Pham Ton’s Blog

Tháng Tư 4, 2014

Chúng tôi đã sống như thế: Tiếng nói cuộc đời

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 2:29 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 4 năm 2014.

CON ĐƯỜNG ÂM NHẠC CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

TIẾNG NÓI CUỘC ĐỜI

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 355 đến trang 363)

Nguyễn Ánh Tuyết

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọctrung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, Ba Tuyet va Tran Dang Khoacon dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhất là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngàyPham Tuyen _ Bac Ho 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

* Bạn đọc đã nhiệt tình theo dõi Chúng tôi đã sống như thế trên Blog PhamTon, tính đến 22 giờ ngày 1/4/2014bài Mang con đi học đã được 17.232 lượt truy cập; bài Đặc trưng tâm lý của trẻ có năng khiếu thơ đã được 13.127 lượt người truy cập.

*

*     *

Con đường âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Tuyên coi như chính thức bắt đầu khi anh phụ trách công tác Văn Thể Mỹ ở Khu Pham Tuyen Tran Long Anhọc xá Trung ương (tại Nam Ninh, Trung Quốc). Nhưng đóng góp của anh nhiều nhất và có hiệu quả nhất cho nền âm nhạc nước nhà là từ năm 1958, khi anh được điều về công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam và nhận nhiệm vụ chỉ đạo công tác âm nhạc trên làn sóng phát thanh, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cổ vũ quân và dân ta xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Hồi còn chỉ đạo các chương trình ca nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam, anh đặc biệt quan tâm đến các chương trình Tiếng hát gửi về Nam, rất vui mừng mỗi khi đón nhận những ca khúc của các nhạc sĩ từ miền Nam gửi ra, như Hồ Thuận An (Trần Hoàn), Thuận Yến, Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Trương Quốc Khánh… Anh chủ trương duyệt bài thật nhanh và đưa ngay xuống Đoàn Ca nhạc của Đài, cho dựng khẩn trương để kịp thời cổ vũ cuộc đấu tranh của đồng bào trong đó và động viên các nhạc sĩ phấn khởi viết bài gửi ra. Không những thế, anh còn để tâm chăm chút sửa chữa bài sao cho thật hay, thật hợp, vì anh nghĩ các nhạc sĩ trong đó vừa đánh giặc, vừa sáng tác, trong hoàn cảnh vừa khẩn trương vừa gian khổ, không có thời gian để trau chuốt, nắn nót bài hát của mình. Sau ngày miền Nam được giải phóng, khi gặp anh các nhạc sĩ ấy rất vui vẻ nhắc đến những kỷ niệm khó quên: Đó là trường hợp nhạc sĩ Trương Quốc Khánh gửi bài Tự nguyện, trong đó có đoạn: “Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng/ Nếu là hoa…/ Nếu là mây…/ Nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương”, anh bỏ ngay chữ “Nếu” để nghe cho tế nhị; nhạc sĩ Thuận Yến gửi ra bài Người mẹ miền Nam tay không đánh giặc, trong đó có câu: “Mẹ vẫn đi… Vũ khí mang theo là xác con mình… » anh liền chữa lại thành « Vũ khí mang theo là chiếc nón lành… » để nghe đừng quá dữ tợn, không đúnTran lamg với phong cách nhân hậu của phụ nữ Việt Nam, v.v… Anh là người chỉ đạo các chương trình « Khắp nơi ca hát » (từ năm 1960), sau trở thành phong trào « Tiếng hát át tiếng bom » trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Anh cũng là người đề ra cuộc thi Tiếng hát hoa phượng đỏ (từ năm 1977) trên sóng phát thanh được thiếu nhi cả nước hưởng ứng nhiệt tình. Năm 1978, anh được cử sang phụ trách Ban Văn nghệ Đài Truyền hình Việt Nam và cũng là người khởi xướng việc tổ chức Liên hoan Văn nghệ Truyền hình toàn quốc. Cùng thời gian này anh được giao nhiệm vụ phụ trách Hội đồng nghệ thuật của Ủy ban Phát thanh và Truyền hình Việt Nam, rồi sau đó chuyển sang làm chuyên viên cao cấp của Bộ Văn hóa – Thông tin. Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã là ủy viên Ban Thường vụ Hội nhạc sĩ Việt Nam liên tục trong 20 năm (1963-1983). Từ năm 1996 anh được bầu làm Tổng thư ký của Hội Âm nhạc Hà Nội, rồi lại tiếp thêm hai nhiệm kỳ nữa. Mặc dù anh đã thoái thác, xin không làm ở nhiệm kỳ thứ ba, nhưng toàn thể Đại hội X của Hội Âm nhạc Hà Nội (2005) nhất quyết không đồng ý để anh thôi, nên anh vẫn tiếp tục làm Chủ tịch Hội cho tới năm 2010 !

Nhưng con đường « công danh » của anh không phải là không gặp trắc trở. Do thành phần « bất lợi », anh thường bị cấp trên « cảnh giác », có người còn đặt vấn đề với đông chí Trần Lâm lúc đó là Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam tại sao lại để cho Phạm Tuyên « giữ tay hòm chìa khóa » về âm nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam, nơi mà lúc đó được coi là trung tâm âm nhạc lớn nhất của cả nước với hai nhiệm vụ quan trọng là đem tiếng hát động viên quân và dân ta trong công cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước thống nhất nước nhà và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, hậu phương lớn của miền Nam. Nhưng khi thấy anh luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, xứng đáng với trọng trách, cấp trên mới thực sự yên tâm, tin tưởng và đánh giá cao. Tuy vậy không đợt tăng lương nào lại không dính líu đến lý lịch của anh, cũng không có lần đề bạt nào mà gốc rễ gia đình anh lại không bị lôi ra. Cả những lần khen thưởng tuyên dương anh cũng gặp sự hẹp hòi, đố kỵ rất khó chịu và lại chịu thiệt thòi ! Anh phải thường xuyên gánh vác nhiệm vụ trọng trách nhưng luôn luôn chỉ giữ ở cái chức « phó », bởi anh không có « nhãn mác  thành phần cơ bản ». Khi thành lập Ủy ban Phát thanh và Truyền hình Việt Nam, mọi công tác về văn học nghệ thuật đều giao cho anh chỉ đạo nhưng anh chỉ nhận chức Phó Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật của Ủy ban Phát thanh và Truyền hình, còn cương vị Chủ tịch thì người khác nhận (chỉ là danh dự), mà đến chức « phó » nhiều khi cũng khó. Khi anh được cử sang phụ trách Ban Văn nghệ của Đài Truyền hình Việt Nam (1978), thấy anh vừa có uy tín vừa có năng lực chỉ đạo tốt, đồng chí Chủ tịch Ủy ban Phát thanh và Truyền hình Việt Nam định đề bạt anh là Phó Tổng Giám đốc của Đài Truyền hinh Việt Nam (tất nhiên không thể là « trưởng ») nhưng « cấp trên » đã cho chỉ thị : « Hãy để cậu ấy có nhiều thời gian mà sáng tác ! ». Thế cũng hay, cái chức « phó thường dân » thế mà cũng tạo cho anh tâm trạng thanh thản, lạc quan để sáng tác, để sống vui tươi đến ngày hôm nay. Đúng là trong cái rủi lại có cái may !

Ở bất cứ cương vị nào, nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng không tiếc công sức để lo cho nền âm nhạc nước nhà. Suốt cả cuộc đời anh phải phấn đấu không ngừng vượt qua muôn vàn trở ngại, hướng tới lý tưởng cao đẹp cho cuộc sống và cho nghệ thuật.

Riêng sáng tác ca khúc, trong công trình nghiên cứu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Tiến sĩ Âm nhạc Lê Văn Toàn, Viện trưởng Pham Tuyen chau be mau giaoViện Âm nhạc Việt Nam có nhận xét : « Âm nhạc của Phạm Tuyên có sự khúc chiết, rành rẽ mà vẫn ánh lên nét giản dị, dễ phổ cập. Có lẽ chính vì trong cái giản dị đã ẩn chứ những sâu sắc, lắng động của nội dung, của tư tưởng nên nhiều ca khúc của ông đã có sức sống lâu bền và được đông đảo công chúng yêu mến… ». Đạt được sự giản dị trong nghệ thuật không phải là dễ dàng. Thật vậy, đúng như Lâm Ngữ Đường – một triết gia hiện đại Trung Quốc đã nói : « Sự giản dị lại chính là biểu hiện của sự suy tưởng sâu sắc và là điều khó đạt được trong khoa học và văn chương ».

Ngoài việc sáng tác ca khúc, anh còn viết lý luận âm nhạc. Anh là tác giả của nhiều bài báo, nhiều cuốn sách nghiên cứu, phổ biến kiến thức âm nhạc, giới thiệu kinh nghiệm sáng tác ca khúc, bàn về cái hay, cái đẹp của âm nhạc đối với đời sống con người, nhất là việc giáo dục thị hiếu thẩm mỹ trong âm nhạc cho thế hệ thanh thiếu niên. Có thể điểm qua một số cuốn sách của anh mà nhiều người quan tâm đến vấn đề giáo dục âm nhạc đã từng biết đến, đó là : Nhạc lý cơ bản (1956), Ký âm pháp cơ bản (1960), Kinh nghiệm sáng tác ca khúc (1968), Các bạn trẻ hãy đến với âm nhạc (1982), Âm nhạc ở quanh ta (1987), Âm nhạc với trẻ em (2000)… Những năm sau này anh cùng với nhạc sĩ của Hội Âm nhạc Hà Nội (như Hồ Quang Bình, Hoàng Dương, Vũ Tự Lân…) nghiên cứu và cho ra mắt bạn đọc những cuốn : Tân nhạc Hà Nội đầu thế kỷ XX đến 1945 hình thành và phát triển (2002) ; Ca khúc Hà Nội thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI (2008).

Với vốn ngoại ngữ của mình, anh còn là người đã từng dịch lời những ca khúc nổi tiếng thế giới để giới thiệu với chúng ta Pham Tuyen van congnhư tập Ca khúc trữ tình, bao gồm trong đó các bài Mặt trời của tôi, Trở về Suriento. Ngoài ra anh còn dịch Hoàng Hà đại hợp xướng, Ca ngợi Tổ quốc, Hái chè bắt bướm… (Trung Quốc), Kachiusa (Nga)… Ở loại công việc này anh vẫn không quên đưa những bài hát trẻ em của các nước đến với trẻ em Việt Nam như là những món quà tinh thần được các em rất ưa thích. Đó là những bài : Nụ cười, Ở trường cô dạy em thế (Nga), những bài hát trong phim Doremon, Ai cũng thích Kamishibai (Nhật)…

Còn một công việc nữa, đó là việc làm giám khảo cho các cuộc thi sáng tác ca khúc chuyên nghiệp, mà nhiều nhất là các liên hoan ca hát quần chúng, một loại công việc mất khá nhiều thời gian, công sức. Anh thường giữ vai trò Chủ tịch Ban Giám khảo nên phải tập trung chú ý nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn trong khi xem biểu diễn. Thường sau khi các đoàn biểu diễn xong, các thành viên ban giám khảo dã có thể « phủi tay » ra về, riêng Chủ tịch phải làm báo cáo tổng kết về mặt nghệ thuật, nên anh lại phải cặm cụi viết báo cáo, nhiều lần thức qua trưa hay thâu đêm để viết cho kịp. Anh là người thận trọng trong lúc khen chê về nghệ thuật. Và « của đáng tội » nghe anh khen mọi người đều thấy thích thú, mà khi nghe anh chê mọi người lại càng thích thú hơn, bởi anh có cách nói dí dỏm nhưng thâm thúy và với thái độ trân trọng người diễn. Hơn thế, anh còn chỉ ra cách khắc phục để nâng cao chất lượng nghệ thuật cho các đoàn về dự lien hoan.

Trong bài Phạm Tuyên – Tiếng hát ngày chiến thắng (Tài trí Việt Nam, NXB Lao Động, 2005) nhà thơ Bế Kiến Quốc đã đưa ra nhận xét : « Phạm Tuyên là ngườPham Tuyen Nguyen Thanh Trungi say mê công việc, ưa hoạt động, cởi mở chân thành. Có thể khẳng định rằng anh là một nhạc sĩ đã đóng góp rất nhiều vào đời sống âm nhạc của chúng ta trên nhiều lĩnh vực mà anh hoạt động ».

Mọi người tiếp xúc với anh đều nhận xét : nhạc sĩ Phạm Tuyên là người giản dị dễ gần. Từ các cháu thiếu nhi đến các cụ già, những người lao động ở những nghề nghiệp khác nhau, khi gặp anh đều muốn tỏ mối thiện cảm đặc biệt. Có lẽ người ta nhìn thấy ở anh một thái độ khiêm nhường, đôn hậu và dễ thông cảm, một thái độ tự tin mà không kiêu ngạo đối với bất cứ ai, ở anh toát lên một tình cảm chân thực đối với mọi người.

Tôi còn nhớ vào khoảng năm 1986, nước ta vừa mới đổi tên thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một số đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước chủ trương phát động một cuộc thi viết quốc ca để thay cho bài quốc ca cũ. Thế là một phong trào toàn dân viết quốc ca diễn ra rất rầm rộ, lôi cuốn nhiều nhạc sĩ chuyên nghiệp cũng như nghiệp dư tích cực tham gia. Nhạc sĩ Phạm Tuyên không tham gia nhưng nhiều người muốn anh giúp đỡ để viết quốc ca, người thì gửi thơ đến nhờ anh phổ nhạc, người thì mang bản « quốc ca » vừa sáng tác xong để xin anh ý kiến. Một hôm có một lão nông khoảng gần 60 tuổi mang đến nhà tôi một bó mía và một bị sắn, nói là “bồi dưỡng” cho nhạc sĩ Phạm Tuyên để nhờ anh hướng dẫn viết quốc ca ! Anh phải kiên trì thuyết phục để cụ già thấy là việc hướng dẫn viết quốc ca là quá sức của anh và việc viết quốc ca là quá sức của cụ, vì viết quốc ca rất khó. Thấy anh nói phải cụ mới bằng lòng ra về.

(…)

Anh rất quan tâm và thường trăn trở với phong trào âm nhạc của giới trẻ, không những nói chuyện, viết sách hướng dẫn thị hiếu âm nhạc mà còn quan tâm đến sáng tác của họ. Nhiều bạn trẻ mang cả bài hát vừa sáng tác cho anh nghe để xin ý kiến. Họ hát say sưa, nhiệt tình đến nỗi có lần quên cả giờ ăn mà anh vẫn kiên nhẫn ngồi nghe mặc dù rất đói bụng. Thấy cả nhà sốt ruột chờ cơm, anh giục mọi người ăn trước đi, anh nói không nên dội gáo nước lã vào sự hào hứng của người ta, rồi lại tiếp tục ngồi nghe. Đi đến đâu anh cũng « bị phát hiện » với lòng hâm mộ nhiệt thành của công chúng và việc xin chữ ký, chụp ảnh diễn ra ở những nơi anh đi qua là điều rất bình thường. (…)

N.A.T.

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: