Pham Ton’s Blog

Tháng Ba 21, 2014

Con đường âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Tuyên: Ở những thời điểm lịch sử (P2)

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 12:02 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 3 năm 2014.

CON ĐƯỜNG ÂM NHẠC CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

Ở NHỮNG THỜI ĐIỂM LỊCH SỬ 

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 250 đến trang 266)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọctrung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trangBa Tuyet sach chung toi da song nhu the. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

*

*     *

(Tiếp theo kỳ trước)

B

ên cạnh những ca khúc Phạm Tuyên viết về cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của nhân dân, ta không thể không nhắc tới một mảng đề tài anh viết để khích lệ, động viên bè bạn trên thế giới chiến đấu vì độc lập tự do của nước họ và ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân đế quốc. Có thể kể những ca khúc sau đây, như bài Lời ca chiến thắng vang vọng Trường Sơn ca ngợi tình đoàn kết chung lưng đấu cật của hai dân tộc Việt – Lào với âm nhạc dạt dào, trong sáng mà thắm thiết: “Bên kia Trường Sơn súng diệt Mỹ vang gần xa/ Bên này Trường Sơn có ngàn tiếng súng đang cùng hòa/ Việt – Lào tay nắm chặt tay đi giữ gìn lấy non sông của ta”. Nhạc sĩ Phạm Tuyên còn là người chỉnh lý bài Quốc ca Lào. Vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, tình hình cách mạng Lào có nhiều tiến triển tốt, cần có một bài Quốc ca để cổ vũ nhân dân Lào đấu tranh giành độc lập tự do cho đất nước. Lúc đó đồng chí Xi-xa-nạ (sau này là Ủy viên Trung ương Đảng Cách mạng Lào phụ trách tuyên huấn của Đảng bạn) và một vài đồng chí người Lào nữa đang làm việc ở bộ phận phát thanh tiếng Lào của Đài Tiếng nói Việt Nam liền ôn lại những bài ca cách mạng Lào và muốn chọn trong đó một bài làm Quốc ca. Họ đang lúng túng thì nghĩ ngay đến nhạc sĩ Phạm Tuyên (lúc đó đang phụ trách âm nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam) nhờ giúp đỡ. Họ hát lại cho anh nghe một số các bài ca Cách mạng Lào, nhưng câu nhớ, câu chăng, chưa ra hình thù nào cả. Và anh đã giúp họ chọn bài rồi chỉnh lý lại, sau này bài hát đó đã được chọn làm Quốc ca Lào cho đến bây giờ.

Bài Nụ cười Bay-on mừng nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng nhờ sự giúp sức của quân đội Nhân dân Việt Nam, với âm hưởng trầm hùng và sâu lắng: “Rồi một mùa xuân đã về với bao nhiêu tấm lòng/ Một cuộc hồi sinh sau ngàn đêm tối tăm hãi hùng/… Nhân dân Khơ-me đã đứng lên trong oán hờn/ Tay cầm thêm chắc súng dựng lại cuộc đời đẹp tươi/ Nụ cười Bay-on sáng lên trên đỉnh tháp xưa/ Nụ cười nhân ái sáng trong bao niềm ước mơ”… Ca khúc này anh viết ngay sau khi nhân dân Campuchia vừa mới thoát khỏi nạn diệt chủng, khi đất nước chùa tháp còn đang ngổn ngang nhà tù và xác người.

Bài Có bà mẹ Nga, với giai điệu trầm lắng thắm thiết mang âm hưởng Nga, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã gửi gắm lòng biết ơn của mình đến nước Nga Xô – viết. Trong đấu tranh, hai đất nước đã gần nhau hơn, tình đoàn kết thân thiết giữa hai dân tộc được thể hiện qua tình cảm của một bà mẹ Nga: “Có người mẹ Nga thương đứa con Việt Nam trong những năm dài đầy lửa khói gian nan/ Xa lũy tre xanh đến xứ sở Bạch Dương/ Mong ngày trở về đi giải phóng quê hương”… Rồi với một điệp khúc tha thiết nâng tình mẫu tử ấy thành ngọn lửa sưởi ấm lòng người: “Ơi! Tấm lòng bà mẹ Nga nhân hậu và rộng lớn bao la/ Mẹ thấu hiểu những mất mát của chiến tranh/ Mẹ khát khao những sớm bình minh trong lành/ Ơi! Tấm lòng bà mẹ Nga như tấm lòng mẹ Việt Nam ta/ Sưởi ấm lòng con trên đường dài tranh đấu/ Mãi mãi gắn liền hai đất nước bên nhau”. Và những đứa con trên đất Nga ngày ấy đã trở về Việt Nam thành những người lính đấu tranh dũng cảm trước quân thù, thành những người con bền bỉ, sáng tạo xây dựng đất nước sau chiến tranh. Họ là những công dân, những nhà lãnh đạo của đất nước Việt Nam đang hội nhập vào thế giới bao la. Anh viết bài này cũng đang trong tâm trạng nhớ hai con gái của mình đang học ở Nga.

Bài Thấy chăng anh, cảng của chúng tôi? gửi các bạn thủy thủ nước ngoài vẫn lui tới cảng Hải Phòng ngay trong những ngày bom B52 của giặc Mỹ dội xuống làm rung chuyển cả biển trời: “Từ ngoài khơi xa mênh mông, anh có thấy chăng phía chân trời/ Vầng hào quang trong đêm thâu tỏa ánh sáng ngời… Bến Việt Nam đây, Hải Phòng đây!/ Đón gió mát bốn hướng đang thổi tới/ Trong tình mến thương chan hòa nồng hậu và thắm tươi”…

Đ

ặc biệt bài Gảy đàn lên, hỡi người bạn Mỹ! anh viết từ cuối những năm 60 thế kỷ trước tặng nghệ sĩ Pete Seeger người đã dẫn đầu đoàn biểu tình ở Washington chống chiến tranh ở Việt Nam với cây đàn ghi-ta và hát bài hát The Ballad of Ho Chi Minh (Bài ca Hồ Chí Minh) của Ewan MacColl. Tình cờ qua Đài Phát thanh La Habana (Cuba) Pete Seeger đã nghe được bài hát Gảy đàn lên, hỡi người bạn Mỹ! và ông đã tìm cách đến với Việt Nam đang trong thời kỳ chiến tranh (qua con đường Trung Quốc). Ở sân bay Gia Lâm dã chiến, hai vợ chồng Pete gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên, họ ôm lấy nhau và cùng ca vang bài hát này.

Gần 40 năm đã trôi qua, bài ca tưởng như đã đi vào quá khứ như một kỷ niệm về một thời hào hùng khó quên. Vậy mà mới đây chúng tôi lại được nghe một cô gái Mỹ đến thăm nhà và hát bài ca sôi nổi này. Đó là vào một buổi trưa tháng 7 năm 2006, cô đi xe ôm đến nhà chúng tôi. Cô nói tiếng Việt khá tốt. Gặp chúng tôi cô nhanh chóng tự giới thiệu: “Cháu tên là Molly Hartman-O’Connell, xin cứ gọi cháu tên Việt Nam là Mai Ly cho dễ. Cháu được biết địa chỉ của nhạc sĩ Phạm Tuyên là do nghệ sĩ Nguyệt Hảo ở Hội Chữ thập đỏ quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh cung cấp. Cháu có hát được một số bài hát của chú nên lần này ra Hà Nội để đón ba má cháu từ bên Mỹ lần đầu tiên sang Việt Nam ở sân bay Nội Bài, cháu tranh thủ đến gặp chú”. Cách xưng hô và tự giới thiệu rất mộc mạc và chân tình ấy tự nhiên chúng tôi thấy ở cô có một cái gì thật gần gũi với gia đình, Mời cô vào nhà uống nước, nhạc sĩ Phạm Tuyên hỏi ngay xem cô hát được bài gì của anh. Cô nhanh nhẹn chỉ tay vào chếc đàn piano như muốn nhờ nhạc sĩ đệm giúp. Và bài hát mở đầu cho cuộc gặp mặt đầy thú vị này là bài Gảy đàn lên, hỡi người bạn Mỹ! viết từ năm 1969 tức là 13 năm trước khi Mai Ly chào đời! (cô sinh năm 1982). May Ly hát rất chuẩn, rất sôi nổi, đúng với chất rock như ý định của tác giả. Căn phòng nhỏ bỗng vang lên giai điệu bài ca mà mấy chục năm nay chúng tôi mới lại được nghe do chính một nữ thanh niên Mỹ hát: “Oa-sinh-tơn đêm nay lửa tranh đấu đang rực cháy/ Nghe tiếng hát anh vang mọi nơi chân lý đang tỏa sáng ngời/ Sông Pô-tô-mắc ngày đêm đã in bóng anh đẹp thay/ Tay gảy đàn miệng hát vang đi giữ lấy cuộc đời!”. Và đoạn điệp khúc có lửa: “Gảy đàn lên đi bạn ơi theo tiếng súng miền Nam/ Đi lên nhân dân Mỹ chúng ta hãy xiết chặt tay!/ Cùng đấu tranh cho hòa bình, diệt chiến tranh xâm lược/ Cùng hát lên nhiệt tình bài ca Hồ Chí Minh!” Khi cô hát xong, nhạc sĩ cầm lấy tay cô gái cám ơn và hỏi đôi điều. Mai Ly sôi nổi nói ngay: “Ba má cháu cũng đi biểu tình phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Hồi đó cháu chưa ra đời. Ba cháu là John O’Connell hiện là Chủ tịch một hội Từ thiện, còn má cháu là Gretchen Hartman, nhà tâm lý học. Cháu sang Việt Nam từ năm 2003 là nghiên cứu sinh của tổ chức Fulbright về đề tài Phụ nữ học. Cháu dự các lớp tiếng Việt ở Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và ở Đại học Sư phạm tại Thành phố Hồ Chí Minh nên đến nay cũng tạm giao dịch được bằng tiếng Việt”. Cô còn nói thêm bằng tiếng Việt: “Cháu vừa đi Côn Đảo với bà Trương Mỹ Lệ (chị của Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa) và cháu rất xúc động cùng hát với nữ cựu tù Côn Đảo bài Tiếng hát những đêm không ngủ mà chú đã viết tặng cho phong trào đấu tranh của thanh niên học sinh sinh viên Sài Gòn cách đây 40 năm”. Thế là nhạc sĩ lại ngồi vào đàn và bài Tiếng hát những đêm không ngủ lại được cô gái Mỹ hát vang lên trong căn phòng nhỏ.

Vậy là sau gần 40 năm, từ bên kia bán cầu các bạn Mỹ vẫn hát về Việt Nam, về Hồ Chí Minh mà cô gái Mai Ly (tên Mỹ là Molly Hartman – O’Connell) là hiện thân cụ thể của tình cảm ấy với tiếng hát sôi nổi và giàu ước mơ trong bài Gảy đàn lên, hỡi người bạn Mỹ!

Về bài hát này cũng có một kỷ niệm hay hay. Đó là vào những năm 80, sau khi miền Nam được giải phóng khoảng chục năm, trong một hội diễn nghệ thuật quần chúng toàn quốc, anh được mời làm giám khảo. Bỗng nhiên có một diễn viên trẻ người Sài Gòn to cao, đẹp trai đến gặp, lễ phép xin được hát bài Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ! theo phong cách nhạc rock mà lại là rock mạnh, vì “Hát như thế mới đã!”. Nhạc sĩ Phạm Tuyên vui vẻ trả lời: “Rất hoan nghênh, chính tôi cũng đã viết bài đó theo phong cách rock”. Quả thật, tiết mục đã gây được tiếng vang và đạt huy chương vàng. Chàng trai đó là Chánh Tín, người đã từng là diễn viên điện ảnh trẻ của miền Nam cũ. Sau hội diễn, một dịp nhạc sĩ Phạm Tuyên vào công tác tại Sài Gòn Chánh Tín biết được liền tha thiết mời anh đến nhà chơi và anh đã nhận lời. Hôm đó, từ 10g sáng đến 4g chiều, Chánh Tín và vợ là Bích Trâm cũng làm công tác nghệ thuật cùng tiếp anh, họ ngồi với nhau chuyện trò không ngớt, không khí ngày càng cởi mở và chân thành. Cả hai vợ chồng Chánh Tín đêu nói là đã đọc khá nhiều tác phẩm của nhà học giả Phạm Quỳnh, hơn nữa khi thi tú tài, Bích Trâm đã làm luận văn về học giả nổi tiếng ấy. Nay lại được tiếp chuyện với người con trai của cụ, thật là dịp may hiếm có, lòng cảm động lạ thường, không khí trở nên ấm cúng như cuộc gặp gỡ của những người thân sau bao năm xa cách, rồi hai vợ chồng Chánh Tín cứ ôm lấy nhạc sĩ Phạm Tuyên. Trong không khí thân mật đầy tin tưởng đó, Chánh Tín đã hỏi Phạm Tuyên về con đường tương lai của mình trong chế độ mới để vượt lên những rào cản do định kiến của các cán bộ phường đối với văn nghệ sĩ cũ dưới chế độ Mỹ ngụy. Chả là trước giải phóng Chánh Tín được coi là một diễn viên điện ảnh đầy triển vọng, nay cách mạng về, những người như Chánh Tín bị liệt vào phần tử “có vấn đề” nên khó được tham gia vào hoạt động nghệ thuật nào trong chế độ mới. Lúc đó, người thân của họ ở hải ngoại lại muốn bảo lãnh cho hai vợ chồng sang Mỹ. Suy nghĩ một lúc, rồi bằng kinh nghiệm của mình, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã khuyên hai vợ chồng Chánh Tín: “Không gì bằng sống trong quê cha đất tổ và hãy đứng vững trên đôi chân của mình!”. Kết thúc cuộc gặp gỡ hiếm có đó, hai vợ chồng Chánh Tín bắt tay thật chặt nhạc sĩ Phạm Tuyên với vẻ mặt rạng rỡ mà nói: “Nhạc sĩ Phạm Tuyên ở lại được thì tụi em cũng ở lại được”. Quả nhiên trong mấy chục năm qua, Chánh Tín cùng vợ đã gây dựng được một sự nghiệp điện ảnh đáng cho nhiều người phải chú ý.

Có một Khúc hát hòa bình của em bé châu Mỹ, anh phổ thơ của Ana Pixarô năm 1983 được ca sĩ Thanh Hòa, một giọng nữ trầm ấm, mềm mại hát và đã phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam làm người nghe xúc động. Phảng phất âm hưởng của thổ dân da đen, âm nhạc đã quyện với lời thơ theo phong cách Mỹ Latinh thành một bản hùng ca vừa thiết tha vừa quyết liệt. Bằng bài ca nhỏ này, tình cảm của anh đã vượt biên giới, vượt qua cả nửa vòng trái đất để đến với những em bé nghèo khổ đang ở chính nơi châu Mỹ giàu có nhất thế giới.

N

hững ca khúc của Phạm Tuyên có sức cổ vũ lay động như vậy ở những thời điểm không thể quên, nên nhiều người đã cho rằng ca khúc Phạm Tuyên như một cuốn biên niên sử bằng âm nhạc.

Và một trang sử hào hùng nhất, vẻ vang nhất, tràn đầy niềm vui nhất của cả dân tộc đã đến, đó là ngày 30 tháng 4 năm 1975 – ngày giải phóng Sài Gòn – giải phóng miền Nam,Phạm Tuyên đã kịp ghi lại cảm xúc ấy bằng một tiếng reo vui: Như có Bác trong ngày đại thắng. Ca khúc đó dường như đã nằm sẵn trong niềm mơ ước cháy bỏng, niềm tin mãnh liệt của tác giả vào ngày toàn thắng chỉ còn đợi đến giây phút thiêng liêng đó là ùa ra và cộng hưởng ngay với triệu triệu niềm vui của mọi người trên toàn đất nước.

Chiều 30 tháng 4 năm ấy, tất cả anh chị em Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam cùng một số anh chị em bên Giao hưởng Hợp xướng tập hợp tại phòng thu thanh của Đài để dàn dựng và thu ngay ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng để kịp phát trong bản tin chính thức công bố tin toàn thắng cho cả nước và trên toàn thế giới biết. Tất cả mọi người đều hết sức phấn chấn. Chưa có một bài hát nào được dàn dựng, thu thanh và phát với một tốc độ nhanh như vậy! Cũng chưa có một bài hát nào mà khi tập, cả người hát, người đệm đàn, người dàn dựng, người thu thanh đều rưng rưng nước mắt, nước mắt của niềm vui vì ngày đại thắng!

Những ai đã nghe bài hát đó một lần là đã nhập tâm cái điệp khúc: “Việt Nam – Hồ Chí Minh!”. Đây chính là niềm khát vọng, là tiếng nói từ trái tim của mỗi người trong ngày vui đại thắng. Hầu hết những người Việt Nam trong những ngày này, ai cũng tưởng nhớ tới Bác Hồ, Người lúc sinh thời đã nói lời bất hủ: “Miền Nam luôn trong trái tim tôi” và tác giả của bài ca đó đến thời khắc này mới được biết chiến dịch giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam là chiến dịch mang tên Bác – chiến dịch Hồ Chí Minh.

Ngày hôm đó, 17 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975, cả dân tộc mừng vui đến nghẹn thở khi nghe tin đại thắng được trịnh trọng tuyên bố qua làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam cùng với tiếng hát lạc quan, hào hùng mà tràn đầy xúc động của bài Như có Bác trong ngày đại thắng. Hàng chục triệu người vừa nghe, vừa khóc, vừa nhẩm theo, học thuộc khi loa phóng thanh phát đi bài đó trên mọi đường phố, làng quê của đất nước. Sự ra đời của bài hát cũng đáng ghi nhớ, vì nó gặp được “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” như tác giả của nó đã từng nhận định.

Nhớ lại đúng vào thời điểm 21 giờ 30 đêm 28 tháng 4 năm 1975, khi nghe bản tin thời sự loan báo Nguyễn Thành Trung, một trung úy phi công “ngụy” đã ném bom vào sân bay Tân Sơn Nhất, một niềm xúc động dâng trào với linh cảm là chẳng còn bao lâu nữa thôi thì Sài Gòn và cả miền Nam sẽ được giải phóng! Đêm hôm ấy, tôi thấy anh bồi hồi khác thường, trên tay cầm mẩu giấy và chiếc bút chì ra đứng đầu cầu thang, nơi đó có một bóng đèn chiếu sáng, ngoài trời lâm thâm mưa. Anh cứ đứng đó ghi xong cả giai điệu và lời ca của bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng để không phá giấc ngủ của vợ con (vì nhà rất chật). Cả cuộc đời gắn bó với nhân dân, với đất nước, sống với lý tưởng cao đẹp, một cuộc đời không ngừng phấn đấu vươn lên, khổ đau và hy vọng để bây giờ có thể hát lên: “Ba mươi năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông!”.

Bài hát được anh sáng tác trong một khoảnh khắc ngắn ngủi vào cái đêm 28/4/1975, nhưng nói cho chính xác thì nó được sinh ra từ khoảnh khắc đó cộng với cả cuộc đời anh. Và chỉ mấy ngày sau thôi bài hát đã vang lên khắp cả miền Bắc và cả các đô thị, xóm ấp miền Nam mới giải phóng đúng vào ngày lễ 1/5 năm đó.

Ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng đã vang lên trong các cuộc liên hoan, trong các ngày lễ trên khắp đất nước, đến nay đã hơn 1/3 thế kỷ mà nó vẫn còn sống mãi với thời gian. Bài hát đã được vang lên trong nhiều cuộc gặp gỡ, giao lưu với bạn bè quốc tế. Bài hát đã được hát ở nhiều nước (Nga, Đức, Cuba, Trung Quốc, Nhật Bản…) Trong bài viết Phạm Tuyên – người Nhạc sĩ của nhân dân, đăng trong cuốn Những người lao động sáng tạo của thế kỷ (NXB Lao động, 2003) tác giả Diệu Ánh đã viết về ca khúc này như sau: “Bài hát là thông điệp hòa bình, là niềm kiêu hãnh, lạc quan của dân tộc, là lời hiệu triệu, là niềm tin vào tất thắng của chính nghĩa. Bài hát ngân nga mãi trong lòng mọi người, là nhịp cầu nối hai miền đất nước, giữa các quốc gia đã từng yêu mến và ủng hộ Việt Nam đấu tranh cho thống nhất và hòa bình”. Ca khúc này thường được trình bày dưới dạng ca khúc quần chúng, nhưng cũng đã được thể hiện ở thể loại hợp xướng. Với giọng hát nhiều bè của nam nữ ca sĩ Đài Tiếng nói Việt Nam hòa cùng giọng hát trong trẻo của đội Sơn ca thành một bản hợp xướng huy hoàng vang vọng đến trái tim mọi người. Ca khúc đó còn được trình bày dưới hình thức diễn xướng do ca sĩ nổi tiếng người Nhật Takimoto cùng với giọng hát điêu luyện của hai ca sĩ trẻ Trọng Tấn và Khánh Linh, lúc bay bổng, lúc dồn dập, lúc thiết tha, lúc lắng đọng làm người nghe ngỡ ngàng. Hôm ấy tôi đang theo dõi bài hát này trong một chương trình giới thiệu nhạc sĩ người Nhật được truyền hình trực tiếp tại nhà hát lớn thì có giọng gấp gáp của Dương Viết Á, nhà phê bình âm nhạc trong điện thoại: “Bật máy nhanh lên mà nghe! Bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng sao mà hay thế, hay như một bài thơ!”.

Ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng đã được Nhà nước thưởng Huân chương Lao động hạng ba với câu ghi trên huân chương: Tặng thưởng nhạc sĩ Phạm Tuyên – đã có thành tích xuất sắc trong việc sáng tác bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng góp phần cổ vũ kịp thời cho ngày giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Hà Nội ngày 30 tháng 4 năm 1985 – Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Trường Chinh (đã ký). Để mừng đón huân chương, tôi đã thịt hai con gà đang nuôi trong chuồng làm một bữa miến mời bạn bè đến chung vui. Trong bữa “đại tiệc” đó, nhiều bạn bè, đồng chí đến dự đều ngồi bệt xuống sàn nhà ăn liên hoan! Bữa liên hoan đó thật đơn sơ nhưng vui vẻ và ấm cúng! Sau đó mỗi lần anh đi công tác vào miền Nam, bạn bè trong đó nghe tin vui đều đòi: “Anh Hai cho bọn em rửa huân chương với!”. Mà thật là tội vì Nhà nước chỉ thương cho anh độc mỗi huân chương thôi, phần thưởng tinh thần mà! Đây cũng là trường hợp đặc biệt Nhà nước ta thưởng huân chương cho một bài hát.

Từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến nay, bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng phổ biến tới mức mà mọi người, từ em bé mới tập nói cho tới các cụ già, ai cũng thuộc, người ta hát khi gặp nhau, khi giã bạn. Có một chuyện thật cảm động, đó là sau ngày giải phóng miền Nam chừng chục năm, anh về thăm Tây Ninh, nơi có chiến khu D nổi tiếng, trong một cuộc gặp mặt với các đồng chí và bà con địa phương thì bỗng nhiên có một em bé gái khoảng mười tuổi đến khoanh tay trước mặt anh mà nói: “Con cảm ơn bác vì bác đã đặt tên cho con”. Nhạc sĩ Phạm Tuyên rất ngạc nhiên, lần lại quá khứ thì rõ ràng chưa từng có sự việc ấy? Nhưng đó là câu chuyện có thực 100%. Số là ngay sau ngày miền Nam giải phóng, đồng chí Bảy Nứ (tức là Trần Văn Nứ) được điều động về Nam công tác (đồng chí ấy là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc từ năm 1954) đúng vào thời kỳ vợ chuẩn bị sinh con. Khi chia tay chị ấy gặng hỏi chồng: “Nếu sinh con thì đặt tên gì?”. Bảy Nứ suy nghĩ một hồi rồi nói với vợ; “Nếu là con trai thì đặt tên là Đại Thắng, nhưng nếu là con gái thì em cứ hát bài Như có Bác trong ngày đại thắng, lần theo lời bài hát ấy nếu gặp chữ gì hay phù hợp với con gái thì đặt tên con bằng chữ ấy”. Và chị đã sinh con gái, theo lời chồng chị làm như vậy, chị nhẩm lời bài hát Như có Bác trong ngày đại thắng, đến câu: “Lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng”. Như bắt được vàng, chị lấy ngay chữ Huy Hoàng đặt tên cho con. Thế là cháu bé có tên là Huy Hoàng. Cháu Huy Hoàng là một cháu bé thông minh, hồi học lớp 5, Huy Hoàng đạt giải 3 cuộc thi Văn toàn quốc. Sau này đã tốt nghiệp Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh và bây giờ là cán bộ ngân hàng của tỉnh Tây Ninh.

Xung quanh ca khúc này có khá nhiều chuyện vui. Có một câu chuyện lạ về tính phổ biến của bài hát: Trong một cuộc hội chợ tại công viên 29/3 ở Đà Nẵng, người ta xúm quanh một con chim nhồng (một loài vẹt) đang cất tiếng hát bài Như có Bác trong ngày đại thắng! Thấy lạ, nhiều người khách hỏi mua nhưng chủ của nó không bán mà chỉ để khoe thôi. Ông nói: “Tiếng “hát” của con chim nhỏ này là niềm vui của cả nhà chúng tôi đấy!”. Năm sau nữa lại một ông chủ khác cũng mang đến hội chợ 29/3 này một con chim nhồng biết hát ca khúc đó mà còn hát hay hơn để khoe với mọi người chứ không bán. Bài Như có Bác trong ngày đại thắng cũng thường vang lên tại các sân vận động mỗi khi có bàn thắng. Mới gần đây thôi, khi đội tuyển Việt Nam giành Cup AFF, một giải bóng đá lớn vào bậc nhất Đông Nam Á, một giấc mơ sau hàng chục năm của hàng chục triệu người dân Việt Nam nay biến thành hiện thực. Ngay sau tiếng còi của trọng tài kết thúc trận đấu, cả tuyển thủ lẫn cổ động viên liền hát vang ca khúc này ngay tại sân vận động. Không chỉ ở sân Mỹ Đình mà cả khắp Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế,… người ta đổ ra đường đông nghịt với lá cờ đỏ sao vàng hòa trong tiếng hát bài Như có Bác trong ngày đại thắng, như tiếng reo vui của lòng mình một cách thật tự nhiên trước một thắng lợi to lớn.

Ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng sở dĩ đi sâu được vào lòng người, giữ lại bền lâu trong tâm hồn hàng triệu người nghe, theo các nhà phê bình âm nhạc thì vì nó vừa mang tính khái quát lại vừa mang tính cụ thể. Ca khúc đó đã nói lên tầm vĩ đại của cuộc đấu tranh oanh liệt của cả dân tộc Việt Nam, đồng thời lại nói được một cách cụ thể, một thời kỳ lịch sử 30 năm để giành toàn vẹn non sông, vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Ở Nhật, ngay từ những ngày đầu bài hát mới ra đời, 49 tỉnh thành đã in ra để ca hát trong cộng đồng. Họ nói: “Chúng tôi hát bài này không chỉ để ca ngợi chiến thắng 30 tháng 4 của các bạn mà là để ca ngợi một nước Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh”.

Về bài hát này, trong một bài viết có nhan đề: Phạm Tuyên – Tiếng hát ngày chiến thắng ở chuyên mục Tài trí Việt Nam của tạp chí Thế giới mới số đặc biệt 30/4 (131) nhà thơ Bế Kiến Quốc đã viết: “Trong một số thời điểm đặc biệt, lịch sử luôn cần có một ca khúc xuất hiện tức thời và được hàng vạn, hàng triệu con người hát vang trên những đường phố, quảng trường, cánh đồng, chiến lũy… Hạnh phúc thay những nhạc sĩ đáp ứng được yêu cầu ấy của lịch sử. Đó là Văn Cao với “Tiến quân ca”, đó là Đỗ Nhuận với “Chiến thắng Điện Biên Phủ”, đó là Lưu Hữu Phước với “Giải phóng miền Nam”. Và đó là Phạm Tuyên với “Như có Bác trong ngày đại thắng”. Những ca khúc “tức thời” đó đã bộc lộ tư tưởng, tình cảm của nhân dân, cổ vũ hàng triệu con người cùng tham gia vào một nhiệm vụ chính trị. Những ca khúc đó đã đi thẳng vào lòng người nhẹ nhàng mà sâu sắc, không thể có lời động viên, hô hào nào sánh bằng!”.

Tính đến nay, bài Như có Bác trong ngày đại thắng có đến hàng quá nửa trăm bài ngợi ca của các nhà báo, những người yêu nhạc. Anh cảm thấy vui, nhưng cũng ngại khi thấy bài ca ngợi nó được đăng tải trên báo chí nhiều quá.

Trong lời dẫn chương trình Những cung bậc thời gian tôn vinh những tác phẩm của nhạc sĩ Phạm Tuyên (vào thứ 7, ngày 7 tháng 7 năm 2007) nhân nhạc sĩ Phạm Tuyên tròn 77 tuổi, nhạc sĩ Hồ Quang Bình đã nói: “Những bài hát ra đời trong khói lửa của cuộc chiến tranh giữ nước của ông, thực sự đã để lại trong tâm khảm ký ức của bao người những vẻ đẹp nhiều sức thuyết phục. Đó là những giá trị cao cả của tinh thần công dân yêu nước, của nhạc sĩ là chiến sĩ hiện diện trên mọi nẻo đường chiến đấu giành độc lập, tự do. Chiếc gậy Trường Sơn, Bám biển quê hương, Đêm trên Cha Lo v.v…có sức lan tỏa mạnh mẽ, mang hơi thở của một thời: hiến dâng trọn vẹn trái tim mình cho quê hương mãi mãi thanh bình”.

Phải nói thêm một chút về đêm nhạc đặc biệt này. Đây là một đêm nhạc thật hiếm thấy mà những bạn đồng nghiệp thân thiết của nhạc sĩ Phạm Tuyên ở Hội Âm nhạc Hà Nội đã tổ chức với tấm lòng quý mến anh và ngưỡng mộ tác phẩm của anh. Họ bí mật chuẩn bị công phu trong một thời gian khá dài, từ kịch bản, chọn bài, đạo diễn nghệ thuật, mời diễn viên… đến việc chạy kinh phí… mà không cho anh Phạm Tuyên biết! Đến đêm diễn, nhạc sĩ Văn Dung nói với anh: “Anh chỉ coi mình là khán giả chứ không phải là người trong cuộc!”. Thế rồi đêm diễn đã thành công, gây ấn tượng bất ngờ, vượt ngoài mong ước của tác giả, được nhiều người xem đánh giá cao. Riêng nhạc sĩ Hoàng Giai một hội viên Hội Ấm nhạc Hà Nội đã rất hài lòng liền cho ngay 10 điểm 10: về mặt tên đêm diễn, về tác phẩm, về kịch bản, về đạo diễn, về giới thiệu, về diễn viên (mặc dù không có “sao” nào cả)… Nhưng có lẽ điểm 10 xuất sắc nhất là tấm lòng của những người dàn dựng chương trình và của công chúng yêu âm nhạc.

N.A.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: