Pham Ton’s Blog

Tháng Năm 23, 2014

Sức mạnh văn hóa Việt Nam trong hội nhập và phát triển

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:59 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 6 năm 2014.

SỨC MẠNH VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Hồ Anh Tuấn

(Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch)

(Bài đăng trang Văn Hóa báo Nhân Dân số ra ngày 12/5/2014)

—o0o—

Văn hóa là cốt lõi của sức mạnh mềm (hay còn gọi là quyền lực mềm) và được coi là yếu tố có vai trò quyết định sức mạnh và vị thế quốc gia. Việc gia tăng sức mạnh này là chiến lược quan trọng để hoàn thành nhiều mục tiêu lớn, trong đó có nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Việt Nam đã và đang đứng trước nhiều thách thức, đòi hỏi phải có những đối sách mang tính chiến lược và chủ động để phát huy hiệu quả sức mạnh văn hóa của dân tộc.

Trong lịch sử giữ nước, có thể coi Bình Ngô đại cáo của Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi là áNhac cung dinhng văn đỉnh cao thể hiện ý chí và văn hóa của người Việt Nam với tư tưởng: Ðem đại nghĩa để thắng hung tàn/Lấy chí nhân để thay cường bạo. Cô đúc lịch sử giữ nước hào hùng hàng nghìn năm của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Ðó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Có thể không nói ra, nhưng từ xa xưa, tinh thần và lối ứng xử đó đã toát lên sức mạnh thu phục, cảm hóa của dân tộc Việt Nam, đó thật sự là “sức mạnh mềm” của dân tộc ta trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, được kết tinh từ văn hóa Việt Nam.

Do đó, không phải đến năm 1990, trong cuốn sách Nhất định lãnh đạo: diễn biến của bản chất sức mạnh nước Mỹ và trong bài Sức mạnh mềm đăng trên Tạp chí Chính sách ngoại giao, khái niệm “Sức mạnh mềm” (soft power) còn có thể gọi là quyền lực mềm, thực lực mềm, được Giô-xép Ni-ơ, một Giáo sư Ðại học Ha-vớt (Mỹ) nêu ra thì “sức mạnh mềm” mới ra đời và được nhắc đến nhiều, mà từ xa xưa, sức mạnh này đã tồn tại và phát huy như trường hợp của Việt Nam.

Trước bối cảnh mới, các nước đều đang có sự tìm tòi những phương thức ứng xử quốc tế mới, không phải đối đầu mà là đối thoại, không phải sử dụng quyền lực cứng (quân sự, kinh tế đơn thuần) mà phải tìm cách phát huy quyền lực mềm, tức là phát huy sức mạnh của hệ giá trị quốc gia: bao gồm các giá trị về văn hóa, về thể chế xã hội, về chính sách quốc gia (đối nội và đối ngoại),… để cạnh tranh. Trong chiến lược phát huy sức mạnh mềm hay quyền lực mềm, văn hóa là cốt lõi, bởi trong quá trình toàn cầu hóa ngày nay, văn hóa ngày càng biến đổi và trở thành bộ phận quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia. Việc gia tăng quyền lực mềm văn hóa để hoàn thành nhiều mục tiêu lớn trong đó quan trọng nhất là nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Văn hóa đã trở thành nhân tố then chốt trong số những nhân tố tạo nên sức mạnh mềm hay quyền lực mềm của một quốc gia, đặc biệt trong thời đại thông tin toàn cầu như ngày nay, với các công cụ in-tơ-nét, truyền thông… Nhiều nước đã chú trọng xây dựng chiến lược phát triển văn hóa, hướng tới mục tiêu là tìm cách đưa hình ảnh của đất nước và văn hóa của đất nước đó ngày càng trở nên thu hút hơn đối với thế giới, trong đó, công nghiệp giải trí được coi là một trong những nhân tố tạo nên quyền lực mềm.

Liệu sức mạnh mềm có thể được coi là xu thế của các quốc gia trong thời buổi toàn cầu hóa, trong “ngôi nhà chung” của thế giới? Trước những tác động mang tính chiến lược, có bài bản, tác động và gây ảnh hưởng bằng sức mạnh mềm qua văn hóa từ bên ngoài vào Việt Nam, chúng ta đã và đang đứng trước nguy cơ gì và đã có đối sách như thế nào để chủ động ứng phó phù hợp, hay là chúng ta chỉ vận dụng tình huống sức mạnh mềm một cách bị động?

Do vị trí địa chính trị, địa văn hóa, Việt Nam là một trong số ít quốc gia nằm trên trục cắt của Ðông – Tây và Bắc – Nam, thường chứa đựng các xung đột quốc tế, như đứng giữa ngã tư, vùng trũng, do đó ở đây luôn có xu hướng xung đột và giao lưu, không từ chối trong việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nước ngoài trên nền tảng tư tưởng độc lập, văn hóa của dân tộc. Ðó vừa là thế mạnh của người Việt Nam trong lịch sử, vừa là thách thức của người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập toàn diện.

Khi chúng ta đi sau ở ngã tư đường, nếu thiên về tiếp nhận, thụ hưởng sáng tạo của nhân loại, ắt sẽ nảy sinh tâm lý thụ động, trông chờ, bị cuốn hút trước sức mạnh mềm của một số quốc gia khác. Mặt khác để giải quyết những bất cập nội tại của văn hóa, con người Việt Nam trong thời buổi toàn cầu hóa, ta không thể chỉ dùng nội lực, những giải pháp nội sinh mà chưa đặt đúng tầm của sức mạnh mềm quốc gia và chủ động ứng phó với sức mạnh mềm của các quốc gia khác đang ra sức gây ảnh hưởng đến Việt Nam.

Khi tiềm năng sức mạnh cứng còn khiêm tốn, sức mạnh mềm quốc gia chưa được tập hợp có hệ thống, hướng đích, với xuất phát điểm của mình và bài học các nước trong khu vực, chúng ta chỉ có thể bắt đầu bằng văn hóa, từ văn hóa làm nòng cốt để gây dựng, từng bước gia tăng sức mạnh mềm quốc gia Việt Nam. Kế thừa kinh nghiệm của cha ông, với bối cảnh toàn cầu hóa, sự gia tăng sức mạnh mềm của một số quốc gia đến Việt Nam, xu hướng sắp tới là cần xác lập quyền lực mềm quốc gia bằng văn hóa, với các chính sách phát triển hợp lý, trên cơ sở các giá trị đặc sắc cùng lợi thế cạnh tranh của văn hóa Việt Nam, tạo sức đề kháng mạnh mẽ.

Có lẽ việc đầu tiên là phải xây dựng và triển khai các chiến lược, quy hoạch, hệ thống cơ chế, chính sách liên quan đến phát huy sức mạnh mềm với xây dựng Chiến lược phát triển văn hóa đối ngoại rõ định hướng và mục đích; cải cách thể chế, coi trọng các quy luật phát triển, định hình thị trường văn hóa. Ðiều quan trọng trong xây dựng sức mạnh mềm của Việt Nam là tạo ra sức hấp dẫn của văn hóa, làm cho mọi người coi trọng, tôn trọng, tự hào về văn hóa truyền thống; phát huy các giá trị đặc sắc, mang đậm bản sắc dân tộc và có lợi thế cạnh tranh quốc gia có sức lôi cuốn đối với cộng đồng quốc tế. Chúng ta đã đề ra, nhưng cần tái xác lập và tập trung phát triển các ngành công nghiệp văn hóa với thị trường xuất khẩu phù hợp, thúc đẩy thực thi, bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ, tạo động lực phát huy sáng tạo, đồng thời với phát triển du lịch phát huy tiềm năng, lợi thế về cảnh quan, văn hóa, con người Việt Nam; tạo cơ chế chính sách phù hợp, huy động nguồn lực để thúc đẩy sự gia tăng sức mạnh quốc gia bằng văn hóa.

Trước sự gia tăng ảnh hưởng sức mạnh mềm của một số nước lên Việt Nam, một trong những đối sách then chốt là tập trung xây dựng các giá trị văn hóa mới, đi đôi với việc mở rộng và chủ động trong giao lưu quốc tế, tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc, bắt kịp sự phát triển của thời đại, tạo điều kiện cho người Việt Nam ở nước ngoài trở thành một trong những hạt nhân quảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa, con người Việt Nam.

Phát huy giá trị văn hóa vốn có, được trao truyền từ các thế hệ cha ông, kết nối sức mạnh văn hóa với ngoại giao tạo sức mạnh mềm quốc gia. Vấn đề bắt đầu từ nhận thức và không chỉ bằng nhận thức từ bề dày lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc và cánh cửa đang mở ra phía trước.

Có thể nhận thấy, tùy từng bối cảnh lịch sử, điều kiện cụ thể của đất nước và thế giới, Ðảng ta luôn thể hiện vai trò quan trọng trong đổi mới tư duy, nhận thức và phương thức lãnh đạo văn hóa. Hiện thực văn hóa ngày nay đã có nhiều thay đổi, cũng vì vậy, hiện thực mới cần có những kiến giải mới, trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Với vai trò tiên phong của mình, Ðảng ta nhất định sẽ tiếp tục nắm chắc và giương cao ngọn cờ lãnh đạo để đề ra một chiến lược phát triển văn hóa phù hợp, thể hiện tầm vóc, trí tuệ, bản lĩnh của Ðảng trong bối cảnh hội nhập và phát triển.

H.A.T.

—o0o—

* QUAN TÂM NGHỆ NHÂN ĐỂ BẢO TỒN DI SẢN

(Bài đăng trang 1 báo Nhân Dân ngày 9/4/2014)

Hồng Minh

Nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc, một “di sản” hiếm hoi còn sót lại của nghệ thuật hát ca trù người Việt vừa tạ thế.

Cụ Chúc sinh ra trong gia đình có truyền thống hát ca trù và thời trẻ đã theo hát tại các giáo phường nổi tiếng. Khi nghệ thuật hát ca trù được UNESCO vinh danh, mặc dù đã gần 80 tuổi nhưng cụ Chúc là một trong số ít ỏi nghệ nhân tích cực tham gia hát và truyền dạy cho lớp nghệ nhân mới. Hình ảnh của cụ trở Ca nuong Nguyen Thi Chucnên quen thuộc với những người yêu nghệ thuật ca trù, khi gần như ở hầu hết các điểm hát ca trù tại Hà Nội và các cuộc liên hoan, ở đâu có ca trù là ở đó có cụ tham gia. Ở nhiều cuộc hát, dù lặng lẽ người hát và hiu hắt người nghe, cứ có cụ tham gia biểu diễn là ấm lòng. Tiếng hát trong vắt phiêu linh cùng dáng vẻ mảnh mai quý phái của cụ luôn là linh hồn, là tâm điểm chú ý của các cuộc hát.

Khi di sản văn hóa được UNESCO vinh danh thì tên tuổi của cụ luôn gắn liền với nó, mòn mỏi cống hiến cho đến khi nhắm mắt, ngoài cái danh hiệu nghệ nhân do Hội Văn nghệ dân gian phong tặng, về mặt chế độ, cụ chưa hề được ưu đãi gì.

Cụ Chúc không phải là trường hợp duy nhất mang theo cả kho báu, ngậm ngùi ra đi trong khi chính sách đãi ngộ và việc phong tặng danh hiệu nghệ nhân của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sau nhiều năm soạn thảo lấy ý kiến, vẫn đang chờ hoàn thiện để ban hành. Khi khảo sát nghệ thuật ca trù trong cả nước để lập hồ sơ di sản đệ trình UNESCO, chúng ta tìm được 22 nghệ nhân – là những ca nương, kép đàn cũ. Cho đến nay, hơn ba phần tư trong số họ đã lần lượt về với tiên tổ.

Cụ Chúc có lẽ còn đỡ tủi thân hơn những nghệ nhân khác, khi ốm nặng về quê hương Ngãi Cầu và đến khi nằm xuống còn được các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin. Còn những nghệ nhân như cụ Nguyễn Thị Kim ở Thanh Hóa, cụ Phan Thị Mơn ở Cổ Ðạm… khi họ sống thì luôn được nhắc đến trong các hồ sơ, báo cáo thành tích, là “linh hồn” của các kỳ, cuộc liên hoan. Họ nằm xuống lặng lẽ khi nào chẳng mấy người biết.

Tôi vẫn còn nhớ như in cảm giác vui sướng của giới cổ nhạc khi nghe tin nghệ thuật hát ca trù người Việt được UNESCO vinh danh là Di sản phi vật thể nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp. Ðó là vào tháng 10 năm 2009. Gần sáu năm kể từ khi được vinh danh, cái sự mừng chỉ lóe lên thoáng chốc, niềm vui và nhiệt huyết cũng cạn dần. Ca trù vẫn được hô hào bảo tồn và phát triển, nhưng sau mỗi kỳ liên hoan toàn quốc, ngồi đong đếm lại, giới nghiên cứu giật mình nhận ra các câu lạc bộ có vẻ ngày càng nhiều hơn nhưng giá trị của ca trù thì ngày càng phai nhạt.

Không khó khăn để ai cũng nhận ra, đối với loại hình cổ nhạc, di sản nằm trong tay lớp nghệ nhân cũ, họ không những có tài năng thiên phú mà còn giữ kỹ thuật trình diễn điêu luyện nhuần nhuyễn có được do cả đời thực hành trong môi trường diễn xướng thật sự. Khi họ mất đi mà không kịp trao truyền cho thế hệ mai sau, có nghĩa là mất đi phần hồn của di sản. Lớp nghệ nhân hiếm hoi quý giá đó giờ chỉ còn đếm trên đầu ngón tay và hầu hết họ đều cận kề hoặc đã qua tuổi 80. Chỉ nói riêng lĩnh vực ca trù, các nghệ nhân còn lại như cụ Nguyễn Phú Ðẹ, cụ Nguyễn Thị Sinh, năm nay đã hơn 90 tuổi, các cụ Phó Thị Kim Ðức, Nguyễn Thị Khướu, Nguyễn Thị Vượn, hay các cụ Ðỗ Thị Sông, Ðỗ Thị Dị đều cũng đã hơn 80 tuổi mà có lẽ cũng không biết chính xác ai còn ai mất. E rằng, chờ đến khi có quyết định phong tặng danh hiệu của Nhà nước thì họ đã ra đi hết rồi.

Nhưng điều cấp thiết quan trọng hơn cái danh hiệu cầm tay để đi về cõi vĩnh hằng, những nghệ nhân như những “báu vật sống”, cần được cấp chế độ ưu đãi đặc biệt và tổ chức các lớp học để họ trao truyền vốn liếng cho lớp trẻ.

H.M.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: