Pham Ton’s Blog

Tháng Tư 11, 2014

Chúng tôi đã sống như thế: Chuyện bây giờ mới kể

Filed under: Tìm hiểu Phạm Quỳnh — phamquynh @ 1:47 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 4 năm 2014.

CON ĐƯỜNG ÂM NHẠC CỦA NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ

(Trích sách Chúng tôi đã sống như thế từ trang 364 đến trang 374. Đầu đề là của chúng tôi.)

Nguyễn Ánh Tuyết

Lời dẫn của Phạm Tôn: Mở đầu năm 2014, chúng tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọctrung thành và yêu quí tác phẩm Chúng tôi đã sống như thế của PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết, con dâu học giả Phạm Quỳnh, người bạn đời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, do Nhà xuất bản Tri Thức xuất bản cuối năm 2013, năm Phạm Quỳnh tròn 120 tuổi.

Cuốn sách khổ 13×20, 5cm này dầy 420 trang. Đặc biệt sách này không bán.

Vì thế, chúng tôi cố gắng trích giới thiệu được càng nhiều, càng tốt, mong đáp ứng phần nào mong muốn tìm hiểu về nhạc sĩ Phạm Tuyên, Giải thưởng Hồ Chí Minh 2011, và nhấBa Tuyet va Tran Dang Khoat là tìm hiểu sâu hơn về Thượng Chi – Phạm Quỳnh một học giả lỗi lạc của lịch sử văn hóa dân tộc ta thời kỳ đầu thế kỷ XX.

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu mùa xuân năm nay (2007) chúng tôi tổ chức đám cưới vàng, khi mà chồng tôi – Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã bước sang tuổi “đầu bảy” (71 tuổi), đều thất thập cổ lai hy” cả. Anh sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, còn tôi sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936.

Có quá nhiều kỷ niệm với biết bao biến cố, sóng gió, thăng trầm của cuộc đời, giờ đây như một bộ phim dài nhiều tập lần lượt hiện lên màn hình của chiếc máy vi tính với bàn tay gõ phím, đẩy chuột của một bà lão hơn bảy mươi tuổi.

Thời gian trôi thật quá nhanh, chẳng ai có thể níu kéo lại được, mà cũng chẳng cần níu kéo lại làm gì, vì nó đã để lại biết bao ấn tượng vui sướng và đau buồn, thành công và cả thất bại. Nhưng bao trùm lên tất cả là lòng tự hào và niềm hạnh phúc, bởi hơn bảy chục năm qua chúng tôi đã sống hết mình vì cuộc đời này.

* Bạn đọc đã nhiệt tình theo dõi Chúng tôi đã sống như thế trên Blog PhamTon, tính đến 8 giờ ngày 9/4/2014bài Mang con đi học đã được 17.233 lượt truy cập; bài Đặc trưng tâm lý của trẻ có năng khiếu thơ đã được 13.128 lượt người truy cập.

*

*     *

Anh luôn luôn trân trọng lẽ phải, có óc cầu tiến, học hỏi để không bao giờ bị tụt hậu trước thời cuộc. Nhiều người coi anh là người uyên thâm, vốn tri thức sách vở cũng như vốn hiểu biết cuộc sống ở anh đều sâu rộng và luôn luôn cập nhật, họ nói “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”! Do hoàn cảnh bất lợi khi bước vào đời, bước vào một nghề nghiệp quá tinh vi – Âm nhạc – đòi hỏi người hành nghề phải được học hành, được đào tạo công phu trong nhiều thời gian. Nhưng Phạm Tuyên đâu có được diễm phúc đó như nhiều nhạc sĩ khác! Đầu thập kỷ những năm 60 của thế kỷ trước, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật cử hai nhạc sĩ trẻ là anh và Trọng Bằng đi tu nghiệp âm nhạc tại Liên Xô. Hai người đã bàn tính với nhau những công việc cần thiết cho chuyến du học, như ôn tập đàn piano, bàn về quần áo, người thì mang “bộ nghiêm” (màu thẫm) người thì mang “bộ nghỉ” (màu nhạt) để đổi nhau… Thế nhưng đến phút cuối cùng tên anh bị rút khỏi danh sách lưu học sinh, chỉ vì cái lý lịch của anh “có vấn đề”. Ở đây trong cái rủi cũng lại có cái may! Anh không được học ở Tây hay ở Tàu gì cả mà chỉ tự học lấy thePham Tuyen doc sach Thuong Chi Van Tapo nhu cầu của mình, theo cách thức của mình, nên tác phẩm của anh không bị ảnh hưởng nặng nề bởi thầy Tàu hay thầy Tây nào cả mà mang bản sắc của riêng mình. Anh tâm niệm để sống thực sự có ích cho đất nước, cho nhân dân cần phải đứng vững trên đôi chân của mình và anh đã tự học, tự rèn luyện, tự đào tạo để đến nay gia đình và xã hội có được một nhạc sĩ Phạm Tuyên đã cống hiến cho cuộc sống biết bao tác phẩm có giá trị. Nhạc sĩ Văn Dung thường nói: “Mỗi nhạc sĩ chỉ mong có một vài bài hát của mình được nhiều người biết đến là hạnh phúc lắm rồi, nhưng anh Phạm Tuyên lại có rất nhiều ca khúc được đông đảo công chúng hâm mộ!”.

Đến nay tuy tuổi đã nhiều, nhưng anh vẫn thường xuyên tự học, ở anh cái sự học dường như không bao giờ chấm dứt và cái “đôi chân” suốt đời anh phải dựa vào dường như không bao giờ mỏi mệt.

Anh có một “thói”, nếu có thể gọi như vậy, đó là “thói” nghe đài “hơi bị nhiều”. Mỗi lần đi đâu về, chưa kịp thay quần áo đã vội bật Đài Phát thanh cũng như truyền hình. Ở nhà anh nghe đài liên miên, các bản tin sáng, trưa, chiều, tối, đêm… anh đều nghe tất, nghe không mệt mỏi, anh thường vừa làm việc vừa nghe phát thanh lại vừa “nghe” truyền hình, có khi vừa nghe phát thanh và vừa xem truyền hình. Anh còn muốn theo dõi nhiều kênh truyền hình cùng một lúc nên cứ thay đổi kênh liên tục, giá có được một chiếc tivi nhiều màn hình thì hay biết mấy! Có lẽ vì anh làm việc quá lâu ở “nhà đài” (gần 30 năm) nên không thể dứt bỏ Đài được.Anh còn đọc rất nhiều sách báo và ngày nào cũng truy cập internet hàng giờ. Nếu ở anh có tính tham lam thì đó là tham lam thông tin!

Pham Tuyen tham Dien Bien PhuNói về thói quen thì anh có một thói quen “hơi lạ” nữa là sáng tác nhạc trong thinh lặng! Mỗi lần sáng tác bài hát anh không đánh đàn hay hát lên thành âm thanh bài ca của mình mà thường nằm thật im lặng! Nhiều lần đi thực tế sáng tác cùng với các nhạc sĩ khác, đến nơi khi sáng tác bài hát, người thì gõ nhịp, người thì đánh đàn, người thì hát lên những giai điệu đang hình thành nghe thật vui… Riêng anh lại thinh lặng lên giường nằm rất sớm, mọi người cứ tưởng anh mệt nên phải đi ngủ. Nhưng không phải, anh đang sáng tác! Chính những lúc nằm im như thế, những giai điệu, những tiết tấu lại hiện lên trong đầu, đến khi hòm hòm gần xong bài hát anh mới đánh đàn lên thành âm thanh hoặc nhiều lần rủ tôi hát cùng để nghe xem bài hát hiện lên cả nhạc lẫn lời như thế nào, cần sửa đổi, điều chỉnh gì không. Lẽ dĩ nhiên tôi sẵn sàng hát theo ngay vì hồi hộp muốn biết sáng tác của anh và cũng là để “thẩm định” bước đầu.

Vào dịp 30 tháng 4 năm 1995, báo Người lao động (thành phố Hồ Chí Minh) tặng anh cùng một số nghệ sĩ nổi tiếng như nhà văn Nguyễn Thi, soạn giả cải lương Trần Hữu Trang, Nghệ sĩ Nhân dân Quốc Hương… một cái khánh trên có dòng chữ mạ vàng “Ấn tượng 20 năm”. Trong buổi lễ trao khánh, nhạc sĩ Phạm Tuyên lên nhận nhưng không phải cùng với những nghệ sĩ kể trên mà cùng với người thân của họ, vì những nghệ sĩ ấy đã mất, khiến anh rất xúc động.

Trong những phần thưởng được anh giữ gìn cẩn thận có rất nhiều huy chương của các ngành và các đoàn thể lớn nước ta tặng anh như: huy chương Vì thế hệ trẻ, huy chương Vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, huy chương Vì sự nghiệp công đoàn, huy chương Vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ trẻ em, huy chương Vì sự nghiệp phát thanh và truyền hình, huy chương Vì sự nghiệp giáo dục, huy chương Vì sự nghiệp văn nghệ Việt Nam, huy chương Vì sự nghiệp văn hóa quần chúng, v.v… như một bộ sưu tập khá phong phú. Đây mới chính là phần thưởng đích thực của nhân dân, của cuộc đời trao cho anh.

Hoi thao chiec gay truong sonTình cảm và sự hâm mộ của nhân dân đối với nhạc sĩ Phạm Tuyên được thể hiện qua hàng trăm bức thư của các cháu thiếu nhi, của bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân, nông dân… gửi tới anh. Sau đây là một đoạn trong bức thư của một cựu chiến binh:

“…Từ suy nghĩ của mọi người tuy không nói ra – song nhân dân ta ai cũng đều công nhận có sự đóng góp tài tăng và công đức của nhạc sĩ Phạm Tuyên, người đã tự trang bị cho mình “Chiếc gậy Trường Sơn” đã cùng anh lính cụ Hồ ra đi đánh Mỹ cứu nước giành toàn thắng mà vang lên bài ca “Như có Bác trong ngày đại thắng”, đó là thứ tình người vô hình và vô giá của một con người có tâm huyết với dân tộc, luôn nặng tình, nặng nghĩa”.

…nhạc sĩ Phạm Tuyên chưa được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động hoặc là danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân thì quả là thiệt thòi cho người nhạc sĩ có đức và đầy sáng tạo như ông Phạm Tuyên! Thưa nhạc sĩ Phạm Tuyên: – Dù thế nào đi chăng nữa thì trong lòng mến mộ của người dân Việt Nam hiện tại và mãi mãi muôn đời con cháu chúng ta vẫn ngân nga lời ca tiếng hát do nhạc sĩ Phạm Tuyên đã sáng tác để lại trong lòng người một dấu son đậm nét đáng yêu và sẽ không bao giờ bị phai mờ…” (Trích thư của ông Trương Hữu Đông – Hội Người cao tuổi cụm dân cư 1 – B12 – Thủ Lệ I, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình- Hà Nội, ngày 7 tháng 9 năm 2001).

Trong những lần đi về cơ sở, đến đâu người ta cũng nhận ra anh, người nhạc sĩ thân thiết của họ – nhạc sĩ Phạm Tuyên – với ánh mắt và nụ cười đầy thiện cảm. Có một lần đến Pham Tuyen ky luu niem o Hoi AnHuế, gặp dịp người ta tổ chức du thuyền trên sông Hương cho các đoàn du khách từ nhiều tỉnh tới, Ban tổ chức mời nhạc sĩ cùng đi. Trước khi xuất phát, trưởng ban tổ chức trịnh trọng giới thiệu các vị đại biểu, nào là Chủ tịch, Bí thư, Giám đốc tổng công ty, Hiệu trưởng các trường Đại học… họ có hỏi anh nên giới thiệu anh với chức vụ hành chính hay danh hiệu nghệ thuật gì, anh chỉ cười mà nói: “Cứ giới thiệu tôi là nhạc sĩ thôi”. Lúc giới thiệu đến lượt anh thì người tổ chức bỗng cao giọng: “Đây là nhạc sĩ Phạm Tuyên – nhạc sĩ của nhân dân!”.Phải chăng đó là danh hiệu mà nhân dân trao tặng cho anh? Và thật kỳ lạ, cái danh hiệu ấy không chỉ nghe được ở Huế mà khi về một số địa phương khác người ta cũng gọi anh là “Nhạc sĩ của nhân dân”.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã từng được đón tiếp và ca ngợi trong nhiều buổi gặp gỡ ở các địa phương. Đêm ngày 16 tháng 8 năm 2001, trong buổi giao lưu, giới thiệu tác phẩm của nhạc sĩ Phạm Tuyên với thanh thiếu niên tại Trung tâm Văn hóa tỉnh Đăk Lăk là một ví dụ. Đêm giao lưu đó, đồng chí Hoàng Chuyên, Giám đốc Trung tâm đã phát biểu:

“…Với chúng tôi- những người yêu nhạc Đăk Lăk còn hiểu và cảm nhận nhạc sĩ Phạm Tuyên là nhạc sĩ của mình, nhạc sĩ của nhân dân, nhạc sĩ của cách mạng, nhạc sĩ của phong trào và nhạc sĩ của tuổi thơ”.

“Những ca khúc của nhạc sĩ Phạm Tuyên có sức lay động, truyền cảm mãnh liệt, dễ đi vào lòng người, được công chúng yêu thích và trường tồn vĩnh cửu trong lòng các thế hệ thanh thiếu niên. Hàng triệu người hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” chỉ là một ví dụ mà thôi bởi anh còn có hàng trăm ca khúc khác viết về nhiều mảng đề tài, nhiều lĩnh vực mà những thập kỷ qua cho đến hôm nay vẫn xanh tươi trong đời sống âm nhạc của chúng ta. Anh thực sự là nhạc sĩ của nhân dân, vì nhân dân”.

“… Nhạc sĩ Phạm Tuyên là nhạc sĩ – chiến sĩ bởi anh có mặt trên khắp các chiến trường, động viên cổ vũ nhiều lĩnh vực sản xuất chiến đấu… Công trường, xưởng máy, hầm thanOng Tuyen o Dac Lac ở đâu cũng có bước chân của anh. Đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sức mạnh ca khúc của anh như những sư đoàn thôi thúc hàng vạn chiến sĩ lạc quan chiến đấu cho lý tưởng cao đẹp, cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội… Dường như ở mỗi thời điểm lịch sử anh lại dựng lên ngọn cờ, gióng lên tiếng chuông lôi cuốn cổ vũ lớp thanh niên phấn đấu cho sự nghiệp Cách mạng… Đối với Đăk Lăk anh đã viết bài “Vợ chồng H’Nhí về buôn mới” rồi “Màu xanh Đăk Lăk” và đặc biệt “Chú voi con ở Bản Đôn” đã là khúc hát yêu thích của nhiều người bản dân. Cứ theo tiêu đề của bài hát thì ta đã gặp anh ở trên rừng, dưới biển, hầm than, nhà máy, đồng chiêm, lên biên giới, ra hải đảo và trên cung đường Trường Sơn bom đạn ác liệt, ở đâu cũng có bước chân anh; bởi thế anh luôn là nhạc sĩ chiến sĩ cách mạng… Uy tín và hoạt động không mệt mỏi của anh đã góp phần thiết thực xây dựng và phát triển nền âm nhạc nước nhà”.

Trong bài viết “Phạm Tuyên – Nhạc sĩ của nhân dân” (Những người lao động sáng tạo của thế kỷ, NXB Lao Động, 2003), tác giả Diệu Ánh cũng đưa ra nhận định: “Tài năng và đức độ, hai cái đó đã kết tinh vào con người Phạm Tuyên mà hình thành nên một nhân cách sáng tạo trong suốt chặng đường dài để rồi sản sinh ra những tác phẩm nghệ thuật vô giá ngân vang mãi trong lòng mọi người. Anh thật xứng đáng được gọi là Nhạc sĩ của nhân dân”.

Không hiểu duyên số thế nào mà nhiều người hay gắn tên tuổi nhạc sĩ Phạm Tuyên với tên tuổi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Trên báo Tiền Phong vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước đã có bài báo ca ngợi hai nhạc sĩ được giới trẻ của hai miền Nam Bắc nước ta hết sức ngưỡng mộ, đó là Phạm Tuyên và Trịnh Công Sơn. Rồi trong một chương trình của Đài Truyền hình Hà Nội có tiêu đề là Một cõi đi về đã phác họa chân dung của bốn nghệ sĩ nổi tiếng luôn gắn bó với quê hương đất nước dù trong hoàn cảnh nào. Đó là nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị, nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Văn Khê và hai nhạc sĩ tài ba là Phạm Tuyên và Trịnh Công Sơn. Dù ở ngoài nước hay ở trong nước thì tâm hồn họ vẫn thấm đượm tâm hồn Việt Nam. Chương trình truyền hình đó đã được tặng giải trong đợt Liên hoan truyền hình toàn quốc năm 2004.

Nhớ lại những ngày đầu mới giải phóng, Phạm Tuyên gặp Trịnh Công Sơn trong một hoàn cảnh đầy khó khăn ở Huế, qua những lần trò chuyện tâm sự với nhau, sau đó Trịnh Công Sơn nói với một người bạn ở Đài Truyền hình một nhận xét khá tinh tế: “Phạm Tuyên đúng là một kẻ sĩ Bắc Hà”. Anh lại còn thổ lộ một chuyện riêng tư thú vị là suýt nữa thì anh trở thành cháu rể của nhạc sĩ Phạm Tuyên, gọi nhạc sĩ Phạm Tuyên bằng cậu ruột! Thế mới hay quả đất tròn! Sau đó, tại Sài Gòn, mỗi lần từ Hà Nội vào, Phạm Tuyên thường tới thăm Trịnh Công Sơn. Những lúc gặp nhau, Trịnh Công Sơn thường đem tác phẩm mới viết của mình, trong đó có bài Huyền thoại mẹ, “khoe” với Phạm Tuyên, và sự đồng cảm về nghệ thuật giữa hai con người ấy được nhân lên. Ngày Trịnh Công Sơn mất, Phạm Tuyên vô cùng đau buồn, anh viết ngay bài báo Lời chia buồn từ Hà Nội, rồi bỏ mọi việc để vào thành phố Hồ Chí Minh tiễn đưa Trịnh Công Sơn về nơi an nghỉ cuối cùng.

Pham Tuyen_Trinh Cong SonMới gần đây thôi, trên báo Thanh Niên ra ngày 29/12/2007, nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam, trong bài “Âm nhạc của tình yêu lớn”, nhà thơ Thanh Thảo đã viết: “…Có thể nói mà không sợ quá, nếu không có âm nhạc yêu nước, yêu dân tộc trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, thì không thể có thắng lợi cuối cùng đầy tình yêu và lòng nhân ái của cuộc kháng chiến ấy. Vì âm nhạc là tiếng nói của con tim, của tâm hồn người Việt Nam yêu nước, yêu quê hương và thiết tha với những lẽ sống còn của dân tộc. Có Phạm Tuyên ở miền Bắc và có Trịnh Công Sơn ở miền Nam, họ khác nhau nhưng vô cùng gần nhau ở tình tự dân tộc…” Và trước đó, nhà thơ Thanh Thảo cũng đã có nhận xét đăng trên báo Thanh Niên rằng nhạc của hai nhạc sĩ đó đều rất hay nhưng lại rất khác nhau, mỗi người một vẻ. Nghe nhạc Trịnh Công Sơn ta thấy buồn, nhưng đọng lại là một sự hài lòng với cuộc đời. Ngược lại, nghe nhạc Phạm Tuyên ta thấy nhẹ nhàng, trong sáng, ẩn chứa một niềm tin, nhưng lại là một niềm tin vượt lên những khó khăn của số phận. Đó là một nhận xét rất tinh tế và sâu sắc.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết: “Cuộc đời Phạm Tuyên là một pho tiểu thuyết bề bộn với nhiều cung bậc. Có thể tóm tắt bằng hai câu thơ xuất thần của Phạm Tiến Duật, một trong những thính giả rất yêu âm nhạc của ông:

Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng

Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay

Cái khả năng không phải ai cũng có được của Phạm Tuyên là biến nỗi đắng trong cõi lòng mình thành sắc hoa vàng cho người đời chiêm ngưỡng. Ngắm sắc vàng lộng lẫy ấy, chẳng ai còn thấy vị đắng đâu nữa, lại ngỡ như không hề có nỗi cay đắng trong cõi đời này”.

Lúc sinh thời, mỗi khi gặp nhạc sĩ Phạm Tuyên, nhà thơ Phạm Tiến Duật thường ôm chầm lấy nhạc sĩ thật chặt mà nói: “Em mến anh kinh khủng!”. Đó chính là tấm lòng và sự thông cảm của Phạm Tiến Duật đối với cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của Phạm Tuyên.

Như một cái duyên định trước, nhà thơ Phạm Tiến Duật nhận ngay làm người giới thiệu cho đêm nhạc của Phạm Tuyên tại Nhà hát lớn có tiêu đề Vầng sáng Hà Nội tháng 12/2002, nhân ngày kỷ niệm 30 Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không. Và chính anh là người đã mang bản trường ca của Erik Stinus, một nhà thơ nổi tiếng của Đan Mạch, với nhan đề khá đặc biệt Phạm Quỳnh và câu chuyện còn tiếp tục trong lần đi công tác vào 7/1997. Ở Đan Mạch về, anh đã trao bản trường ca cho Phạm Tuyên như một món quà vô cùng quý báu. Phạm Tiến Duật cho biết là anh đã dời lại ngày về nước để lấy được một bản dịch thô ra tiếng Anh với những câu mở đầu rất ấn tượng: “Chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta đã sai lầm đối với Phạm Quỳnh. Chúng ta không nên gọi ông là kẻ phản bội như trên những tờ truyền đơn hoặc bích trương… Xin hãy quan sát việc làm của ông ta như nhận xét công việc của bản thân mình…”. Bản trường ca này dài trên 300 câu và chỉ là một sự tưởng tượng của nhà thơ, nhưng lại rất gần với nhân cách của cụ thân sinh nhạc sĩ Phạm Tuyên. Sau này, qua bà chị của anh ở bên Pháp, Phạm Tuyên đã liên lạc được với nhà thơ Erik Stinus. Nhà thơ đã cho biết rằng ông đã từng sang Việt Nam ba lần, một lần để kỷ niệm 600 năm Nguyễn Trãi, đã gặp Tướng Giáp và một số lãnh đạo nước ta. Ông rất ngạc nhiên khi nghe nhiều nhà văn, nhà văn hóa Việt Nam nhắc tới học giả Phạm Quỳnh với lòng cảm phục và thông cảm cho bi kịch lịch sử mà học giả phải chịu đựng.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã có ý định sẽ chuyển bản trường ca này thành trường ca bằng tiếng Việt để mọi người cùng đọc. Nhưng công việc chưa kịp làm thì anh đã vội ra đi! Ngày đó nhạc sĩ Phạm Tuyên vô cùng thương tiếc mà than rằng: “Tôi lại mất một bạn thơ yêu nhạc!”. Đó cũng là nhan đề một bài viết của anh đăng ở Tuần báo Văn Nghệ đúng vào những ngày tang lễ nhà thơ Phạm Tiến Duật.

N.A.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: