Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 23, 2014

Phạm Quỳnh và việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:56 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 5 năm 2014.

 

PHẠM QUỲNH VÀ VIỆC BẢO TỒN VÀ

PHÁT HUY VĂN HÓA DÂN TỘC

 

Gs Phạm Thị Nhung

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần chúng tôi trích trong bài thuyết trình nhan đề Cô Kiều với Phạm Quỳnh của Gs Phạm Thị Nhung đọc tại Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tổ chức tại Paris (Pháp) ngày 20-12-1992. Nhan đề là của chúng tôi

*

*        *

Phạm Quỳnh bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc bằng cách:

– Thiết lập mục “Tồn Cổ Lục” :

Để bảo tồn vốn liếng văn hoá của tiền nhân, Phạm Quỳnh cho lập mục “Tồn Cổ Lục” và giao cho hai cụ Trần Văn Ngoạn và Nguyễn Hữu Tiến thực hiện.

Nhóm Nam Phong vừa tự thâu góp vừa kêu gọi cả độc giả giúp sức, cốt đem ra được những áng văn nôm của các nhà nho ta xưa, chọn lọc, phiên âm ra quốc ngữ để giới thiệu, “lạm bình” cho rõ được cái hay, cái đẹp của văn chương tiền nhân.

“Nước ta ngày xưa nghề xuất bản không thịnh hành, nên thơ văn cũ mất đi nhiều lắm, hiện nay ai nhớ được ít nào là còn mà thôi. Thực là đáng tiếc thay. Cái tinh thần của tổ tiên mai một đi cũng vì đấy. Bản báo lấy làm một việc nghĩa vụ mà cứu vớt lấy những tàn biên đoạn giản của đời trước. Mong các bạn đọc báo giúp cho.” (NAM PHONG, tháng 10-1917).

– Khởi thảo Việt Nam Tự Điển.

Khi vừa ở Pháp về, Phạm Quỳnh nhân danh tổng thư ký Hội Khai Trí Tiến Đức, đã hô hào anh em cấp thời khởi thảo bộ Việt Nam Tự Điển này.

Mười vị trong hội đã được bầu ra để thực hiện, gồm : Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Đỗ Thận, Nguyễn Văn Luận, Phạm Huy Lục, Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục.

Trong bài Việc Khởi Thảo Một Bộ Việt Âm Tự Điển ( Nam Phong số 74, tháng 7-1923), Phạm Quỳnh đã trình bầy lý do :”.. . Để mong đường tự lập thời việc cần thiết nhất là kiểm điểm hết của cải của mình, lập thành cái sổ cho tường, cho đủ, cái sổ quốc âm ấy tức là quyển tự điển .. .”

Sau đó ¨Phạm Quỳnh đã đích thân vạch ra mấy tiêu chuẩn về việc nhặt chữ, thích nghĩa, và dẫn thí dụ để anh em cùng theo đó mà thi hành.

Riêng việc dẫn thí dụ, theo Phạm Quỳnh, lấy từ tục ngữ, ca dao và thi văn cũ mới của ta, càng nhiều càng hay vì “Bộ tự điển này vừa phải là một cái kho văn chương quốc âm nữa và sẽ được dùng làm vật liệu để xây dựng quốc văn.”

Cuối cùng, năm 1931 bộ

Việt Nam Tự Điển

Hội Khai Trí Tiến Đức Khởi Thảo

đã ra đời, gây được lợi ích thiết thực và niềm hãnh diện cho quốc dân. Nhà văn Phan Khôi đã phê bình trong Tạp chí Phụ Nữ Tân Văn, số ra ngày 17 tháng 3 năm 1932 :

“Đôi ba chục năm nay, sĩ phu ta có một cái sỉ nhục khó chịu là một thứ tiếng nói hơn hai mươi triệu người mà không có tự điển của người bản quốc làm ra cho thật đứng đắn. Nhiều khi có người ngoại quốc nào hỏi ta điều ấy thì ta hay bị lúng túng với họ quá, mà trả lời bề nào cũng không xuôi. Nhờ Hội Khai-Trí Tiến-Đức, may ra về sau khỏi bị cái sỉ nhục này cũng đỡ lắm.”

– Tuyên truyền cho tục ngữ, ca dao và Truyện Kiều.

Phạm Quỳnh không chỉ bảo vệ tiếng Việt, mà ông còn cố “gạn đục khơi trong”, tìm cho ra đâu là những ưu điểm của tiếng mẹ đẻ, và đâu là những giá trị xuất sắc của văn chương truyền khẩu và văn chương chữ nôm của ta, rồi giới thiệu, tuyên truyền, khoa trương lên để phát huy văn hoá dân tộc, cốt thuyết phục cùng làm khơi dậy lòng tin yêu của người dân vào tiếng nói và vào văn chương quốc âm ta.

Cho đạt bằng được mục đích đó, Phạm Quỳnh vừa sử dụng báo chí vừa diễn thuyết. Theo ông, “diễn thuyết là một lợi khí của văn minh” mà lại có hiệu quả “mau (và) mạnh” (Bàn Về Diễn Thuyết, 1921, Thượng Chi Văn Tập, tập III).

* Ca ngợi tiếng Việt và văn chương truyền khẩu qua tục ngữ, ca dao :

Hồi tháng 4, năm 1921, Phạm Quỳnh đến diễn thuyết về tục ngữ, ca dao tại Hội Trí Tri. Sau khi định nghĩa và cho biết tục ngữ, ca dao khác nhau thế nào, Phạm Quỳnh đem phân tích và chứng minh từ nội dung phong phú đến hình thức đa dạng, tài tình của loại văn chương truyền khẩu bình dân này, ông đi đến kết luận :

“Mục đích tôi trong bài diễn thuyết này là muốn chứng tỏ rằng tiếng quốc âm ta phong phú là dường nào, và cái văn chương truyền khẩu của ta thanh thú biết bao nhiêu. Tiếng Việt Nam ta hay lắm các ngài ạ. Người ngoại quốc cũng phải khen là một thứ tiếng êm như ru, vui như hát, mỗi vần đánh ra năm dấu đọc thành sáu giọng khác nhau, như trong cung đàn vậy, tưởng không có mấy thứ tiếng hoà bình, êm ái bằng tiếng ta. Vậy thời bọn ta phải nên trân trọng lấy cái quốc âm quý báu ấy, ra công tập luyện trau dồi cho mỗi ngày một hay một đẹp hơn lên. Dù ta học chữ Tây hay chữ Tàu, ta cũng chớ nên quên bỏ tiếng tổ quốc, là cái tiếng từ khi lọt lòng ra đã học nói, và đến khi hấp hối chết cũng còn nói. Ta nên nhớ lấy câu ca dao nước nhà :

Ta về ta tắm ao ta,

Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn.. .”

* Tuyên truyền những cái hay cái đẹp của Truyện Kiều.

Năm 1919 trên báo Nam Phong số 30, Phạm Quỳnh đã đem cái sở đắc về phương pháp phê bình khảo cứu của văn học thái tây để phân tích Truyện Kiều, một kiệt tác phẩm văn chương chữ nôm của cụ Nguyễn Du , từ khi ra đời (đầu thế kỷ XIX) đến nay vẫn được từ vua quan trí thức đến hạng dân giả quê mùa đều ưa thích. Theo họ Phạm, phải dùng phương pháp đó “mới mong phát huy được cái đặc sắc, bày tỏ được cái giá trị của một nền tuyệt tác trong quốc văn An Nam ta.”

Kết quả hiển nhiên, Phạm Quỳnh đã phát hiện ra được những nét độc đáo về nghệ thuật của Truyện Kiều, thôi thì từ cách kết cấu điểm xuyết khéo léo đến lời văn điêu luyện, ý tứ thâm trầm. Từ nghệ thuật tả người, tả cảnh đến tâm lý cô Kiều đều là tuyệt bút .. .

“.. . Truyện Kiều thật là đủ các lối văn chương, mà lối nào cũng tới cực điểm, mỗi lối một vẻ, lối nào cũng là ‘mười phân vẹn mười’.. .”

Và theo Phạm Quỳnh, “có lẽ không văn chương nào có quyển truyện, bộ thơ mà phổ cập bằng Truyện Kiều ở nước ta”, bởi không những văn chương nghệ thuật nó hay, lại phản chiếu được tâm sự của con người ta mà còn là quyển sách cao thượng.

“Không đâu có quyển sách nào vừa cao thượng đủ cảm được người học thức, vừa giản dị đủ cảm được kẻ bình dân như Truyện Kiều

Cũng vì nhận thấy tiếng mẹ đẻ có liên hệ mật thiết với sự tồn vong của dân tộc :“có quốc âm mới có quốc hồn, có quốc hồn nước mới sống được”, từ đó Phạm Quỳnh đã nhìn ra được cái công to của Nguyễn Du qua Truyện Kiều đối với nước nhà :

Truyện Kiều giúp cho quốc âm được trường tồn vì “người nước ta, ai là người không thuộc ít nhiều câu trong Truyện Kiều .. . không ai là người không ưa thích Truyện Kiều .. .”

Lại nữa, “nay nhờ cụ Nguyễn Du mà hương hoả của tổ tiên ta để lại, thêm được một hạt trân châu vô giá, đủ bổ cứu cho sự nghèo nàn của giống nòi ta ; hạt trân châu ấy là cái áng phong tình kiêm tiết nghĩa của nàng Kiều vậy, (và) Cụ Tiên Điền ta cũng đã dựng nên cái nhà vàng cho nàng Kiều ở thì đủ biết Cụ là một tay thơ tài, và tài liệu của ta nếu khéo biết dùng cũng không phải là không sung túc.”

Như thế, mặc nhiên đối với Phạm Quỳnh, Cụ Nguyễn Du đã thi hành được cái sứ nạng của một bậc “quốc sĩ”, phá được cho dân tộc cái nghi án thiên cổ “tiếng ta nghèo”.

Cụ Nguyễn Du còn là vị sứ giả làm vẻ vang cho nòi giống trên trường văn hoá quốc tế (trong phần Phạm Quỳnh so sánh Truyện Kiều với những tác phẩm nổi tiếng của Trung Hoa, của Pháp).

Bởi những lẽ đó, Phạm Quỳnh đã để thoát ra những lời tán tụng Nguyễn Du một cách hăng say, nồng nhiệt :“Những nhà có công với quốc văn như Cụ Tiên Điền, sự trạng nên công bố cho quốc dân biết” và “một người đã có công với quốc văn như Cụ thật đáng lưu danh thiên cổ và đáng cho quốc dân sùng phụng muôn đời như một ông thánh trong nước vậy.”

Từ hậu ý muốn minh chứng cái “sung túc” của tiếng Việt, cái giá trị trác tuyệt của văn quốc âm qua Truyện Kiều của Nguyễn Du để phát huy văn hoá dân tộc, Phạm Quỳnh sau khi thuyết phục, không quên đưa ra lời kêu gọi đồng bào hãy thương lấy tiếng nước mẹ, mà ra công vun đắp cho nó :

“Lạ thay, tiếng An nam ta nhiều người chê là nghèo nàn, non nớt, thế mà Truyện Kiều thời rõ ra là một áng văn chương lão luyện, tưởng có thể so sánh với những hàng kiệt tác trong các văn chương khác mà không thẹn vậy. Đủ biết rằng tiếng ta cũng đủ phong phú, nếu khéo luyện tập cũng làm nên văn chương hay, chẳng kém gì tiếng nước khác chớ không phải như nhiều người tưởng lầm là một thứ tiếng bán khai, đành lòng bỏ đi để đem công mà học văn chương nước khác.

.. . “Sau Truyện Kiều cũng không có văn nào bằng văn Kiều, đủ biết nước ta xưa nay khinh thường văn quốc âm không chịu tập, bỏ phí mất cái lợi khí thiên nhiên của tạo hoá đã phú-dụ cho người mình để mở mang cho giống nòi được tiến hoá.

“Người trước đã xao nhãng, người sau nên chăm chút cho hồn Cụ Tiên Điền ta dưới chín suối không đến nỗi ngậm ngùi than rằng đời sau không có kẻ kế nghiệp.”

Một năm sau, Phạm Quỳnh lại đem Truyện Kiều ra diễn thuyết ở Hội Trí Tri :

“Đêm hôm 26 (tháng 8-1920), ông Phạm Quỳnh là chủ bút bản chí lại đến diễn Kim Vân Kiều. Người đến nghe rất đông .. . Diễn xong thì vừa đúng hai giờ đồng hồ mà người nghe không chán ; thế đủ biết rằng Truyện Kiều là hay, mà nhà diễn lại tài .. .

“Sự diễn thuyết .. . công hiệu, giúp đường khai hoá tưởng không nhỏ vậy.”(Việc Diễn Thuyết Hội Trí Tri, Thời Đàm, Nam Phong, số 38, tháng 8-1920).

Năm 1922, Phạm Quỳnh đi Pháp du thuyết, khi nói về những vấn đề liên quan đến văn hoá dân tộc như “Sự tiến hoá của tiếng An Nam” hay “Thi Ca Việt Nam”, Truyện Kiều và ca dao lại được Phạm Quỳnh đem ra để phô trương và minh chứng rằng Kim Vân Kiều truyện chữ nôm của Nguyễn Du đủ tỏ dân tộc Việt Nam đã từng có “một nền văn chương kiệt tác, đủ chứng rằng tiếng An Nam cũng có văn chương là dường nào, và vào tay một người làm văn có tài thời biết lợi dụng đến đâu.”

Còn văn chương nôm của dân gian, phần nhiều là văn chương truyền khẩu, có lẽ cũng phong phú vào bậc nhất nhì trong thế giới .. . đủ chứng tỏ một thứ tiếng diễn được cái tình tứ như thế là thứ tiếng hay biết dường nào …

Phạm Quỳnh đưa đến kết luận đòi hỏi cho tiếng mẹ đẻ được có cái địa vị chính thức nơi học đường :

“Một thứ tiếng như thế đáng sinh tồn lắm, đáng có một cái địa vị lớn hơn, một cái địa vị xứng đáng hơn trong sự ban bố cho cái dân dã sinh sản ra nó. Sự học ngày nay hình như không biết đến cái tiếng ấy là gì cả. Người ta thường nói một dân sống về tiếng nói. Nếu quả như thế thời dân Việt Nam chúng tôi quyết sống đây, vậy quyết bảo tồn lấy tiếng quốc âm của chúng tôi và hết sức luyện tập cho nó phong phú thêm ra.”

Xem thế đủ rõ Phạm Quỳnh không chỉ hoạt động văn hoá thuần túy mà Phạm Quỳnh còn gửi ở đó cả một tấm lòng nhiệt thành, tha thiết của ông đối với tiếng nói dân tộc, với sự thịnh suy của đất nước, và sự trường tồn của nòi giống .. . Cũng chính từ tấm lòng nhiệt thành ấy, nên mỗi khi cầm bút là Phạm Quỳnh lại thường để thoát ra những lời kêu gọi “tha thiết, âu yếm” khiến khơi dậy được lòng ái quốc, chiêu dụ được hồn bọn thanh niên tân học trở về với quốc gia dân tộc.

Ta hãy nghe Đông Hồ, nhà thơ xứ Hà Tiên tâm sự trong báo Sống, ngày 9-4-1935 :

Nam Phong sở dĩ làm cảm động được lòng người, kêu gọi được cái tâm hồn phất phơ vơ vẩn của người tuổi trẻ về với non sông đất nước một cách âu yếm thiết tha, là nhờ ở quốc ngữ, tiếng nước nhà .. .”

Và cũng từ ngày cảm cái tiếng gọi về nguồn tha thiết của ông chủ bút báo Nam Phong, Đông Hồ đã bỏ Pháp văn, quay ra chuyên tâm học quốc ngữ, và đã cộng tác với Nam Phong từ buổi ấy (từ số 80, tháng 5-1924).

Sau đó (1926), Đông Hồ còn mở một ngôi trường tư, dậy tiếng Việt miễn phí, lấy tên là Khai Trí Tiến Đức Học Xá, và đã treo trên tường một tấm bảng, ghi lại những lời của Phạm Quỳnh làm khẩu hiệu :

“Quốc ngữ, quốc gia

Tiếng là nước, tiếng còn thì nước còn

Tiếng mất thì nước mất

Truyện Kiều còn, tiếng ta còn”

Lại nói tiếp đến vấn đề tuyên truyền cho Truyện Kiều : từ khi Phạm Quỳnh ở Pháp về (1923), do sự khích lệ của ông, tờ Nam Phong trở nên một diễn đàn thường xuyên bàn luận về Truyện Kiều. Giá trị nghệ thuật văn chương Truyện Kiều nhờ đó được khai triển hơn nữa, nhất là qua ngòi bút phân tích của giới trí thức trẻ như Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam.. . Nhóm này còn tiến xa hơn ông ông chủ bút về chuyện tán dương luân lý, đạo đức của cô Kiều. Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng ý như thế, trong giới cựu học như Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đôn Phục thì lại lên án cô Kiều rất gắt, và sợ cho cái ảnh hưởng xấu của nó trong xã hội.

Lời cảnh cáo của hai nhà cựu học, bỉnh bút của Nam Phong không phải Phạm Quỳnh không lưu ý, nhưng ông vẫn nghĩ rằng ngày nay, người ta không thể đứng ở quan điểm “văn dĩ tải đạo”, dựa vào giáo điều đạo đức khe khắt của Khổng Mạnh xưa để phê bình một tác phẩm văn chương ; huống chi dưới con mắt của Phạm Quỳnh Truyện Kiều là một “tác phẩm mỹ thuật”, đã gây được “mỹ cảm” trong khắp các tầng lớp quốc dân ta, “ai cũng chịu là hay”.

Theo họ Phạm, đã gọi là mỹ thuật, là đẹp thì “trong cái đẹp tức đã gồm một sự ích lợi cao thượng, vì người ta cảm sự đẹp, dường như thấy phẩm cách mình cao hơn lên.. “. Như thế, “cái thú của mỹ thuật phải là cái thú chính đại quang minh .. . cái thích của mỹ thuật phải là cái thích cao thượng.” (Đẹp Là Gì, 1917, Thượng Chi Văn Tập, tập I).

Cứ xem trong dân gian, vào những ngày hội hè hát xướng, trai gái nhìn Kiều bằng một nhãn quan đầy “mỹ cảm” như thế nào, thì đủ rõ :

Thúy Kiều là bậc bố kinh

Chàng Kim cũng bậc trâm anh con nhà

Có đâu ép liễu nài hoa

Có đâu tang bộc như là ai kia.

Bởi chưng gia biến trăm bề

Bán mình trăm lạng đền nghì muôn chung

Dở dang duyên phận vợ chồng

Đó là bởi tại tơ hồng cợt trêu .. .”

(Truyện Kiều với Tết Trung Thu, Vũ Văn Kính, Làng Văn, 9-1986)

Thế nên Truyện Kiều không phải là một truyện tồi bại, có thể đưa con người ta vào đường trụy lạc.

Và bấy giờ Phạm Quỳnh chỉ còn nhìn thấy cái kết quả hiển nhiên trước mắt là ông đã gây được một phong trào viết văn quốc ngữ như ông vẫn thường hô hào, nhất là khi đã lôi cuốn được giới trí thức trẻ trở về với văn hoá dân tộc. Văn chương Kiều còn là “cái mẫu rất tốt” để luyện văn quốc ngữ như Nguyễn Tường Tam đã nhận xét (Nam Phong số 79, tháng 2-1924).

Phạm Quỳnh lại vừa có thêm một tin vui, là việc tranh đấu của ông cho vấn đề giáo dục trước đây tại Việt Nam và mới rồi tại Pháp quốc, đã có kết quả tốt : “Tháng 7, giám đốc Học chính mời Phạm Quỳnh vào nói chuyện, báo tin việc thành lập một bậc tiểu học Việt Nam như ông vẫn từng đòi hỏi”, “cùng việc lập ra một khoa Hán-Việt để Phạm Quỳnh giảng dạy” (Lịch Sử Văn Học Việt Nam, Phạm Thế Ngũ).

Bằng ấy dữ kiện đã làm cho Phạm Quỳnh phấn khởi, tin tưởng ở tương lai tươi sáng của nước nhà. Nhất là mấy năm nay Phạm Quỳnh đã phải luôn luôn sống trong tinh thần căng thẳng, hết tranh đấu việc này lại đối phó, lo toan việc nọ ; liều lĩnh nhất là hồi năm ngoái (1922), nhân dịp được tháp tùng vua Khải Định sang Pháp dự Đấu xảo Thuộc địa ở Marseille, Phạm Quỳnh đã lợi dụng cơ hội hiếm có này, lên Paris, tự cậy cục, vận động để được bốn lần đăng đàn diễn thuyết trước những vị học vấn chính trị cao trọng nhất của nước Pháp. Nào phải để mua danh chuốc tước, mà cốt khoa trương lịch sử, ngôn ngữ, văn hoá Việt Nam cho người Pháp phải nể dân mình ; từ đó Phạm Quỳnh đòi hỏi họ phải bãi bỏ cái ách “giáo dục đồng hoá” để cho dân ta được hưởng một chế độ giáo dục mới, vừa thâu thái được cái học thuật văn minh tiến bộ của người, mà vẫn giữ được truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc.

Trước ban luân lý chính trị của Viện Hàn Lâm Pháp, Phạm Quỳnh đã gióng giả biện thuyết :

“Dân Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng được đâu. Chúng tôi là một quyển sách đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai đã mấy thế kỷ nay. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ được. Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được cái học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi làm cho chúng tôi mất giống đi, mất cái quốc tính của chúng tôi đi, làm thành một dân tộc vô hồn, không còn có tinh thần đặc sắc gì nữa, như mấy cái thuộc địa cổ của người Pháp kia.”

Trong bộ quốc phục Việt Nam khăn đống áo dài, với những bài diễn thuyết hùng hồn đề cao dân tộc và tranh đấu cho vấn đề giáo dục dân tộc ấy, mặc nhiên Phạm Quỳnh đã nói lên được tất cả tấm lòng nhiệt thành đối với dân, với nước của ông.

Nay thì kế hoạch thành lập một nền quốc học của Phạm Quỳnh đang trên đà tiến triển tốt đẹp, bảo sao Phạm Quỳnh không cảm thấy hứng khởi. Ông muốn chia sẻ với cô Kiều tất cả niềm vui nỗi sướng này. Và cũng vì cái “bản ngã nghệ sĩ, tình cảm” của Phạm Quỳnh đã bị dồn nén quá mạnh, quá lâu, khiến mỗi khi ông có dịp nói về Kiều, nhất là lần này trong lòng đang phấn khởi nên nó đã vùng dậy mãnh liệt, thể hiện qua bài diễn thuyết của Phạm Quỳnh trong buổi lễ kỷ niệm Cụ Tiên Điền, do Hội Khai Trí Tiến Đức long trọng tổ chức tại hội quán, ngày mùng 10 tháng 8 (tức 8-9-1924), có đến hai ngàn người tham dự. Qua bài diễn văn này Phạm Quỳnh đã nói gì ?

– Phạm Quỳnh cho rằng “Ai ai cũng đều hưởng cái công nghiệp của Cụ Tiên Điền”, một bậc đại thi nhân, nên “ai ai cũng phải nhớ ngày giỗ Cụ, như một ông tổ chung của cả nước, và nghĩ đến cái ơn Cụ tác thành cho tiếng nước nhà”“đời đời làm vẻ vang cho nòi giống.”

Truyện Kiều là niềm tin cho sự trường tồn của dân tộc :”Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn. Có điều chi nữa mà ngờ ?”

– Phạm Quỳnh còn cho Truyện Kiều gồm đủ cả “quốc túy”, “quốc hoa”, “quốc hồn” của ta, nó chính là cái “văn tự” của giống Việt Nam ta đã “trước bạ” với non sông đất nước này :”Thiên văn tự tuyệt bút kia là gồm bao nhiêu giọt máu, bao nhiêu giọt lệ kết tinh lại mà thành.. .” Cụ Nguyễn Du có công như thế đối với dân tộc, hiển nhiên đáng là “bậc quốc sĩ” của dân ta.

– Sau khi so sánh Truyện Kiều với văn học của Pháp và Trung Hoa, Phạm Quỳnh cho rằng Truyện Kiều không những đối với văn hoá nước nhà, mà đối với văn hoá thế giới cũng chiếm được một địa vị cao quí” (Chú thích : Điều này ngày nay đã được chứng thực :”Hội đồng hoà bình thế giới đã quyết định trên khắp trái đất sẽ kỷ niệm nhà thi hào cổ điển Việt Nam Nguyễn Du, cùng với một số các nhà văn hoá thế giới khác. Nguyễn Du của Việt Nam 200 năm sau khi ra đời trên mảnh đất Hồng Lĩnh nước Việt, được cả thế giới chính thức rước lên đàn cao vinh dự của những thiên tài của loài người”.(Các nhà văn thơ cổ điển Việt Nam, Xuân Diệu, nxb Văn Học, Hà Nội, 1987).

– Để kết luận, Phạm Quỳnh cho biết “Cuộc kỷ niệm hôm nay chủ ý tỏ lòng quốc dân sùng bái cảnh mộ Cụ Tiên Điền”, hai là “chiêu hồn quốc sĩ, xin chứng nhận cho lời thề :

Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn,” “còn non còn nước còn dài”, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin rầu lòng giốc trí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm cho quốc qua ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh tao, quốc bộ ngày một tấn tới, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.”

Ta thấy toàn bài diễn thuyết này đều thoát ra từ một tấm lòng cảm mộ của Phạm Quỳnh đối với Cụ Nguyễn Du và Truyện Kiều, và tấm lòng thiết tha của ông đối với quốc gia dân tộc. Từ đó ông đã để cho tâm hồn nghệ sĩ, lãng mạn của mình bay bổng qua những lời gióng giả, hùng biện, theo với những cảm xúc dâng cao .. .

Chuyện đó cũng dễ hiểu, vì Phạm Quỳnh, ngoài tâm hồn nghệ sĩ hướng về cái đẹp, là Truyện Kiều để thưởng thức, ca ngợi ; trong di cảo Cô Kiều với tôi (Hoa Đường tùy bút) ông còn thú nhận đối với Truyện Kiều, ông đã không có “thái độ một nhà văn đối với tác phẩm văn chương, mà là tâm lý một người có cảm giác là ‘một hội một thuyền’ với tác giả cùng người trong truyện”. Như thế chứng tỏ ông đã viết nó thiên về tình cảm hơn là về lý trí.

Chẳng ngờ sau đó vài ngày, trên báo Hữu Thanh, ông Ngô Đức Kế đã đăng bài  Luận Về Chánh Học cùng Tà Thuyết, Quốc Văn, Kim Vân Kiều, Nguyễn Du, để lên án Truyện Kiều“ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng bi”, làm hại nhân tâm thế đạo, và đả kích những người suy tôn Kiều, cốt nhắm vào Phạm Quỳnh, mà gọi ông là “đức văn sĩ giả dối .. . biểu dương Truyện Kiều lên để khai hoá quốc dân, đem Truyện Kiều làm sách ‘quốc văn giáo khoa’, làm sách ‘sư phạm giảng nghĩa’ .. . Theo họ Ngô, học Kiều là thoái hoá, “sa vào cái lầm lỗi từ chương xưa .. . làm người ngu, nước yếu” ; vả lại : “Truyện Thanh Tâm Tài Nhân” là tiểu thuyết hèn mạt bên Tàu mà nay nước Việt Nam tôn phụng làm chính kinh, chính sử. Thiệt là rước lấy một cái sỉ nhục !”

Sáu năm sau, để trả lời bài Cảnh Cáo Các Nhà Học Phiệt của Phan Khôi, Phạm Quỳnh đã cho biết ông không trả lời ông nghè Ngô lý do chính vì :

“Ông là người quốc phạm, vì việc nước mà long đong chìm nổi trong bao năm, dầu người không đồng tư tưởng, đồng chánh kiến với ông, cũng phải kính trọng cái thân thế của ông. Tôi cũng vậy, thủy chung vẫn coi ông là bậc đàn anh.”

“.. . Ví dầu thế nào mặc lòng, tôi cũng vẫn kính trọng cái thân thế của ông, nếu thành ra cuộc cãi lộn thì tất phải dùng những lời nặng nhẹ, ông cho tôi là “văn sĩ lóp lép”, thì tôi nể gì mà không tặng cho ông những tên nọ tên kia, thành ra một cuộc đấu khẩu hàng rau, hàng cá, còn có sự thể gì nữa.”

Nào đã yên, vì liền đó, trên báo Phụ Nữ Tân Văn (số 67, tháng 3-1930), ông Huỳnh Thúc Kháng đã lên tiếng Chiêu tuyết những lời bài báng cho một chí sĩ đã qua đời, để bắt bẻ Phạm Quỳnh, và trở lại đả kích Truyện Kiều. Đồng thời ông Huỳnh cho rằng bài của ông Nghè Ngô là “một bài tuyệt xướng .. . có một cái mãnh lực sét phang trước trán, nước xối sau lưng, khiến ai đọc đến cũng tỉnh giấc hôn mê”.

Trong bài Phạm Quỳnh trả lời Phan Khôi, ông hé mở cho ta biết là “từ đó đến nay đã nổi lên cái phong trào chính trị mới. Có người nối gót ông Ngô, đem lời nọ lời kia mà phẩm bình về thái độ chính trị của tôi”. Phạm Quỳnh biết mình oan, nhưng chỉ nhẫn nhục chịu đựng để tiếp tục hoạt động văn hoá, phụng sự dân tộc theo đường hướng của mình.

P.T.N.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: