Pham Ton’s Blog

Tháng Ba 14, 2014

Con đường âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Tuyên: Ở những thời điểm lịch sử

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 7:10 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 3 năm 2014.

CON ĐƯỜNG ÂM NHẠC CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

Ở NHỮNG THỜI ĐIỂM LỊCH SỬ 

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 232 đến trang 250)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọctrung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất Ba Tuyet sach chung toi da song nhu thelà tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

*

*     *

T

heo sát từng bước cuộc đấu tranh giành độc lập, hòa bình, thống nhất đất nước, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã kịp thời sáng tác những ca khúc chan chứa tình yêu đất nước mà có sức cổ vũ mạnh mẽ hàng triệu người dân đứng lên chống kẻ thù xâm lược. Theo Hiệp định Genève (được ký năm 1954) thì hai năm nữa (1956) sẽ có Tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Nhưng Tổng tuyển cử đã không thành vì địch ra sức phá hoại hiệp định này. Đế quốc Mỹ đã nhảy vào Việt Nam hất cảng thực dân Pháp, lập chính quyền thân Mỹ Ngô Đình Diệm, chúng chủ trương chia cắt lâu dài đất nước ta để trị. Từ giữa những năm 50 và đầu những năm 60 của thế kỷ trước, nhân dân miền Nam bị sống dưới ách đô hộ, kìm kẹp dã man của bọn Mỹ Diệm, chúng lập nhà tù , “ấp chiến lược” (mà thực chất là nhà tù), lê máy chém đi khắp nơi, giết chóc, hãm hiếp dân lành, những người đấu tranh đòi độc lập, thống nhất đất nước. Những vụ thảm sát như Phú Lợi, những cuộc tự thiêu của sư sãi như ở Huế xảy ra không ngớt từ đô thị đến làng quê miền Nam. Uất hận trào dâng khắp cả nước… Dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, nhân dân miền Nam từ già tới trẻ đã vùng đứng lên đập tan ách xiềng xích của chúng. Vì miền Nam ruột thịt, nhân dân miền Bắc, một mặt xây dựng hậu phương vững mạnh, mặt khác ra sức chi viện sức người, sức của để giải phóng miền Nam. Trong cao trào Cách mạng đó, năm 1960 nhạc sĩ Phạm Tuyên đã viết chương “miền Nam anh dũng và bất khuất” (trích trong tổ khúc hợp xướng Tổ quốc 4 chương).

Chương hợp xướng “miền Nam anh dũng và bất khuất” được phát trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, ngay từ đầu đã gây xúc động mạnh trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đối với tuổi trẻ.

Âm nhạc đoạn đầu tha thiết, thương đau với giọng lĩnh xướng nam trung: “Quê ta đất miền Nam mây mù che khắp bầu trời/ Bóng thù đè nặng trên miền Nam xương máu còn rơi/ Phương Nam xóm làng quê vẫn bền gan giữ lời thề/ Sông núi đau thương mong chờ ánh dương tràn về…”. Tiếp đó là đoạn nhạc thể hiện tình cảm và ý chí đấu tranh thống nhất nước nhà của toàn dân tộc với niềm tin không gì có thể lay chuyển được: “Mối tình Nam Bắc khăng khít thêm bền lâu/ Đây tình quê hương như núi cao biển sâu…/ Hẹn một ngày mai cùng nhau vui dưới bóng cờ/ Chung sóng biển Đông con thuyền ta lướt yên lành/ Vang tiếng ca ngày thống nhất, hòa bình”. Sau đó, hòa với  lĩnh xướng là dàn hợp xướng bốn bè, âm nhạc trở nên trầm lắng, đau thương da diết: “Nay bao cảnh điêu tàn đau khổ vì Mỹ ngụy tàn sát/ Tù đày và chém giết lan tràn miền Nam xót xa…”

Uất hận dâng trào lên đến cực điểm, âm nhạc đoạn tiếp cuồn cuộn sôi nổi, quyết liệt với hợp xướng bốn bè “Máu thắm đã kêu trả máu! Đầu van trả đầu! Đời đời không quên mối hận thù sâu/ Ta mau đứng lên!… miền Nam kiên cường vùng lên!”. Càng đấu tranh càng giữ vững niềm tin vào thắng lợi, âm nhạc trở nên hùng mạnh và ngời sáng: “Từ trong đấu tranh, miền Nam vững tin ngày thống nhất/ miền Nam anh dũng đứng lên giành lấy chiến thắng/ Thống nhất Bắc Nam vững bền! Niềm tin ta càng vững bền!”

Sau khi dàn hợp xướng của Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam trình diễn thành công thì nhiều trường đại học cũng tổ chức các dàn hợp xướng đông người trình diễn hợp xướng này và rất thành công, góp phần bồi đắp tình cảm Bắc Nam và nâng cao ý chí đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ngày nay nước nhà đã độc lập thống nhất, chúng ta sẵn sàng khép lại quá khứ, bỏ qua hận thù, dang rộng cánh tay đón tiếp những ai trở về quê hương xây dựng Tổ quốc, dù họ đã từng ở bên kia chiến tuyến, đã từng bắt bớ, tra tấn, chém giết chiến sĩ và đồng bào yêu nước rất dã man, trong đó có không ít tên ác ôn đầy nợ máu! Nhưng chúng ta không bao giờ quên một chặng đường lịch sử rất ác liệt mà nhân dân ta đã anh dũng hy sinh chiến đấu kiên cường cho dù đầu rơi máu chảy với lòng yêu nước nồng nàn và chí căm thù sâu sắc vì thống nhất đất nước. Đó chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Chỉ có như vậy chúng ta mới thấy quý nền độc lập tự do của nhân dân trên toàn bờ cõi và quyết tâm xây dựng, bảo vệ non sông gấm vóc Việt Nam yêu dấu.

Khi đất nước còn bị chia cắt làm hai miền, tấm lòng của nhạc sĩ Phạm Tuyên luôn hướng về miền Nam, ngày đêm bám sát tình hình đấu tranh của đồng bào trong đó. Mùa thu năm 1970, cả Hà Nội dõi theo từng bước phát triển của phong trào học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam đấu tranh chống Mỹ ngụy. Người ta đọc được trên báo điệp khúc Dậy mà đi trong phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe của Sài Gòn và các đô thị miền Nam. Rồi vào một đêm tháng 9 năm 1970, sau khi nghe tin tức về cuộc đấu tranh của học sinh, sinh viên Sài Gòn, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã ghi lại cảm xúc của mình trong ca khúc Tiếng hát những đêm không ngủ. Bằng sức tưởng tượng, anh hình dung những đêm đấu tranh ở miền Nam, học sinh, sinh viên họp nhau lại trong tiếng bập bùng của đàn ghi-ta, hát lên những khúc ca về đất nước để động viên nhau trong cuộc đấu tranh quyết liệt này: “Âm vang bao tiếng ca truyền đi trong màn đêm/ Bập bùng lửa căm hờn hòa với tiếng hát bừng lên/ Ta đi khai sáng thêm ngọn lửa thiêng từ bao đời/ Lời ca bốc lửa đấu tranh sáng lên ngời ngời!

Âm hưởng trầm hùng, thúc giục của bài ca đã phản ánh tình cảm của giới trẻ miền Nam bấy giờ: “Dậy mà đi đồng bào ơi! Dậy mà đi đồng bào ơi! Mẹ Việt Nam có biết chăng giờ này đoàn con đã lên đường! Vượt rào gai dẫu khói mù vẫn đi! Máu đã đổ sân trường giục ta bền chí…”

Bài hát được phát trong buổi Tiếng hát gửi về Nam của Đài Tiếng nói Việt Nam nhanh chóng đến với thanh niên học sinh, sinh viên ở miền Nam và được anh chị em phổ biến khá rộng rãi. Sau này, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, các nhạc sĩ Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Trương Quốc Khánh cho biết ca khúc Tiếng hát những đêm không ngủ được coi là ca khúc của phong trào thanh niên, học sinh, sinh viên và ghi nhận sức cổ vũ của bài ca đối với tuổi trẻ miền Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ giành độc lập thống nhất đất nước. Họ nói vui rằng: “Ca khúc Tiếng hát những đêm không ngủ là của chúng tôi!”. Đặc biệt, bài hát này đã được hãng băng đĩa của Đảng Cộng sản Nhật Bản dịch ra tiếng Nhật, thu thanh và phổ biến vào năm 1979.

Qua theo dõi chiến sự hằng ngày, anh hết sức mến phục những gương chiến đấu dũng cảm của đồng bào và chiến sĩ miền Nam và kịp thời phản ánh vào tác phẩm của mình. Ca khúc Những cánh chim Hồng Gấm được viết năm 1971 để ca ngợi người con gái trẻ đất Mỹ Tho đã hiến dâng tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc. Mặc cho đạn bom quân thù tàn phá, chị vẫn ra chiến trường với lòng yêu đời, yêu cuộc sống, với lòng yêu đất nước đến nồng nàn: “Đi chiến trường giữa mùa hoa/ Đẹp thay đất nước ta/ Trái tim thiết tha nồng cháy chúng ta đi giữ lấy quê nhà”… Những người như Hồng Gấm sẽ sống mãi với quê hương đất nước: “Viên đạn diệt quân xâm lăng nhắc tới Hồng Gấm/ Viên gạch dựng xây tương lai nhớ mãi Hồng Gấm”… Với “Niềm hạnh phúc trong đấu tranh nở hoa muôn sắc diệu kỳ”, Hồng Gấm đã hóa thân thành những cánh chim bay liệng trên bầu trời Tổ quốc cho thế hệ trẻ cùng bay theo: “Ta như cánh chim tung bay vượt qua dông tố ngàn trùng/ Và mỗi chúng ta hãy là một Hồng Gấm anh hùng” vì “Đường dài tiến quân rộn ràng có Hồng Gấm cùng đi”.

Ca khúc Những cánh chim Hồng Gấm với âm hưởng lôi cuốn đầy sức lãng mạn, giàu ước mơ bay bổng, vừa mới ra đời đã được tiếp sức bằng những giọng ca trẻ ở cả hai miền Bắc Nam cho tới tận bây giờ. Tuy ở Hà Nội nhưng tâm hồn Phạm Tuyên lại gần gũi với mảnh đất phương Nam, gắn bó với cuộc sống và chiến đấu của đồng bào miền Nam nên bài hát đã mang đậm âm hưởng dân ca Nam Bộ, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu  âm nhạc Lư Nhất Vũ đã nhận định: “Ca khúc Những cánh chim Hồng Gấm là một ca khúc hay, đầy sức lôi cuốn, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã vận dụng nhuần nhuyễn điệu thức dân ca Nam bộ nên được người dân nơi đây coi là bài hát của xứ mình”.

Rất nhiều ca khúc của nhạc sĩ Phạm Tuyên đều có xuất xứ từ cuộc sống đầy biến động, từ cuộc đấu tranh khốc liệt của đất nước. Bài hát của anh sở dĩ có sức sống lâu bền trong lòng người yêu âm nhạc bởi nó mang hơi thở, nhịp đập trái tim của nhân dân.

Điều đó, chúng ta có thể thấy rõ một phần qua “Sức sống của ca khúc Chiếc gậy Trường Sơn”, là đầu đề một bài báo của tác giả Thái Kiều Ngân đăng trên báo Nhân dân ngày 15/4/2000, có đoạn như sau:

“Đầu những năm 70 khi còn là chiến sĩ trong quân ngũ từ miền Bắc hành quân vượt Trường Sơn vào Nam, bọn lính trẻ chúng tôi thường hát bài: Chiếc gậy Trường Sơn. Cả Đại đội đều thuộc làu làu bài này, nhưng ít ai được biết đến tác giả của nó. Sau này làm báo, may mắn tôi có dịp làm quen với tác giả: Nhạc sĩ Phạm Tuyên”.

Bài hát Chiếc gậy Trường Sơn được ông sáng tác một cách tình cờ, ngẫu hứng. Chuyện là mùa hè năm 1967, ông Quách Vinh, Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin Hà Tây có mời các nghệ sĩ Văn Cao, Phạm Tuyên, Chế Lan Viên, Hoàng Vân… đi thực tế tìm cảm hứng sáng tác ở Hòa Xá huyện Ứng Hòa…Tối đến nhóm nghệ sĩ được mời nghỉ lại tại nhà khách sơ sài của Ủy ban Nhân dẫn xã. Khoảng 4 giờ sáng, Phạm Tuyên nghe thấy những bước chân chạy rầm rập của dân quân tự vệ (bộ đội tại làng). Họ tập luyện bằng cách đeo hàng chục cân gạch đá trên lưng vừa đi, vừa chạy; với hy vọng sau này có đủ sức đi bộ vượt Trường Sơn vào Nam đánh đế quốc Mỹ. Ông chủ tịch Hòa Xá cho biết: Ở xã có một tập tục mới là trước khi thanh niên địa phương tòng quân, chính quyền tổ chức chia tay giản dị nhưng trang trọng, tặng những tân binh trẻ mỗi người một chiếc gậy có tên gọi là Gậy Trường Sơn. Còn người ra trận thì tặng lại người vợ, người yêu của mình chiếc nhẫn chung thủy được làm bằng đuy-ra, vỏ xác máy bay Mỹ.”

Bâng khuâng trước hiện tượng rất thơ này, Phạm Tuyên đã dùng âm luật của đồng bằng Bắc bộ để sáng tác. Âm hưởng của ca khúc dương như được vang lên từ một địa phương rất xa Trường Sơn qua câu: “Trường Sơn ơi! Nơi núi mờ xa mà ta chưa qua…” Hình ảnh Trường Sơn thời ấy như một biểu tượng của khó khăn mà thanh niên mơ ước sẽ vượt qua. Bài hát không nhắc đến địa danh Hòa Xá, tác giả đã từ một hiện tượng cụ thể mình từng chứng kiến để rồi khái quát lên thành một hình tượng mang tính thời đại- phản ánh sinh động một khía cạnh của lịch sử thời đánh Mỹ. Ca khúc đã khích lệ thanh niên vươn tới ước mơ của mình với một khí thế “Sức trẻ đi cứu nước vững vàng hơn dãy Trường Sơn””.

Phạm Tuyên viết ca khúc Chiếc gậy Trường Sơn từ năm 1967 mà mãi đến bốn năm sau (1971) anh mới đến Trường Sơn. Đúng như anh tưởng tượng, những hình ảnh trong bài hát chẳng khác mấy hiện thực: “Có suối reo, có gió ngàn cây, có dốc cao vực sâu mất lối/ Mây trắng quyện dưới chân bước bồi hồi/ Có nắng lửa đốt thiêu vách núi…”. Bài hát như lời quê hương thôi thúc tuổi trẻ lên đường cứu nước: “Trường Sơn ơi! Cho dẫu hiểm nguy bền tâm vững chí/ Trong bước đi nghe tiếng đồng quê/ Nghe gió reo bờ tre gốc lúa/ Nghe tiếng người mến thương vẫn dặn dò/ Giữ vững truyền thống của đất nước…” và bồi đắp cho họ lòng quyết tâm giải phóng miền Nam: “Trường Sơn ơi! Ta đã lên đường/ Khi lửa tiền phương đang nhắc ta gấp bước đường xa/ Khi thù giặc cướp nước cháy bỏng trong lòng ta”.

Khi mới giải phóng miền Nam, tình cờ anh được nghe một ca sĩ Sài Gòn hát bài Chiếc gậy Trường Sơn, ngạc nhiên và thú vị, anh tìm hỏi ngay ca sĩ thì được trả lời: “Em khoái bài này vì nói có khí thế lắm, hay lắm!”. Trong không khí âm nhạc quanh quẩn với đời sống cá nhân nhỏ bé thời Mỹ ngụy thì sự tiếp thu tự nguyện dạng ca khúc cách mạng quả là điều đáng mừng. Rồi vài ngày sau đó, anh gặp gỡ với một số anh em họ hàng trong đó có người đã tham gia ngụy quân, họ nói vui với anh: “Gậy của anh khua đến đâu, chúng em chạy re đến đấy!”

Sau ngày miền Nam giải phóng, dân làng Hòa Xá rất tự hào với Chiếc gậy Trường Sơn, họ lập nhà truyền thống đặt tên là Chiếc gậy Trường Sơn và bản nhạc Chiếc gậy Trường Sơn do nhạc sĩ Phạm Tuyên chép tay được lồng khung treo trang trọng chính giữa phòng truyền thống. Dân làng Hòa Xá coi anh như một thành viên của làng, mỗi khi dân làng đón huân chương hay mở hội truyền thống, anh đều có mặt như về với quê hương của mình và cùng họ, kể cả những người đã vượt Trường Sơn lẫn những bạn trẻ ngày hôm nay ca vang bài Chiếc gậy Trường Sơn.

Bài hát có thật nhiều kỷ niệm khó quên, đến nay anh còn giữ bài Chiếc gậy Trường Sơn do Lê Văn Ngọc, một chiến sĩ đã chép tay trên đường đi B (tức là đi vào miền Nam) để truyền nhau hát khắp chiến trường Nam Bộ thời kỳ 1968-1975, đã hy sinh ở mặt trận, do đồng đội là Trân Danh Lân gửi đến cho nhạc sĩ.

Bài hát Chiếc gậy Trường Sơn đã nằm trong danh mục 10 bài hát hay nhất về Trường Sơn trong cuộc bình chọn do Binh đoàn Trường Sơn kết hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức năm 1999.

Cùng với Đường mòn Hồ Chí Minh – Đường Trường Sơn – con đường chiến lược nối liền Bắc Nam, một hệ thống những con đường trên khắp hậu phương miền Bắc được trải dài để phục vụ sản xuất, chiến đấu và chi viện cho miền Nam. Trong một đợt đi thực tế vào tuyến lửa do Bộ Giao thông Vận tải tổ chức (1966), anh đã viết bài ca nổi tiếng Yêu biết mấy những con đường với âm nhạc rộn ràng mà thiết tha: “Đường ta đi dài theo đất nước bao la hiền hòa/ Đường ta tỏa đi khắp nơi làng quê tới chốn rừng xa/ Đường ta đi vượt qua bão tốt bền vững lời thề/ Trong đêm khuya nghe tiếng tiền phương miền Nam chiến đấu vọng về”. Với đoạn điệp khúc thắm thiết ngập tràn niềm tin: “Yêu biết mất những con đường/ Dạn dày lửa khói nặng tình thương/ Đường từ hậu phương trăm mối ra chiến trường/ Ngày về chiến thắng qua những con đường”.

Trong khói lửa của cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân Mỹ đối với miền Bắc, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã tiếp sức cho chúng ta một loạt ca khúc hấp dẫn mà giàu sức lay động. Hai ca khúc Đêm trên Cha LoTừ một ngã tư đường phố cũng được ra đời trong thời gian này.

Mùa xuân năm 1971, Bộ Nội vụ (tức là Bộ Công an bây giờ) có tổ chức cho một số nhạc sĩ đi thực tế viết về lực lượng an ninh, lúc đó gồm cả lực lượng công an (áo vàng) và lực lượng biên phòng (áo xanh). Đoàn đi vào vùng “cán xoong” phía nam Khu Tư, lúc ấy đang bị địch đánh phá ác liệt để lên đồn biên phòng Cha Lo – Đồn anh hùng 111 ở miền Tây Quảng Bình. Một chuyến đi thật quá vất vả, vất vả không chỉ vì trèo đèo lội suối, cũng không chỉ vì địch rượt đuổi, mà còn vì sức khỏe của anh quá tồi. Trước khi đi bác sĩ Phạm Khuê và các bác sĩ khác đều khuyên anh nằm viện vì các khớp chân tay và cả cổ đều bị cứng nhưng anh vẫn xin đi để viết bài với sự động viên nhiệt tình của các đồng chí “quân hàm xanh”.

Qua một ngày đường vất vả lại bị máy bay địch bắn đuổi dữ dội, các nhạc sĩ đã được chiến sĩ biên phòng đón vào một hang đá đèo Mụ Giạ. Trong không khí của một đồn biên phòng ở đầu đường mòn Hồ Chí Minh, đêm đêm vẫn rì rầm tiếng xe ô tô chi viện cho miền Nam, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã viết bài Đêm trên Cha Lo ngay tại vọng gác của đồn biên phòng này. Cảnh và người ở đây đúng như anh viết trong lời bài ca theo giai điệu trầm hùng ấm áp: “Đêm nay ta về bên nhau nghe tin thắng trận miền Nam/ Biên giới sáng trong niềm vui mới, vang vọng tiếng đoàn xe qua/ Hỡi gió núi hãy hát cùng ta niềm hân hoan gửi vào tiếng ca/ Suối ngàn hãy ngân theo điệu khèn, nắng quê hương bừng lên”… Tiếp theo là đoạn điệp khúc dạt dào đầy tình thương mến và quyết tâm: “Ơi Cha Lo! Ơi Cha Lo! Nơi rừng núi miên Tây Tổ quốc bừng sáng lung linh một vì sao!/ Vì một tiếng ru hời hay tiếng đánh vần bi bô! Những cánh đồng hợp tác hay những nhà máy khói bay / Có chúng tôi đây vững vàng trên miền Tây!”

Có một câu chuyện cảm động dọc đường lên Cha Lo mà khi về anh đã kể cho mẹ con tôi nghe: Hôm đó đang phóng xe giữa đường thì máy bay Mỹ rượt theo và bắn xối xả, đoàn phải nấp vào một hang lèn thì gặp một cô gái chừng hơn hai mươi tuổi đang ẩn trong đó. Anh liền hỏi bằng giọng Quảng Bình (vì anh là rể của Quảng Bình): “O đi mô rứa vô đây có một mình?”. Cô gái thản nhiên đáp: “Em đi thăm người nhà – chồng em đang ở trên nớ” và cô chỉ tay về phía đồn Cha Lo. Vì vậy trong bài hát có câu: “Em thân yêu ở nơi xa nghe chăng tiếng vọng miền Tây/ Em có thấy góc trời biên giới như rực ánh hồng chân mây?”.

Ngay tại vọng gác của đồn biên phòng, anh đã dạy bài hát này cho một số chiến sĩ biên phòng ở đó, coi như món quà lưu niệm bằng âm thanh của nhạc sĩ. Âm hưởng trầm hùng, phảng phất chất dân ca miền Tây Quảng Bình đã nhanh chóng được các chiến sĩ đón nhận nồng nhiệt. Bài hát sau khi được tốp ca nam Đoàn Ca múa Nhân dân Trung ương và Đoàn Nghệ thuật Công an thu thanh, phát trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam đã nhanh chóng đi vào đời sống và ngày nay đã trở thành một bài ca truyền thống của lực lượng bộ đội biên phòng. Không những thế, nó còn trở thành bài ca truyền thống của nhân dân huyện Minh Hóa nơi có đồn Cha Lo đóng. Cứ mỗi năm khi giao thừa đến là chiến sĩ biên phòng của đồn lại tụ tập tại Văn phòng Huyện ủy huyện Minh Hóa cùng các đồng chí lãnh đạo huyện hát vang bài ca này, họ còn gọi ca khúc này là “huyện ca”. Thỉnh thoảng ở Hà Nội, các chiến sĩ biên phòng từ đồn Cha Lo lại đến thăm chúng tôi tặng mật ong rừng và vài đồ lưu niệm làm bằng đuya-ra từ xác máy bay giặc Mỹ.

Ca khúc Đêm trên Cha Lo đã lọt vào danh mục những bài hát hay nhất về bộ đội biên phòng trong cuộc bình chọn do Bộ tư lệnh Biên phòng và Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức năm 1999. Và mới đây (2007) anh cũng đã được tặng bằng khen của Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng về bài hát này nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập.

Còn bài Từ một ngã tư đường phố cũng được nhạc sĩ Phạm Tuyên viết trong dịp này, nhưng với một bối cảnh khác, khi anh trở về Hà Nội, để tặng cho lực lượng cảnh sát giao thông.

Mùa hè năm 1971, địch ngừng ném bom miền Bắc, nhưng không khí chiến tranh vẫn còn. Bối cảnh của một xã hội vừa có hòa bình lại vừa sẵn sàng chiến đấu là một hình ảnh độc đáo của thủ đô Hà Nội trong những ngày này. Trên mỗi ngã tư đều “có đèn đỏ, đèn xanh”, “cuộc sống reo vui từng giờ” nhưng khí thế chi viện cho miền Nam vẫn thấy rõ trên các đường phố với những đoàn xe chở bộ đội vào Nam. Chỉ cần đứng ở “Một ngã tư đường phố” cũng thấy hết sức sống của cả dân tộc. Không khí rộn ràng của Thủ đô vừa xây dựng vừa chiến đấu đã được phản ánh trong ca khúc vừa sôi nổi vừa vui tươi: “Từ một ngã tư đường phố, cuộc sống reo vui từng giờ/ Khi nắng mai về người và xe nối nhau đi trên đường/ Đèn đỏ đèn xanh đang nhảy múa như ngàn hoa/ Niềm vui phấn khởi trong ánh mắt bao người qua”… Nhộn nhịp mà ân tình với những câu ca: “Chào những chị công nhân tan ca về nhịp bước nhanh nhanh trên vỉa hè/ Chào những chàng trai ra đi chiến trường hẹn với quê hương tan giặc mới về/ Chào những đàn em bé khăn quàng đỏ nhịp bước tung tăng vang tiếng hát hòa/ Đường phố chúng ta vẫn đang còn hẹp/ Nhường bước giúp nhau đích xa cũng gần/ Tự hào đi trong tiếng kèn tiến quân ngân vang” và không ai có thể quên được những chiến sĩ cảnh sát đang làm nhiệm vụ giữ trật tự an ninh cho nhân dân ngay giữa ngã tư: “Và trên ngã tư này đây, trong nắng mưa hay đêm ngày/ Thân thiết dáng hình của người chiến sĩ giữ trật tự an ninh/ Bảo vệ hạnh phúc cho câu ca rộn rã lúc bình minh/ Trái tim hòa nhịp cuộc sống mới trên ngã tư thân yêu!”.

Về bài hát này cũng có nhiều kỷ niệm vui, anh kể cho tôi nghe một câu chuyện nhỏ: Ngày Hà Nội mới có đèn xanh, đèn đỏ ở các ngã tư, một hôm anh đi làm, đến ngã tư, vì mải suy nghĩ nên cứ thế vượt đèn đỏ, ngay lập tức một chiến sĩ cảnh sát xuất hiện giơ tay chào nghiêm chỉnh trước mặt anh và nói to: “Chào nhạc sĩ của Ngã tư đường phố, anh đã vi phạm luật giao thông! Xin phạt nhạc sĩ một bài hát về luật giao thông!” Anh lúng túng cười xin lỗi rồi vội vàng lên xe, thật hú hồn!

Bài hát lần đầu tiên do hai ca sĩ Mạnh Hà và Thúy Hà biểu diễn đã nhanh chóng phổ biến trong lực lượng cảnh sát giao thông và tuổi trẻ Thủ đô và các thành phố khác. Đến mấy chục năm sau, khi chính phủ ban hành Nghị định 36/CP về trật tự giao thông, các đồng chí ở Bộ Công an đã quyết định dùng bài hát này để lực lượng quần chúng diễu hành trong buổi lễ phát động thi đua thực hiện Nghị định này. Và âm điệu vừa rộn ràng vừa tha thiết ấy cứ mỗi buổi sáng lại vang lên trong buổi phát thanh và cả trên truyền hình Vì an toàn giao thông và ca khúc xinh xắn ấy vẫn vang lên trong nhiều hội diễn quần chúng cho tới ngay hôm nay. Ngay vừa mới đây (2007), anh được Bộ Công an tặng bằng khen về những bài hát về ngành công an, đặc biệt là bài Từ một ngã tư đường phố.

Phạm Tuyên có nhiều ca khúc mà lời ca và giai điệu đã trở thành món ăn tinh thần của nhân dân về những thời điểm đáng ghi nhớ, nhiều người đã hát mà không nhớ tên tác giả, vì hình như những bài ca ấy tất yếu phải ra đời trong thời điểm lịch sử ấy. Chính vì vậy mà sau khi giải phóng miền Nam, tờ Tin sáng, một tờ báo nổi tiếng của Sài Gòn đã đăng một bài phỏng vấn anh với nhan đề: “Phạm Tuyên – Người viết nhạc dưới bom B52 và trong ngày đại thắng”.

Đúng như vậy, dưới bom B52 anh đã viết Hà Nội – Điện Biên Phủ với âm điệu hào hùng như để nói với thế giới: “Đâu chỉ vì non nước riêng này/ Phất ngọn cờ sao chính nghĩa”. Về hoàn cảnh ra đời của ca khúc, xin đọc một đoạn trong tập thơ văn Hà Nội mười hai ngày đêm ấy (NXB Văn Học, 1973) có một đoạn ghi nhanh của nhà báo Hữu Thọ như sau: “… Buổi sáng ngày 28/12/1972, một nhạc sĩ (đó là nhạc sĩ Phạm Tuyên) đến gặp tòa soạn. Anh mang đến một bản nháp bài hát mới làm đêm qua. Trên ghế đá dưới gốc đa, anh hát cho mấy người nghe. Mọi người đều biết bom địch ném vào khu nhà anh ở. Chiếc dương cầm của anh bị hỏng. Nhưng anh muốn đóng góp tâm hồn mình vào cuộc chiến đấu chung. Bài hát Hà Nội – Điện Biên Phủ ra đời như thế! Hôm sau bài hát đó được đăng trên một tờ báo (báo Nhân Dân). Hôm sau nữa, Đài Phát thanh dựng bài đầu tiên về Hà Nội 12 ngày đêm chiến đấu của ta phát đi muôn phương…”.

Bài hát như một hành khúc đĩnh đạc, khỏe khoắn. Đoạn I rắn rỏi, kiên định, mở đầu với cảnh rực sáng: “Bê-năm-hai tan xác cháy sáng bầu trời/ Hào khí Thăng Long ánh lên ngời ngời!”… Đoạn II thì hào hùng nhưng tha thiết: “Hà Nội đây!/ Đế quốc Mỹ có nghe chăng câu trả lời của Hà Nội chúng ta?/ Đâu chỉ vì non nước riêng này/ Phất ngọn cờ sao chính nghĩa/ Hà Nội ơi!/ Trong bom đạn vẫn ngời ánh sáng tương lai/ Ghi chiến công tuyệt vời: một “Điện Biên” sáng chói!/ Hà Nội ơi!…”.

Buổi phát thanh đêm 29/12 bài hát đã truyền đi trên sóng đã gây xúc động cho nhiều người. Anh em ở miền Nam sau này cho biết là: Hà Nội vẫn đánh giặc, vẫn ca hát và ngâm thơ, đó là tín hiệu của một ngày chiến thắng không xa! Và thật là thú vị, vì ngày 30/12 Mỹ đã phải xuống thang. Anh tâm sự: “Phải chăng vào mùa xuân năm 1975, khi tôi cất tiếng hát reo vui ngày đại thắng trong vài dòng nhạc ngắn ngủi lại chẳng có những xúc cảm mạnh mẽ bắt nguồn từ những hành khúc rắn rỏi, quyết liệt và cũng đầy hy vọng, tự hào như những gì đã được ghi lại một cách say sưa và hối hả trong bài Hà Nội – Điện Biên Phủ?”. Đây cũng là một ca khúc mang tính nhạy cảm chính trị và tính dự báo cao.

Về ca khúc này đã có một phát hiện lý thú: Khi nghiên cứu về chiến thắng B52 trên bầu trời Hà Nội, một câu hỏi được đặt ra: “Báo nào, đài nào đã sử dụng từ Điện Biên Phủ trên không đầu tiên? Câu hỏi khó khăn ấy đã được cán bộ của Bảo tàng quân chủng Phòng không Không quân vào cuộc. Các anh chị đã đến các thư viện lớn, lật từng trang báo (Nhân dân, Quân đội nhân dân, Hà Nội mới…) phát hành trong những ngày tháng hào hùng cuối năm 1972, đầu năm 1973. Cuối cùng họ đã đạt kết quả, tìm ra được đáp số. Đó là báo Nhân dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Lao động Việt Nam. Trong số ra ngày 29/12/1972, có dòng chữ “Hà Nội – Điện Biên Phủ” nhan đề một bài hát của nhạc sĩ Phạm Tuyên và cạnh đó ở trang 2 có một dòng chữ “Hà Nội đang thắng một trận Điện Biên Phủ trên không” (Lưu Trọng Lân, Tổng tập Ngàn năm văn hiến Thăng Long, tr. 1957).

Hòa bình chưa được bao lâu thì chiến tranh biên giới xảy ra, anh lại viết ca khúc Chiến đấu vì độc lập tự do đúng vào đêm 17/2/1979 khi nghe Đài báo tin quân giặc tràn đến biên cương nước ta. Và hàng triệu người dân yêu nước đã nghe bài hát ấy như một lời giục giã khẩn thiết của lòng mình. Lời ca và nhạc điệu của ca khúc Chiến đấu vì độc lập tự do nghe sao da diết lạ thường: “Việt Nam! Ôi nước Việt yêu thương! Lịch sử đã trao cho Người một sứ mạng thiêng liêng/ Mang trên người còn lắm vết thương/ Người vẫn hiên ngang ra chiến trường/ Vì một lẽ sống cao đẹp cho mọi người: Độc lập – Tự do!”. Bài hát cũng đã gợi lên ở người nghe lòng tự hào với những chiến công hiển hách trong lịch sử của dân tộc ta: “Đất nước của ngàn chiến công vẫn sục sôi khí thế hào hùng/ Những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa đang gọi tiếp thêm những bản hùng ca!”.

Bài hát được phát đi trên Đài Tiếng nói Việt Nam gây xúc động mạnh cho mọi người, từ các nơi: Tây Bắc, Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ, nhiều lá thư gửi về Đài nói lên cảm tưởng của họ, những người đang sống vào thời điểm khi mà chúng ta vừa mới thoát khỏi cuộc chiến tranh chống xâm lược Mỹ và chỉ mới hưởng hòa bình chưa được bao lâu thì phải bước vào một cuộc chiến đấu mới. Các chiến sĩ trong lực lượng vũ trang phổ biến cho nhau ca khúc này và coi đây là lời động viên đầy tâm huyết. Nhiều người trong giới nhạc cũng nói lên niềm khâm phục tài năng viết ca khúc chính trị nhanh nhạy mà đầy sức lay động của nhạc sĩ Phạm Tuyên ở những thời điểm lịch sử như thế này.

Ngay sau đó, nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng một số nhạc sĩ của Đài Tiếng nói Việt Nam lên ngay biên giới để hòa nhập vào cuộc chiến đấu mới của dân tộc. Và bài Tiếng đàn bên bờ sông biên giới cũng kịp ra đời để động viên quân và dân, nhất là tuổi trẻ miền biên cương trong cuộc chống trả khốc liệt với bọn xâm lược bành trướng dã man. Âm nhạc thống thiết với lời ca: “Từng mảnh đất nơi đây thắm máu và thắm hoa/ … Tuổi trẻ chúng ta chiến đấu và hát ca”… Trong chuyến đi biên giới này, anh cũng cho ra đời một loạt bài chống quân xâm lược bành trướng và ca ngợi tinh thần chiến đấu Tôi là đồng đội của Lê Đình Chinh (người anh hùng đã hy sinh ở cột mốc số 0), Có một đóa Hồng Chiêm (người con gái đã dũng cảm hy sinh đẹp như một đóa hoa trong cuộc chiến đấu với quân giặc tàn bạo trong chiến tranh biên giới). Âm hưởng của những bài ca ấy đến nay vẫn nằm trong hồi ức của những ai đã sống những ngày đau thương và sôi nổi ấy.

Chỉ tiếc rằng giai đoạn lịch sử bi thương và hào hùng ấy, “người ta” không muốn nhắc lại (vì lý do chính trị?) nên những khúc ca bi tráng thời kỳ đó cũng như bị “loại ra” khỏi dòng âm nhạc cách mạng đầy tự hào của nhân dân ta. Tại sao lại như vậy? Chẳng lẽ chúng ta lại bỏ quên một giai đoạn lịch sử đẫm máu và vẻ vang đó ư? Năm 2004 Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam cho xuất bản tập nhạc đồ sộ Những khúc quân hành vượt thời gian, nhiều khúc quân hành có giá trị (kể cả một số ca khúc của nhạc sĩ Phạm Tuyên) đã có mặt trong đó. Nhưng tiếc thay ca khúc Chiến đấu vì độc lập tự do có sức lay động lòng người trong chiến tranh biên giới lại không được đưa vào. Thấy tiếc quá, một số đồng chí trong Hội đồng biên tập đề nghị với tác giả của nó là nên thay cụm từ “Quân xâm lược bành trướng dã man” bằng cụm từ khác mà không có chữ “bành trướng”. Nhạc sĩ Phạm Tuyên nhất định không đồng ý vì anh muốn giữ lại tính lịch sử của tác phẩm. Và khúc quân hành nổi tiếng đó đã không có mặt trong tập nhạc Những khúc quân hành vượt thời gian! Phải chăng “người ta” cứ muốn quên đi một chặng đường đấu tranh bi hùng của đất nước, nhưng làm sao có thể quên được? Chúng ta vẫn phải ghi nhớ và ghi nhớ đến muôn đời, vì đó là lịch sử! Cái gì của lịch sử hãy trả lại cho lịch sử!

N.A.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: