Pham Ton’s Blog

Tháng Sáu 21, 2014

Hoàng Sa trong tâm thức một Việt kiều Pháp

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 10:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 6 năm 2014.

HOÀNG SA

TRONG TÂM THỨC MỘT VIỆT KIỀU PHÁP

Đỗ Thanh

(Bài đăng trong mục Văn Nghệ báo Nhân Dân cuối tuần số 23 (1323) ra ngày 8/6/2014)

—o0o—

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, nhà giáo, nhà khoa học, nhà văn hóa lớn đã được Nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về cụm công trình Lý Thường Kiệt; La Sơn Phu Tử; Lịch và Lịch Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp khoa học – giáo dục của ông đã được nhiều người biết đến. Nhưng tấm lòng của ông đối với Hoàng Sa, một phần máu thịt của Tổ quốc Việt Nam nơi trùng khơi, thì không phải ai cũng biết.

Bui một tấc lòng ưu ái cũ1

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908, ở làng Yên Hồ, huyện La Sơn, nay là xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, một vùng quê giàu truyền thống cách mạng lâu đời Hoang Xuan Hanvà nổi tiếng hiếu học. Ông mất năm 1996 tại Pa-ri.

Năm lên sáu tuổi, ông bắt đầu học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại gia đình. Đến năm lên chín, ông học tiếng Pháp ở trường tiểu học tại quê nhà. Sau đấy ông thi đỗ Thành Chung được ra Hà Nội học tại Trường Bưởi, rồi chuyển sang học chuyên toán ở Trường trung học An-be Xa-rô (Albert Sarraut).

Năm 1928, Hoàng Xuân Hãn đỗ thủ khoa kỳ thi tú tài toàn phần và được nhận học bổng của chính phủ Đông Dương sang Pháp học dự bị để thi vào các trường đại học danh tiếng của Pháp. Ngôi trường đầu tiên mà ông đặt chân tới là Trường đại học Bách khoa Pa-ri. Bốn năm sau, 1932-1934, ông chuyển sang học ở Trường École Nationale des Ponts et Chaussées (Trường đại học Cầu đường quốc gia, Pa-ri).

Sau khi tốt nghiệp, ông trở về nước, nhưng khi ấy ở Việt Nam chính quyền thực dân ngăn cản không cho ông làm bất cứ công việc nào trong lĩnh vực chuyên môn dành cho một kỹ sư được đào tạo bài bản, nên ông đã tham dự kỳ thi Thạc sĩ về toán. Cũng trong thời gian ấy, khi tham gia chiến dịch xóa mù chữ, ông nghĩ ra một phương pháp sử dụng cùng lúc cả ngữ âm hiện đại và truyền thống truyền miệng của người Việt. Những bài ông viết cho các báo, tạp chí chuyên ngành về toán thời bấy giờ là những hình mẫu về sư phạm. Qua thực hành, ông đã làm rạng rỡ ngôn ngữ tiếng Việt sử dụng trong giáo dục và khoa học, vì thế đã mở ra một con đường cho quá trình Việt Nam hóa giáo dục mà ông sẽ vận dụng với tư cách là Bộ trưởng của chính phủ độc lập đầu tiên.

Chỉ trong vòng hai tháng trên cương vị Bộ trưởng Giáo dục, ông đã thiết lập và ban hành chương trình giáo dục bằng chữ Quốc ngữ ở các trường học. Áp dụng việc học và thi Tú tài bằng tiếng Việt, dùng tiếng Việt trong những công văn chính thức của ngành. Ông là người soạn thảo và ban hành Chương trình Trung học Việt Nam đầu tiên.

Ngoài các công trình được Nhà nước ta trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cao quý, ông còn có nhiều công trình khoa học, giáo dục mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế rất có giá trị như Danh từ khoa học, Khảo cứu Truyện Kiều, Khảo cứu Chinh phụ ngâm, La Sơn Yên Hồ,…

Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông2

Quần đảo Hoàng Sa là một công trình khảo cứu của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, từ năm 1951. Đó là tấm lòng của một trí thức Việt Nam yêu nước đối với chủ quyền quốc gia, dù phải sống xa Tổ quốc. Ở đó toát lên một trí tuệ mẫn tiệp, một phong cách tư duy khoa học, uyên bác qua cách trình bày vấn đề bằng một thái độ hết sức nghiêm túc, cẩn trọng trong hoạt động khoa học của Giáo sư.

Trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, năm 1975, chuyên san Sử Địa Sài Gòn có in 15 bài viết của các tác giả thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau và một thư mục chú giải tổng hợp chuyên khảo cứu về quần đảo Hoàng Sa. Bài viết của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn với tiêu đề Quần đảo Hoàng Sa được in trang trọng ngay ở vị trí đầu tiên của cuốn tập san. Điều đó thể hiện uy tín khoa học của Giáo sư đối với giới trí thức Việt Nam ở trong nước.

Theo quan điểm của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, để xác định chủ quyền thì nhất thiết phải có những bằng chứng pháp lý của Nhà Hoang Sa trong tam thuc Viet kieu Phapnước Trung ương Việt Nam trước đây. Những bằng chứng ấy đã được Quốc Sử quán triều Nguyễn ghi lại trong Đại Nam thực lục tiền biên với việc nhà Nguyễn đã có những chính sách thiết lập đơn vị hành chính, dựng miếu, lập bia thờ thần biển ở Hoàng Sa… Đây là những bằng chứng pháp lý quan trọng nhất, đầy sức thuyết phục, khẳng định những hoạt động mang tính Nhà nước về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa.

Trong khảo cứu Quần đảo Hoàng Sa, căn cứ khoa học chủ yếu của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn là nguồn tư liệu chính thống của lịch sử nước nhà qua các tư liệu lịch sử trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn; Đại Nam thực lục tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn; Đại Nam nhất thống chí; Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú; sách Đông hành thi thuyết thảo của Lý Văn Phức,…3 Ngoài ra, các loại hình tài liệu khác như bản đồ, bản vẽ, cũng được giáo sư nghiên cứu rất công phu. Ông đã đối chiếu các bản đồ trong Toàn tập thiên nam lộ đồ vẽ năm 1741 với tư liệu trong Hồng Đức bản đồ. Trong các bản đồ, bản vẽ, lộ đồ, hải đồ ấy đã vẽ địa hình nước ta hồi cuối thời Lê và nhật trình địa đồ Thuận Hóa Quảng Nam được ông sử dụng để đối chiếu với các sách về địa chí của nước ta. Với một phong cách tư duy khoa học, lập luận xác đáng, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn cho rằng, các bản đồ trước đời Gia Long khẳng định, bãi Tràng sa (Trường Sa) hoặc bãi Cát vàng (Hoàng Sa) được coi là phần quan trọng không thể tách rời của đất nước Việt Nam.

Đối với sử liệu trong Phủ biên tạp lục, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã trích dẫn hai đoạn, nói về vị trí địa lý. Theo đó, phía ngoài cù lao Ré có đảo Đại Tràng Sa, nằm ở ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi. Trước kia, ở đây có nhiều hải vật và hóa vật của tàu bị đắm, nhà Vua đã lập đội Hoàng Sa đến lấy các nguồn lợi như: yến sào, ốc vân, hải ba, hải sâm, đồi mồi,… Tiếp đến là những sự kiện lịch sử của Việt Nam gắn liền với Hoàng Sa như thuyền buôn bị bão, nhà Nguyễn đặt đội Bắc Hải, thuyền của dân đi khai thác ở Hoàng Sa bị gió dạt vào cảng của Trung Quốc được dân địa phương giúp quay trở về…

Thông tin trong Đại Nam thực lục tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng có sự kiện cuối cùng, đồng thời xuất hiện địa danh Vạn lý Tràng Sa. Tất cả các thông tin ông đưa ra đều có mối liên hệ mật thiết với nhau, được lồng ghép, bổ sung cho nhau, tạo nên những luận cứ xác đáng về sự có mặt và những hoạt động của người Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa từ lâu đời, muộn nhất là từ thế kỷ 16.4

Tuy nhiên, đến nguồn tài liệu nguyên gốc bằng tiếng Anh và tiếng Pháp của các học giả phương Tây, thì đối với trí thức trong nước không dễ gì tiếp cận được. Bởi lẽ, ngoài vốn kiến thức về ngôn ngữ nước ngoài, không thể không cần đến uy tín khoa học, quan hệ xã hội trong quá trình tìm kiếm và khai thác tư liệu của các học giả phương Tây. Điều kiện thứ nhất có thể nhiều người có được, còn hai điều kiện sau, thì không phải ai cũng dễ dàng có được như Giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Nguồn tư liệu cuối cùng mà ông đặc biệt quan tâm, xem xét kỹ lưỡng, là những ghi chép của các thương nhân, các nhà truyền giáo nước ngoài cách đây hàng thế kỷ khi đến Việt Nam. Trong các ghi chép đó có những nhận xét, đánh giá về quần đảo Hoàng Sa nói riêng và chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này nói chung.

Qua cuốn khảo cứu Quần đảo Hoàng Sa, chúng ta thấy Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, dù khi ở trong nước hay ở nước ngoài, đều một lòng một dạ hướng về quê hương đất nước Việt Nam với một thái độ hết sức nghiêm túc, cẩn trọng.

Tháng 8-2011, Chính phủ Pháp đã đặt tên Hoàng Xuân Hãn cho giảng đường của Trường đại học École Nationale des Ponts et Chaussées ngay giữa trung tâm Pa-ri, thủ đô nước Pháp, nơi ông đã có nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy ở đó, để ghi nhận công lao đóng góp và uy tín khoa học của vị Giáo sư người Việt với ngôi trường này. Trước đó, nhân kỷ niệm 100 năm truyền thống, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được Nhà trường vinh danh là một trong 100 sinh viên tiêu biểu nhất trong lịch sử của trường.

Đ.T.

——————–

(1) và (2): Hai câu thơ trong bài thơ chữ Hán: Thuật hứng- 5 (Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi).

(3) Lý Văn Phức (1785-1849): Danh sĩ đời Gia Long, là một nhà ngoại giao tài giỏi và một nhà thơ nổi tiếng, tự Lân Chi, hiệu là Khắc Trai, quê ở Hà Nội. Năm 1819 đỗ cử nhân, được bổ làm Hàn lâm viện Biên tu ở Quốc sử quán, sau trải qua các chức vụ khác như: Thiêm sự Bộ Lễ, Hiệp lý Trấn vũ, Tham Hiệp trấn Quảng Nam, Hữu Thị lang bộ Hộ. Ông được cử đi sứ nhiều nước. Năm 1830 đi công cán ở Xin-ga-po, Phi-li-pin và Quảng Đông. Ngoài tài ngoại giao, ông còn là nhà thơ nổi tiếng, để lại nhiều tác phẩm bằng chữ Hán và chữ Nôm cho kho tàng văn học dân tộc, tiêu biểu có các tác phẩm Truyện Tây Sương, Nhị thập tứ hiếu diễn ca… Ông mất năm 1849. (Nguồn: Dư địa chí Thừa Thiên – Huế (Bản quyền của UBND tỉnh Thừa Thiên -Huế; Xem thêm: Bách khoa toàn thư mở (vi.wikipedia.org/wiki).

(4) Đại Nam thực lục tiền biên Quốc sử quán triều Nguyễn. Viện Sử học – Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2007.

 

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: