. Cái tình người của bé Giang thật là cao đẹp. Đó cũng là tình người của nhà thơ trẻ con Trần Đăng Khoa ». Lời bình đó thật ý nhị, nhưng lạ thay nó vẫn chưa thật trúng với ý tác giả. Đành rằng người bình thơ có thể phát hiện thêm những ý nghĩa của một bài thơ mà nhiều khi tác giả của nó chưa hề nghĩ đến, đó cũng là tài bình thơ. Khoa tâm sự : « Em rất thương những em bé mới lên ba, lên bốn như bé Giang phải lủi thủi chơi một mình khi cả nhà đi vắng, đành phải chơi với mèo, mà nhiều khi phải nịnh nó, cho nó thắng cuộc không thì nó giận nó bỏ đi thì bé phải chịu cô đơn ». Rõ ràng sự đồng cảm đó đã ẩn giấu sau những câu chữ, « ý tại ngôn ngoại” mà.

Đọc thơ  Khoa, nhiều người cũng đều nghĩ là giác quan của Khoa chắc phải rất tinh nhạy, tinh nhạy đến mức có thể nghe được « Tiếng sương đọng mật », « Tiếng rơi rất mỏng » của chiếc lá đa rơi nghiêng. Nhưng thực ra giác quan của Khoa rất bình thường như giác quan của mọi đứa trẻ khác, em thú nhận với tôi : « Em viết vậy nhưng em có nghe thấy gì đâu ». Rõ ràng Khoa đã tiếp nhận thế giới xung quanh không chỉ bằng các giác quan có thật mà bằng cả một tâm hồn nhạy cảm, nhạy cảm đến mức có thể nghe thấy cả những cái « hư vô ». Có lần Khoa khoe với tôi là Khoa có ngoại cảm !?

Những năm còn chiến tranh, từ nơi sơ tán tôi đèo cháu Hồng Tuyến (con gái thứ hai của bà – PT chú) đến nhà Trần Đăng Khoa, mới ba bốn tuổi mà cháu đã thuộc rất nhiều bài thơ của Khoa. Vừa mới đến nơi, cháu Tuyến đã vội tụt ngay xuống khỏi xe đạp chạy luôn vào vườn để « kiểm tra » xem vườn nhà anh Khoa có bao nhiêu luống cải, bao nhiêu luống cà, có đàn kiến đủ các loại không. Khoa sợ quá ! Bởi Khoa tả cảnh đâu chỉ bằng những điều mắt thấy tai nghe mà bằng cả sức mạnh nội tâm.

 nhà Khoa, tôi còn khám phá ra nhiều điều thú vị, thu thập được những cứ liệu khoa học thật đáng giá, đó là hoàn cảnh gia đình em, nhất là người mẹ. Tôi đã gặp mẹ em Khoa khá nhiều lần vào những thời gian khác nhau và tôi đã nhận ra rằng bà là một người mẹ có văn hóa. Không phải ngẫu nhiên mà bốn người con của bà đều yêu thích nghệ thuật, biết làm thơ, biết hát chèo. Cả mấy anh chị em đều được cái may mắn là ngay từ khi cất tiếng chào đời đã tiếp xúc ngay với một nghệ sĩ, đó chính là mẹ của mình. Bà thường lẩy Kiều, Chinh phụ ngâm, ca dao tục ngữ để trò chuyện với con cái. Bằng ngôn ngữ giàu âm hưởng thơ ca ấy, chính bà là người đầu tiên dắt dẫn các con khám phá ra cái đẹp trong tiếng mẹ đẻ, mà việc khám phá ra cái đẹp của tiếng nói dân tộc chính là bước đi đầu tiên mà cũng là bước đi quan trọng nhất vào thế giới thơ ca.

Mẹ em Khoa là người nhớ được nhiều truyện cổ tích, biết bao đêm bà đã kể cho các con và bạn chúng nghe nào là chuyện cô Tấm chui ra từ quả thị, chuyện Sơn Tinh đắp núi cho thật cao để chống Thủy Tinh, chuyện Diêm Vương bỏ vào vạc dầu những kẻ gian ác, chuyện anh Trương Chi người thì thật xấu hát thì thật hay, chuyện niêu cơm của Thạch Sanh ăn mãi mà chẳng hết… Người kể chuyện bằng tài diễn đạt của mình đã dẫn dắt các con vào thế giới của thần thoại, kích thích trí tưởng tưởng phát triển. Vì thế mà thế giới xung quanh Khoa trở nên kỳ ảo và lý thú vô cùng. Chính trí tưởng tưởng là nhân tố không thể thiếu được trong năng khiếu thơ của Khoa.

Mẹ em Khoa là một người phụ nữ rất giàu tình cảm. Khi còn con gái nghe truyện Tống Trân Cúc Hoa, đọc Kiều, Chinh phụ ngâm, bà thường khóc vì xót thương cho những người bị rơi vào cảnh éo le. Lòng nhân ái của bà không những thể hiện trong sự thương yêu chăm sóc chồng con mà cả trong tình làng nghĩa xóm, tuy nghèo nhưng vẫn sẵn lòng nhường cơm sẻ áo, an ủi những người khốn khó. Tấm lòng tràn đầy yêu thương của bà như tỏa sang mọi vật trong nhà, từ con chó con mèo đến cây na cây chuối, hầu như tất cả đều trở thành những nhân vật thân thiết của gia đình. Từ nhỏ, Khoa được sống trong một bầu không khí tràn ngập yêu thương mà linh hồn là mẹ của em. Nhờ đó đối với một tâm hồn nhạy cảm như Khoa, những cái tinh tế của cuộc sống dễ lọt vào những « giác quan đầy xúc động » của em mà biến thành những câu thơ thật cảm động. Có thể nói chắc chắn rằng tấm lòng yêu thương của mẹ đã hun đúc cho Khoa có cái gốc vững chắc của thơ ca, giúp em dấn bước trên con đường sáng tạo nghệ thuật cho tới ngày hôm nay.

Biết tôi đang nghiên cứu trẻ em làm thơ, nhiều bậc cha mẹ từ khắp nơi gửi đến tôi nhiều tập thơ của các em nhỏ, trong đó có nhiều bài đọc lên nghe rất buồn cười vì sự ngây ngô pha chút ngớ ngẩn, lại có bài lời lẽ y hệt lời của một ông đồ già ! Khổ thật, cha mẹ nào cũng mong cho con mình trở thành người tài giỏi, có năng khiếu này năng khiếu nọ. Họ có biết đâu rằng trẻ làm thơ thì nhiều nhưng có năng khiếu thơ thì thật hiếm hoi.

S

ong song với việc nghiên cứu trên đối tượng là trẻ em làm thơ để khám phá ra bí mật của năng khiếu thơ, hiểu rõ hơn về sự hình thành và phát triển năng khiếu đó của các em nhỏ tôi mở rộng diện nghiên cứu ra đến các nhà thơ người lớn khi họ còn là trẻ con. Tôi lập danh sách 100 nhà thơ do Hội Nhà Văn cung cấp rồi gửi cho mỗi nhà thơ hai phiếu điều tra (enquête) về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu. Tôi nói rõ mục đích của việc điều tra này và đề nghị họ trả lời và gửi cho tôi sau một tháng kể từ khi nhận được phiếu điều tra.

Phiếu điều tra thứ nhất gồm các câu hỏi : Bài thơ nào được viết ra sớm nhất của nhà thơ (xin ghi rõ toàn bài) ? Lúc đó nhà thơ mấy tuổi ? Điều gì đã thôi thúc nhà thơ viết bài thơ ấy ?

Phiếu điều tra thứ hai gồm các câu hỏi : Trong gia đình của nhà thơ ai là người hay làm thơ ? đọc thơ, ngâm thơ, sử dụng ca dao tục ngữ, hò vè ?

Thật phấn khởi, chỉ sau một tháng gửi phiếu điều tra đi, tôi lần lượt nhận được phiếu trả lời của các nhà thơ. Họ trả lời rất nghiêm túc, không bỏ sót một câu nào.

(…) nhà thơ Giang Nam viết : « Mẹ tôi không làm thơ, không sáng tác dân ca nhưng vốn dân ca hết sức phong phú của mẹ tôi đã khơi dậy trí tưởng tượng của tôi, đã hướng dẫn tôi đến với thơ ca sau này ».

Một vấn đề hết sức quan trọng, quan trọng vào bậc nhất buộc tôi phải tìm hiểu khi tiến hành đề tài « Đặc trưng tâm lý của trẻ có năng khiếu thơ », đó là bản chất của thơ, cái tạo nên hồn thơ của mọi nhà thơ. Để hiểu rõ, tôi đã tìm gặp các nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh, Trinh Đường, Phạm Tiến Duật, Võ Quảng, Phạm Hổ (hai nhà thơ chuyên viết cho trẻ em)… Những buổi gặp gỡ ấy đã để lại trong tôi ấn tượng khó phai mờ. Nhưng sâu sắc hơn cả là họ đã cho tôi hiểu rõ bản chất của thơ và cảm nhận được sâu sắc hồn thơ ở nơi họ. Có một vài kỷ niệm làm tôi nhớ mãi :

Nhiều lần tôi được gặp nhà thơ Xuân Diệu, ông thường gọi tôi là « chị Phạm Tuyên ». Tôi còn nhớ lần đầu tiên gặp ông, tXuan Dieuôi nói gnay : « Em đang nghiên cứu trẻ em có năng khiếu thơ ở ta », chưa nói dứt câu thì ông đã đốp ngay : « Năng khiếu hả ? Nếu dùng không đúng chỗ thì như vàng đem lót nhà xí ấy !», ông nhắc lại lời của Lênin. Trong cuộc gặp gỡ lần đầu đó, tôi đã đặt ra rất nhiều vấn đề của thơ mà tôi muốn tìm hiểu. Ông khen tôi như thế là bắt được cái thần của thơ rồi. Sau nhiều buổi chuyện trò, tôi càng hâm mộ tài làm thơ của ông và còn khâm phục tài bình thơ của ông nữa, vừa tinh tế vừa sắc sảo, khen ra khen, chê ra chê, nghe thật sướng tai. Khi đã quen rồi, có lần ông tâm sự : « Nam Phong là sách gối đầu giường của cánh nhà thơ chúng tôi hồi ấy đấy » (vì ông biết tôi là con dâu của học giả Phạm Quỳnh, chủ bút tạp chí Nam Phong).

Một hôm tôi đến nhà ông để xin lại phiếu trả lời của ông. Sau mấy lời chào hỏi, ông đưa cho tôi xem cuốn sổ ghi những bài thơ tình do chính tay ông viết, trong khi chờ ông trả lời những câu điều tra vào phiếu. Tôi say sưa đọc thơ tình mà quên cả bên mình nhà thơ đang ngồi cạnh chăm chú ghi những câu trả lời. Đọc thơ tình của ông, người tôi như tràn ngập một tình yêu mênh mang, đầy sức lãng mạn. Bỗng nhiên có một người đàn ông (là em ruột hay em họ của nhà thơ) đẩy cửa bước vào báo tin vui : « Nhà em vừa mới sinh được một cháu trai ! ». Tôi cứ đinh ninh nhà thơ sẽ rất vui mà nói lời chúc mừng với người đó. Không ngờ nhà thơ đùng đùng nổi giận, thốt ra lời nói cáu kỉnh : « Đẻ gì mà đẻ lắm như lợn vậy, đẻ nhiều rồi lấy gì mà ăn ? ». Thật bất ngờ, một nhà thơ có tâm hồn lãng mạn cỡ Xuân Diệu lại là một con người hết sức thực tế !

Chế Lan Viên cũng là một nhà thơ tôi rất hâm mộ và hay lui tới. Lần đầu tiên đến nhà theo lời hẹn gặp của ông. Đúng hai giờ chiều tôi vừa đến cửa thì đọc ngay trên tấm bảng nhỏ treo ở cửa ra vào có dòng chữ : « Xin đừng ngồi lâu, chúng tôi bận ! ». Tôi ngán ngẩm quá định quay xe ra về, thì nhà thơ từ trong phòng bước ra, biết tôi đã đọc dòng chữ trên tấm bảng kia rồi nên nói vội : « Ấy khoan ! Xin mời vào đây đã, đó là nhắc nhở những người hay ngồi lâu, còn đối với cô, tôi đã bố trí thời gian rồi ». Tôi thở phào yên gia dinh che lan vientâm bước vào nhà, nghe thấy tiếng trẻ con đang nhõng nhẽo làm nũng bố, nhà thơ nói với tôi : « Đây là cháu Vàng Anh, con gái út của tôi đấy ». Thế là cuộc trò chuyện về thơ hiếm có đối với tôi bắt đầu từ hai giờ chiều cho đến tận sáu giờ tối, khi ra về thành phố đã lên đèn.

Nhiều người coi Chế Lan Viên là một nhà thơ siêu hình, có nhiều bài thơ « kinh dị » (trong tập Điêu tàn), thơ ông nặng chất trí tuệ mà trí tuệ rất cao siêu. Thế nhưng có ai ngờ cuộc sống của nhà thơ lại rất bình dị, rất đời thường. Có lần tôi thấy cháu Vàng Anh khóc vì đau răng, nhân thể tôi cũng định đi khám răng cho cháu Hồng Tuyết (con gái tôi, cùng tuổi với Vàng Anh), tôi nói với chị Vũ Thị Thường (là nhà văn và là vợ của Chế Lan Viên) cho Vàng Anh cùng đi khám răng với cháu Hồng Tuyến. Chị đồng ý và ngày hôm sau, tôi đèo cháu Hồng Tuyến đến nhà anh chị để đèo luôn cả cháu Vàng Anh đi đến bệnh viện Hòe Nhai (ở đường Sơn Tây) để khám răng. Đến nơi thì thấy nhà thơ Chế Lan Viên một tay dắt bé Vàng Anh còn tay kia thì xách nải chuối ra tận xe gặp tôi và nói : « Cho tôi gửi cháu nhờ cô đưa đi khám răng hộ », vừa nói ông vừa móc nải chuối vào “ghi-đông” xe của tôi rồi nói tiếp : « Để khám răng xong hai cháu ăn cho đỡ đói. » Thế là tôi đằng sau « poóc-ba-ga » đèo hai đứa trẻ và lủng lẳng đằng trước « ghi-đông » nải chuối tây, trong bụng nghĩ : « Chế Lan Viên nổi tiếng là nhà thơ siêu hình, trí tuệ cao vời vợi mà lại là một ông bố rất đỗi chu đáo với con cái ». Lần sau nữa, ông đưa cho tôi một cuốn vở do chị Vũ Thị Thường chép tay những bài thơ của bé Vàng Anh để cung cấp tư liệu cho tôi nghiên cứu đề tài trẻ em làm thơ.

Tôi cũng đã đến gặp nhà thơ trẻ Phạm Tiến Duật, năm đó vừa mới từ chiến trường ra. Trong buổi gặp gỡ ấy có một câu cPham Tien Duat trehuyện nhà thơ nhắc đến làm tôi nhớ mãi, anh kể : « Hồi còn bé học tiểu học ở Phú Thọ, thầy giáo hỏi học trò một câu : « Tiếng ếch kêu giống tiếng gì ? ». Một bạn nhỏ ngồi cạnh tôi giơ tay đứng dậy nói ngay : « Thưa thầy tiếng ếch kêu giống tiếng chó sủa ạ ». Thầy giáo nghiêm mặt lại không chấp nhận, cho là em đó nói bậy ! Thế rồi sau này khi ở chiến trường có lần phải hành quân qua những cánh đồng rộng mênh mông. Đang đêm vừa mệt mỏi vừa buồn ngủ bỗng nghe thấy tiếng chó sủa, tôi và nhiều đồng đội mừng quá nghĩ là sắp sửa đến làng dân rồi, sắp sửa được nghỉ chân rồi. Thế nhưng đi mãi, đi mãi vẫn không thấy làng đâu cả mà chỉ có đồng không mông quạnh và tiếng chó sủa thì vẫn râm ran vang lên dồn dập. Hóa ra đó chính là tiếng ếch kêu từ các bờ ruộng, nghe sao mà giống tiếng chó sủa vậy ! Một hình ảnh hiện về, tôi thấy thương cho thằng bạn nhỏ của tôi bị thầy mắng vì đã nhanh nhẩu trả lời « Tiếng ếch kêu giống tiếng chó sủa ! » Đúng, cái cảm nhận thế giới của trẻ em là theo cách của chúng mà nhiều khi người lớn không sao hiểu nổi. Trong mọi trường hợp, họ cứ cho mình là đúng tất và cứ muốn lấy mình làm chuẩn bắt trẻ em phải tuân theo. Phải chăng đó là tội lỗi của người lớn khiến trẻ em giảm bớt đi khả năng khám phá, khả năng sáng tạo ?

N.A.T.

* Bài Chúng tôi đã sống như thế : Mang con đi học của Nguyễn Ánh Tuyết, mới lên Blog PhamTon tuần 3/2/2014 mà đến tuần 1/3/2014 đã có tới 17.226 lượt truy cập.

* Kỳ tiếp theo, chúng tôi sẽ trích phần V Chúng tôi đã sống như thế nhan đề Con đường âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Tuyên

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: