Pham Ton’s Blog

Tháng Ba 21, 2014

Người nối lại giao tình giữa hai nhạc sĩ Việt – Mỹ

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:47 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 3 năm 2014.

 

NGƯỜI NỐI LẠI GIAO TÌNH GIỮA HAI NHẠC SĨ VIỆT – MỸ

Priscilla Aquilla

Lời dẫn của Phạm Tôn: Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN với các đối tác vừa diễn ra tại Ba-li In-đô-nê-xi-a, trong đó có nhiều cuộc tiếp xúc song phương. “Sáng 22/7, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã có cuộc tiếp xúc song phương với Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Hi-la-ri Clin-tơn bên lề các cuộc họp Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với các đối tác.

Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và Bộ trưởng Ngoại giao Hi-la-ri Clin-tơn đã chia sẻ đánh giá về những tiến triển mới trong quan hệ hai nước; bày tỏ hài lòng về những bước phát triển tích cực trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – Hoa Kỳ trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, an ninh, khoa học – kỹ thuật, giáo dục, nhân đạo, v.v. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và Bộ trưởng Clin-tơn nhất trí hai nước tiếp tục phấn đấu thúc đẩy, nâng tầm quan hệ song phương lên mức cao hơn, hướng tới quan hệ đối tác chiến lược” (Báo Nhân Dân ngày 23/7/2011, trang 8).

Thật ra, đã có những người Mỹ nhảy dù tiếp xúc với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu, trên chiến khu Việt Bắc và họ đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và chỉ sau năm năm nửa triệu quân Mỹ đổ bộ ồ ạt vào Việt Nam qua cảng Đà Nẵng, trực tiếp tàn sát đồng bào ta ở miền Nam và bắn phá, ném bom miền Bắc nước ta thì một nhạc sĩ – ca sĩ Mỹ nổi tiếng – Pete Seeger đã lặn lội sang Việt Nam tìm gặp người nhạc sĩ tri kỷ, tri âm Phạm Tuyên (sinh tại Hà Nội, 12/1/1930). Pete Seeger (sinh tại New York, 3/5/1919) từng đi đầu nhiều cuộc biểu tình chống chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ông cầm đàn, vừa đi vừa ứng tác, tiếp sức cho cuộc biểu tình tuần hành bằng cách nghĩ được câu nào gảy đàn và hát ngay lên cho các hàng người hát theo, rồi tiếp đến câu sau, như làn sóng lan đến cuối đoàn người tuần hành. Cứ thế biết bao bài hát phản chiến đã ra đời, sau này ông gửi cho nhạc sĩ Phạm Tuyên 267 bài. Lần ấy ông đến Việt Nam tìm Phạm Tuyên vì ông được nghe trên sóng của đài phát thanh Cu-ba bài hát Gảy đàn lên, hỡi người bạn Mỹ của Phạm Tuyên viết tặng ông cuối năm 1969, nhân tình cờ nhìn thấy trên màn hình ti-vi hình ảnh chàng thanh niên Pete Seeger cầm ghi ta hát vang bài hát về Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn biểu tình tuần hành chống chiến tranh Việt Nam.

Dưới nhan đề Người nối lại giao tình giữa hai nhạc sĩ Việt – Mỹ và ảnh của chúng tôi là toàn văn bài viết bằng tiếng Anh đăng trên báo Thanh Niên Weekly (Tuần san Thanh Niên) số 18-24/2/2011 của Priscilla Aquilla nhan đề Forcing hate to surrender (tạm dịch là Xoá bỏ hận thù). Bản chuyển ngữ sang tiếng Việt của bạn Nguyễn Văn Chiên (sinh năm 1940, tại Viên-chiên Lào).

—o0o—

NGƯỜI MỸ TIẾP XÚC

VỚI NHỮNG BÀI HÁT CHỐNG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

VÀ NỐI LẠI HAI THẦN TƯỢNG.

Mẹ Việt Nam, có biết chăng giờ này đoàn con đã lên đường”. Đó chỉ là một đoạn, đồng ca, trong bài hát mà Molly Hartman O’Connell  hiểu, chị nhắc lại, vì tiếng Việt của chị còn vụng về nhất là khi chị mới nghe lần đầu.

Và đó là bài hát chiến tranh Việt Nam mà những sinh viên quê ở Brooklyn (New York) từng học nhân chủng học ở Đại học Columbia lần đầu tiên đã nghe thấy trong chương trình Tiếng hát những đêm không ngủ do nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Tuyên dàn dựng năm 1970 để lại ấn tượng trong lòng người nghe .

Bài hát đó đã lóe lên trong cô ý muốn biết người đã sáng tác ra bài hát và cô muốn hiểu vai trò của bản nhạc này đã tác động như thế nào.

Theo đúng truyền thống phải có nhận xét sơ bộ của các nhà nhân chủng học, Molly quyết định phải tập để tự hát cho được những bài hát chiến tranh Việt Nam và cô đã được nhạc sĩ thanh nhạc Cao Nguyệt Hảo hướng dẫn, bà là một thành viên đã về hưu của Nhà hát Ca múa Nhạc Quốc gia Hà Nội.

Dù cho, “Tôi là sinh viên, tôi không phải là ca sĩ”, cô nói với báo Tuần san Thanh niên .

Được nhận học bổng Fullbright, Molly rời  thành phố quê hương năm 2003 để đi học về những vấn đề  phụ  nữ đương đại cũng như về ngôn ngữ Việt Nam theo chương trình trao đổi giữa hai nước.

Tên Việt Nam của chị là Mai Lý, Molly tự nhiên thích những bài hát cách mạng Việt Nam khi chị làm quen với các bạn bè cũng như khi nói chuyện với những người phụ nữ ở đây, nhất là những người trước 1975 từng là tù chính trị.

Cha mẹ chị từng là công nhân và nhà hoạt động xã hội trong cộng đồng, và các anh của chị biết nhiều về các phong trào âm nhạc chống chiến tranh, nên rất dễ dàng cho Mai Lý đi sâu vào âm nhạc chiến tranh ở Việt Nam.

 “Tôi biết nhiều bài hát từ bố mẹ, bố mẹ tôi cùng thế hệ với Bob Dylan, ban nhạc Woodstock năm 1969. Bố mẹ tôi rất quan tâm và cảm thấy gần gũi với bất cứ vấn đề gì tôi nói về Việt Nam, dù rằng bố mẹ tôi thời gian đó chưa đến Việt Nam.”

Họ thực sự như đã sống trong giai đoạn đó và họ biết tất cả những câu chuyện về bối cảnh chiến tranh, kể cả những chuyện về Côn Đảo, nơi nổi tiếng về nhà tù xây từ thời chính quyền thực dân Pháp, bởi vì thời đó, mọi chuyện đều được biết thông qua tạp chí và các kênh truyền thông. Molly, hiện nay đang làm tại một công ty tư nhân ở thành phố Hồ chí Minh. Cô nói: “ Không như bố mẹ, khi tôi nghe một bài hát, hay khi tôi được nghe kể về thời kỳ đó , tôi phải mường tượng ra những gì xảy ra. Thực vậy, điều rất hay là hầu hết những người trong thế hệ trước, như bố mẹ tôi  chưa bao giờ nghĩ  hay tìm kiếm các thông tin về Việt Nam ngày nay sau chiến tranh. Họ chỉ biết về Việt Nam trong những ngày xưa đó.

 “Vì thế khi tôi thông báo cho bố mẹ tôi rằng tôi sẽ đi Việt Nam để tìm hiểu, thì họ không hề e ngại chút nào, họ rất phấn khởi. Bố mẹ tôi nói: “OK, đi Việt Nam đi, và tìm thấy những gì ngay tại chỗ nhé ”.

Hành trình đến Việt Nam của cô và hành trình tìm hiểu âm nhạc yêu nước Việt Nam của cô đã đi sâu hơn những gì cô dự định .

Nhạc sĩ Hảo đã dậy Molly không chỉ hát như thế nào và phát âm lời bài hát ra sao, mà ông còn giải thích  ý nghĩa và những chuyện đằng sau mỗi bài hát; ông còn giới thiệu cho các sinh viên người Mỹ của ông  một số nhạc sĩ thời chiến tranh, như Phạm Tuyên, Phan Huỳnh Điểu, Lư Nhất Vũ và Trương Tuyết Mai.

Cái hay nhất trong chuyện của Molly không phải là cô trở nên nổi tiếng như thế nào và cô đã được mời trình diễn trong chương trình các kênh TV như HTV của nước sở tại, cũng không phải là cô đã nhận được nhiều giải thưởng trong các cuộc thi hát.

Mà cái hay nhất là sau lần đầu tiên gặp nhạc sĩ 81 tuổi Phạm Tuyên, ông đã nói lên cảm hứng sáng tác bản nhạc đỏ kinh điển Như có Bác trong ngày đại thắng và bản Gẩy đàn lên, hỡi người bạn Mỹ; tặng Pete Seeger vào năm 1969.

Ông Tuyên nói với cô trong lần gặp năm 2007 đó tại nhà ông ở Hà Nội, là bài hát đã được sáng tác  để  đáp lại Bài ca Hồ chí Minh của Pete Seeger, một ca sĩ dân ca Mỹ 92 tuổi, và đó là một nhân vật biểu tượng cho sự hồi sinh âm nhạc dân ca Mỹ giữa thế kỷ 20. Pete Seeger  cũng  đi tiên phong trong âm nhạc chống chiến tranh, ông đã dẫn đầu đoàn một triệu người đi bộ ở Washington D.C. năm 1969  để phản đối chiến tranh Việt Nam.

Pete Seeger nghe được bài hát của ông Tuyên khi bài hát được Đài Phát thanh Cuba La Habana phát sóng vài tháng sau đó. Xúc động về bài hát, Pete tìm đường sang Hà nội, và gặp Phạm Tuyên đầu những năm 1970. Đến khi Molly thăm ông Tuyên thì  họ đã mất liên lạc với nhau.

 “Mai Lý là một ca sĩ, người hâm mộ đặc biệt của tôi không phải vì cô là một người Mỹ có thể hát bài hát Việt Nam, mà còn vì những tình cảm của cô, đặc biệt tình yêu của cô và sự đánh giá cao âm nhạc truyền thống và âm nhạc cách mạng Việt Nam, mà nhiều người trẻ ở Việt Nam ngày nay không hiểu” ông Tuyên nói.

Molly kết luận. “Nhiều người trẻ Việt Nam thích bài hát Mỹ, và nhiều người trong số đó thích nhạc pop, trong khi  những người Mỹ lại  muốn học nhiều hơn nữa về âm nhạc truyền thống Việt Nam.” “Nhạc pop không có ý nghĩa thực tế, chỉ để vui nhộn. Khi một ca sĩ Việt Nam hát một bài hát bằng tiếng Anh, âm thanh nghe rất hay nhưng bài hát không có ý nghĩa văn hóa. Tôi cho rằng âm nhạc truyền thống phải được trao đổi giữa hai nước, vì  không có nhiều người trình diễn nhạc này ở nước chúng tôi .”

Ông Tuyên nói ông có nhiều lý do biết ơn Molly hơn là thấy sự quan tâm của cô đối với âm nhạc cách mạng Việt Nam.

 “Hơn thế nữa, tôi rất muốn cảm ơn Molly vì cô đã bắc chiếc cầu cho tôi nối lại mối liên hệ với Pete Seeger”.

Ngày15 tháng 2, ông Tuyên đã nhận được lá thư có lời của 200 bài hát chống  chiến tranh  của Pete Seeger, và cả đĩa CD từ người nhạc sĩ và ca sĩ Mỹ này. Sau khi  nghe những câu chuyện quanh bài hát Gẩy đàn lên, hỡi người bạn Mỹ, Molly hứa sẽ giúp người nhạc sĩ Việt Nam tiếp xúc với Pete Seeger ở bên Mỹ, vì cha mẹ cô quen biết nhiều nghệ sĩ thế hệ đó.

 “Thật sửng sốt là Pete Seeger, đã nổi tiếng và hằng ngày nhận được nhiều thư từ, mà ông lại viết thư hồi âm cho tôi sau khi tôi tìm cách tiếp xúc với ông.” Molly nói, cô đã gửi cho Pete  bản dịch bốn bài hát của Phạm Tuyên.

Với việc Bob Dylan đã sắp sang Việt Nam để tưởng nhớ Trịnh Công Sơn, tình đoàn kết giữa các nghệ sĩ của thế hệ chiến tranh Việt Nam đã được thắt chặt .

Trong lá thư cuối cùng  gửi cho ông Tuyên, ông già Pete Seeger 92 tuổi viết: “Tôi đã mất giọng rồi, vậy mà tôi vẫn làm việc. Là những nhạc sĩ,nghệ thuật của chúng ta phải vượt qua rào cản ngôn ngữ và những khác biệt trong văn hóa hay chính trị để làm việc vì hòa bình”.

P.A.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: