Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 14, 2014

Xa-văn-na-khệt năm xưa

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 11:44 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 8 năm 2014.

XA-VĂN-NA-KHỆT năm xưa

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Dưới nhan đề của chúng tôi là phần trích trong bài Du lịch xứ Lào của Phạm Quỳnh viết từ năm 1931 trong Tạp chí Nam Phong các số 158-159 các tháng 1 và 2 năm 1931, in lại trong tập I Du Ký Việt Nam của NXB Trẻ năm 2007 từ trang 413-458

—o0o—

Đường xa chớ ngại Ngô, Lào…

Ngày xưa, đi sang Tàu với sang Lào là gian nan hiểm trở vô cùng. Nhưng sang Tàu còn là sự thường, cống sứ vãng lai, không mấy năm không có người Nam Việt đi đến Yên Kinh.

(…)

Chứ đi sang Lào thì không mấy ai đi. Đường đi đã cách trở, mán mọi còn thú gì. Tục có câu: “Sang Lào ăn mắm nhái”, đủ biết cái phong vị dã man kham khổ là dường nào! Trừ lính đi viễn chinh, tù phải phát vãng, mới mon men đến giáp ranh nước Lào, thời rừng sâu nước độc, mười người đi một người về, những ngheVoi o Lao nói đã rùng mình, còn ai hứng đi du lịch?

(…)

Gần đây đường giao thông với Ai Lao đã mở mang, người Nam ta sang làm ăn bên ấy mỗi ngày một đông, các thành phố mới lập như Thakhek, Vientiane, Savannakhet, người mình có lẽ nhiều hơn người bản dân.

Đã lâu nay tôi vẫn có ý muốn đi Lào một chuyến, để trước là biết qua phong thổ đất Lào, sau là thăm đồng bào ta ngụ cư bên đó.

Gần đây có dịp, tôi cùng quan Tổng đốc Hoàng Trọng Phu đi du lịch xứ Lào.

Đi Lào hiện có hai đường chính: đường Vinh – Thakhek và đường Đông Hà – Savannakhet. Chúng tôi định đi một đường, về một đường, cho biết cả hai. Vậy bữa đi đi đường Quảng Trị, bữa về về đường Nghệ An.

(…)

Tự đây trở đi là vào địa phận Ai Lao, phong cảnh lại càng rừng rú lắm. Về địa phận An Nam, còn có người đi lại, từ đây thời hàng chục cây số, trên đường vắng vẻ, hầu như không có một người nào. Đường chạy ngang với con sông Sé Pone, cho đến Ban Tha Kong là nơi hợp lưu với sông Sé Bang Hiên, hiện đương bắc cái cầu sắt 165 thước chưa xong. Trước Ban Tha Kong mấy cây, có một cái làng to tên là Tchépone, cách đường cái 800 thước, được ngót ba nghìn người, vừa An Nam vừa Lào, có quan đại lý Tây, thuộc tỉnh Savannakhet. Gần đây có mấy cái mỏ thiếc đương khai, nên người đi lại cũng có.

Từ đây là hết địa phận giống Kha Lơ ở, đến địa phận Phu Thai, là một giống Lào. Phong cảnh cũng khác hẳn. Không có rừng rậm núi cao nữa, chỉ toàn rừng thưa đất cát mà thôi, xe chạy bụi bay lên như mây.

(…)

Con đường thuộc địa thứ 9 này hiện đương sửa sang làm rộng ra, cu li An Nam sang làm đông lắm, xem ra cũng chịu được thủy thổ và cũng được đủ ăn. Phần nhiều là người Quảng Bình, Quảng Trị, người Nghệ Tĩnh và người Bắc Kỳ cũng có, làm ăn lẫn cả với người Lào, nhưng làm cai, thầu khoán thì hầu hết là người An Nam cả.

(…)

Cách ba bốn chục cây đến Savannakhet thời rừng thưa đã đổi làm rừng rậm, trông cảnh sắc cũng biết rằng đã gần đến bờ sông lớn vậy.

Đến Savannakhet thời đã tối mịt, đi tự Huế tới đây ngót 400 cây số, chỉ nghỉ có vài giờ đồng hồ buổi trưa ở Tchépone để ăn cơm. Chính con đường thuộc địa số 9 thời có 328 cây, đường này sửa xong thì rộng rãi và tốt lắm, mùa nắng mùa mưa đi được cả, chứ đường Vinh – Thakhek thì chỉ đi được mùa tạnh mà thôi.

Savannakhet là một tỉnh lỵ lớn, ở trên bờ sông Cửu Long, dân số được 3000 người, phần nhiều là người An Nam cả. Buôn bán đường thủy đường bộ cũng to. Đường bộ thì các rừng các bạn (bạn, tiếng Lào là làng xóm) chung quanh đem những nông sản lâm sản đến đấy bán; đường thủy thì tầu ghe ở miền dưới lên, miền trên xuống tất đỗ ở đó rồi mới đi. (…) Tự Savannakhet cho đến Vientiane là triền bằng phẳng hơn cả, cho nên có phiêu tầu của công ty Messageries fluviales chạy đều đặn mỗi tuần lễ hai lần, chở hàng hóa cùng hành khách dem pho co Thakhekcả hai bên bờ Xiêm và Lào.

(…)

Cách người Lào ở khác hẳn người ta. Họ toàn ở nhà sàn cả, giàu nghèo cũng như nhau. Nhà làm bằng gỗ, lợp lá, hoặc lợp ngói, tầng dưới bỏ không, có cái thang lên, tối cất đi. Gian mới bước lên để trống như cái hiên, tức là phòng khách đó, còn vào trong che kín là chỗ ở. Đàng sau là bếp nước. Toàn ở trên sàn cả. Dưới thì nuôi các súc vật.

Ở làng xóm cũng như ở trong phố, nhà nọ nhà kia trông thấy nhau được, cũng có khi trồng chuối trồng dừa, nhưng là để cho xanh mát mà thôi, chứ không phải để làm rào chắn.

Savannakhet có một vài phố nhà Lào như thế, coi ra cái cảnh nhà quê, không có gì là vẻ thành thị. Còn những phố phường buôn bán thì toàn người Nam và người Khách cả.

Tôi có vào cửa hàng một người đàn bà Xiêm lai Khách, nói tiếng An Nam được, xem cách họ bán hàng với người Lào lạ lắm. Có một bọn năm sáu người chừng ở nhà quê xa ra, da đen như đồng đen, ống chân vẽ chằng chịt, – cái tục vẽ mình ở Lào thịnh hành lắm, – vào hàng hỏi mua quần cộc và áo nịt. Họ ngồi cả xuống chiếu, như khách vào chơi. Chủ đưa hàng ra, mỗi người xem một lượt, bàn soạn với nhau. Trước mặt đã bày sẵn một lượt bát, như bát mở họ vậy. Định mặc cả bao nhiêu thì lấy tiền trong túi ra bỏ vào bát. Người chủ không bằng lòng lắc đầu, nói rẻ quá không thể bán được. Trong bọn có người nào muốn trả hơn thì bỏ vào trong bát mình thêm lên năm xu một hào gì nữa. Nếu được giá, nhà hàng thuật bán, thì người nào mua cũng phải theo giá ấy cả. Khác nào như một cuộc bán đấu giá vậy, nhưng bình tĩnh yên ổn lắm, không có tiếng mặc cả ồn ào, kẻ nói đi người nói lại như các cửa hàng ta. Thật là ung dung lắm mà người nào cũng có mặt vui vẻ tươi cười.

Nghe nói những người nhà quê đó, thứ nhất là người Khá nuôi voi, có khi trong nhà có mầy nghìn bạc, vì bán một con voi cũng đủ được cái vốn to rồi. Nhưng họ có bạc họ chôn, chứ cũng không biết tiêu dùng gì.

Savannakhet, xem qua phố phường rồi, lại xem một cái chùa Lào nữa. Nhưng chùa ở dây tầm thường lắm, phải lên Vientiane mới có chùa đẹp. Chùa nào cũng có một nơi chính điện thờ Phật, xây bằng gạch, hình chữ nhật, chạy dọc hai mái thật dốc như cái dấu mũ vậy. Còn ở ngoài là các tịnh xá của sư, cũng lối nhà sàn như trong dân gian. Chùa nào cũng có một cái nhà sàn lớn bỏ không, như cái quán, gọi là sala, để cho khách thập phương đến trọ. Sư toàn khoác áo cà sa sắc vàng, để trần một cánh tay, chùa nào cũng đông lắm.

(…)

Định ăn cơm trưa sớm, rồi một giờ lên đường đi Thakhek. Nếm một món ăn phổ thông của Lào, – không phải là mắm nhái đâu! – Là một thứ canh bún, như bún bung của ta, gọi là khaopun: bún chan một thứ canh có nước nghệ, nước dừa, có thịt có cá, có các thứ rau, ăn cũng lạ miệng. Thứ này người Lào thích ăn lắm, ngoài đường phố thường có người bán. Nhưng làm theo đúng như lối họ thì phải dùng một thứ mắm cũng nặng mùi như mắm tôm của ta, không quen thì khó ăn. Nên hôm ấy giảm bớt thứ gia vị ấy, mà nấu theo lối Tây một chút, làm nóng nẩy dễ ăn lắm. Cũng là Lào mà Lào đã “duy tân” rồi, không phải là Lào ròng vậy!

Sản vật của Lào, ai cũng biết rằng duy chỉ có thứ gấm dùng để làm xiêm, làm yếm cho đàn bà, là đẹp hơn cả. Gấm ngũ sắc, dệt đủ các huỳnh miếng trám, lại có xen đường chỉ bạc chỉ vàng, công phu lắm,và coi cũng vui mắt. Nhưng gần đây, họ dùng tơ chuối nhiều lắm, không mấy mảnh là được thuần tơ thật, nên coi thì bóng bẩy mà chẳng bao lâu rách nát ngay. Nghĩ dệt công phu như thế mà dùng tơ giả, thật uổng công quá. Họ thường dệt thành từng mảnh, đủ làm cái xiêm hay cái yếm mà thôi, nên ta dùng cũng không được việc gì.

(…) Người Lào hay người Phu Thai thì tính vui vẻ, nhưng lười biếng, không chịu khó làm ăn. Đối với khách lạ có bụng hoan nghênh. Có tục hễ nhân dịp vui vẻ gì liền mở hội, họp nhau lại mà hát đúm, tiếng Lào gọi là làm bun.

Bữa ở Vientiane, chúng tôi có đến một làng cách đấy hai cây số xem họ làm bun. Bấy giờ là buổi tối vào tám chín giờ. Nơi ấy là một nơi chùa làng, chung quanh có sân rộng. Ngoài sân làm mấy dẫy quán bằng tre bằng lá, trong quán trải chiếu xuống đất, các phu sao tức là con gái vùng ấy mặc xiêm mặc yếm sặc sỡ coi vui mắt lắm, đến ngồi cả từng dẫy dài, ăn trầu nói chuyện với nhau. Bấy giờ những phu bao là con trai đi lượn chung quanh, thấy người con gái nào vừa ý thì đến ngồi ngay trước mặt, đem cái kèn gọi là khene dến thổi và hát, toàn những giọng phong tình như hát trống quân hay hát quan họ bên ta. Duy có khác là chỉ có con trai hát, còn con gái thì ngồi nghe không phải đáp lại. Ởi giữa sân thì các nhà hàng chong đèn lên bán những quà bánh cho khách đi xem. Trong đám hội đó kể có nghìn người, mà không có cái cảnh ổn ào náo nhiệt như ở bên ta. Đó cũng là do cái tính người Lào hiếu tĩnh, dù khi hội hè cũng không có huyên náo..

Có một điều lạ, là ở trong quán có đặt giường để các vị sư ngồi hình như chứng kiến cho cuộc vui đó. Hỏi ra thì lệ thường ở đây phàm khi mở hội như thế này, trước có hát đúm, rồi sau thì lễ Phật, cho nên các nhà sư đến đấy là túc trực để sớm mai tụng kinh làm lễ. Lễ này là lễ dâng hoa, con trai con gái trong làng đem hoa đến dâng sư và cúng Phật.

Hội hè mà coi cảnh tượng có vẻ êm đềm tự nhiên lắm. Đó chính là cái tâm lý của người Lào, chỉ biết thủ thường yên phận, vui vẻ tự nhiên, không muốn khó nhọc lo lắng gì cả. Cái tính cách đặc biệt của người Lào đó, tiếng họ gọi là sừ sừ. Sừ sừ nghĩa là cứ tự nhiên, gặp sao nói vậy, sống ngày nào biết ngày ấy, cẩu thả qua thời, không lo xa nghĩ ngợi gì cả. Vì cái tâm lý đó mà người Lào xem ra khó lòng tự lập được ở đời này (…)

Làng nào cũng có chùa, chung quanh chùa có tháp, tiếng Lào gọi là thát. Người Lào theo đao Phật thuộc về Nam Tôn Tiểu Thừa, như Cao Miên, Xiêm La vậy. Sư ở đây là hạng thượng lưu học thức, nên được dân gian tôn trọng lắm. Nhà tử tế ai cũng cho con đi ở chùa để học chữ học đạo, người nào phát nguyện đi tu thì ở luôn, còn thì ở một vài năm rồi lại về nhà.

Đó là phong tục chính của người Lào, còn người Khá thì cách ăn ở hãy còn mộc mạc thô lỗ lắm. Thờ cúng toàn thờ cúng các ma rừng, họ gọi là phi, cũng có những thầy mo thầy cúng như các dân mạn ngược ta. Có khi trong làng họ có cái hèm gì thì họ đóng cửa, nội bất xuất ngoại bất nhập, rồi họ làm lễ ăn uống với nhau hàng mấy ngày. Họ có cái tục uống rượu cần cũng như người Tầy hay người Mọi. Hễ có khách lạ đi qua thì họ đem rượu ra thết, để trong cái hũ bắc cần mà hút.

Tiếng Lào hơi na ná tiếng Xiêm, thuộc loại tiếng Thái, âm vận nhiều chỗ giống với tiếng Nam ta. Các nhà bác ngữ học cho rằng tiếng An Nam ta hồi xưa cũng là một chi trong dòng tiếng Thái, sau này chịu giáo hóa bằng chữ Tàu mà càng ngày càng sai biệt đi. Nghe người Lào nói hay hát xa xa có khi phảng phất như tiếng An Nam vậy.

Ấy đại khái tính tình, phong thổ, tôn giáo, ngữ ngôn của các dân Ai Lao như vậy.

(…)

Đất Ai Lao vẫn rộng rãi, có đủ chỗ dung được mọi người. Người An Nam sang ở đấy không sợ bao giờ đến đông quá mà trở ngại cho người Lào. Hiện nay và sau này, bao giờ người Nam cũng là cần cho sự mở mang kinh tế xứ Ai Lao vậy.

Tháng 1 + 2/1931

P.Q.

*

*   *

SỨC SỐNG MỚI Ở XA-VĂN-NA-KHỆT

Bài và ảnh: Trần Duy Tân

(Bài trên trang Quốc Tế báo Nhân Dân số ra ngày 9/8/2014)

Xa-văn-na-khệt giờ đây đã khoác trên mình tấm áo mới với những công trình khang trang đem lại sức sống mới cho cả thành phố và những bản làng. Một cuộc sống tươi vui, ấm no, hạnh phúc của người dân trên vùng đất lửa đạn năm xưa đang ngày càng khởi sắc.

Thăm Xa-văn-na-khệt, chúng tôi có dịp rong ruổi dọc đường 9 là nơi ghi dấu những chiến công lẫy lừng của Quân đội nhân dân Việt Nam hiệp đồng chiến đấu với Quân đội giải phóng nhân dân Lào, đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của địch hồi năm 1972. Và giờ đây, con đường 9 là huyết mạch quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, thương mại của tỉnh Xa van na khetNam Lào này. Rộng 21.774 km 2 , gồm 15 huyện, với 1.543 làng, từ lâu đây là tỉnh thuần nông, có tới 84% diện tích trồng lúa. Hai bên đường là những cánh đồng thẳng cánh cò bay. Lúa gặt được chất đống trên bờ. Thấp thoáng ven làng những chú bò vàng nhẩn nha gặm cỏ. Những xóm nhỏ yên bình sau lũy tre xanh, rặng chuối, vườn đu đủ, dừa, mít… gợi nhớ cảnh miền Tây Nam Bộ Việt Nam. Trong vòng xoáy của toàn cầu hóa, nhưng Xavăn-na-khệt vẫn giữ được không khí yên ả, thanh bình, nếp sống nhân hậu, trật tự, kỷ cương nay được nói tới như một miền đất lành chim đậu.

Tôi là con nhà nông. Vác cày đưa trâu ra đồng. Sống với ruộng đồng, nghề nông, lời ca mộc mạc trong bài hát rất quen thuộc của đồng bào các dân tộc nơi đây (Dên xạ bai xao na, Hạnh phúc người nông dân) nói rằng, tại Xa-văn-nakhệt này nghề nông là nghề chính. Nhưng đó là khoảng 26 năm trước kia, khi đất nước chưa tiến hành cải cách. Từ ngày mở cửa, tỉnh đã phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm, xây dựng nhiều nhà máy xi-măng, có nhà máy công suất 500 tấn/ngày; phát triển trồng cây cao-su, sản xuất phân bón, khai thác gỗ, lâm sản, vàng… xuất khẩu tới 15 nước. Cơ cấu ngành nghề cũng khác trước, công nghiệp đóng góp 23%, dịch vụ hơn 22% vào nguồn thu của tỉnh.

Thị trưởng Xu-phăn Kẹo-mixay cho biết, Xa-văn-na-khệt không có bất cứ hạn chế nào đối với các nhà đầu tư. Điều kiện rất thông thoáng, thuận lợi, cụ thể với công ty 100% vốn nước ngoài, thời hạn thuê đất từ 50 đến 70 năm; không đánh thuế sản phẩm xuất khẩu; thuế 0% vật liệu xây dựng, thiết bị, máy móc nhập khẩu. Năm 2013, tỉnh cấp phép cho 13 dự án đầu tư của Thái-lan, 10 dự án của Việt Nam, sáu dự án của Trung Quốc, các dự án của Ô-xtrâyli-a, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po… với tổng giá trị vốn đăng ký gần 450 triệu USD. Các lĩnh vực được các đối tác quan tâm nhất là trồng cao-su, trồng mía. Tỉnh kêu gọi đầu tư vào các dự án mới như lúa chất lượng cao, nước nóng thiên nhiên, sản xuất hàng mây tre, đồ gỗ, trồng cây công nghiệp, y học dân tộc…

Hành lang kinh tế đông-tây (EWEC) dài 1.450 km đi qua bốn nước, bắt đầu từ TP cảng Mô-la-mi-in (bang Mon) đến cửa khẩu My-a-oa-đi (bang Kay-in) trên biên giới Mi-an-ma – Thái-lan; ở Thái-lan, chạy từ Me Xọt qua bảy tỉnh: Tạc, Xukhố-thai, Ka-la-xỉn, Phít-xạ-nulốc, Khỏn-kèn, Y-a-xô-thon và Mục-đa-hản; ở Lào chạy từ Xavăn-na-khệt đến cửa khẩu Đen-xa-vẳn và ở Việt Nam chạy từ cửa khẩu Lao Bảo qua Quảng Trị, Huế và kết thúc tại cực đông là cảng Tiên Sa (TP Đà Nẵng). Đây là tuyến đường bộ duy nhất nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, mở đường ra biển cho khu vực đông – bắc của Thái-lan và Lào. Chính vì thế, chuyện làm ăn của người Xa-văn-na-khệt giờ đây còn gắn với hành lang này trong khuôn khổ các dự án hợp tác khai thác Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS).

Trao đổi ý kiến với chúng tôi về chiến lược của tỉnh để khai thác tốt cơ hội mà dự án mở ra, Phó Thị trưởng TP Xa-văn-nakhệt Phô-thi-lát cho biết: EWEC có khoảng 80 dự án, tập trung vào các lĩnh vực giao thông, năng lượng, viễn thông, du lịch, thương mại, nông nghiệp, khu công nghiệp… rất phù hợp nhu cầu phát triển của Lào. Tỉnh vạch chiến lược phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn để đón đầu. Về nông nghiệp, chú trọng giống tốt, ứng dụng công nghệ sinh học bằng các biện pháp khuyến nông, làm ra sản phẩm nông nghiệp sạch để xuất khẩu. Về thủ công mỹ nghệ, tăng sản lượng hàng mây tre đan, chạm khảm, khắc gỗ, vải nhuộm, chất lượng cao, bảo đảm uy tín thương hiệu để đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường Nhật Bản và châu Âu. Mở rộng buôn bán với Cam-pu-chia, Thái-lan, khai thác tốt các điểm du lịch sẵn có, mở các tuyến du lịch mới với Việt Nam và Thái-lan, thu hút du khách tham gia các loại hình du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch di tích lịch sử, bằng đường bộ và một điều thú vị, trên hành trình này du khách còn được trải nghiệm “Một ngày ăn cơm ba nước” (sáng ở Thái-lan, trưa ở Lào và tối ở Việt Nam).

Trong khuôn khổ các dự án hợp tác GMS, các doanh nghiệp Xa-văn-na-khệt và các tỉnh miền trung Việt Nam đã và đang đẩy mạnh giao lưu trên nhiều lĩnh vực. Đà Nẵng xúc tiến các thỏa thuận về thương mại, tư vấn thiết kế, xây dựng, công – nông nghiệp với các tỉnh của Lào, trong đó có Xa-vănna-khệt; đã triển khai một số hợp đồng như Công ty cơ khí Đà Nẵng xây dựng Nhà máy phân vi sinh Xa-văn-na-khệt; Tổng công ty xây dựng miền trung hợp tác với Xa-văn-nakhệt thi công hồ thủy lợi Xê-lanong, đào nền quốc lộ 12A, làm mặt đường biên giới Việt -Lào; hỗ trợ heo giống và còn xây dựng trạm nghiền thức ăn gia súc cho hai tỉnh Xa-la-văn và Xê-coong, v.v.

Việc hình thành EWEC sẽ liên kết các ngành công nghiệp của Việt Nam, Lào và Thái-lan với nhau, tạo nên chuỗi điểm nhấn liên hoàn Đà Nẵng – Phú Bài – Lao Bảo (Việt Nam) – Xavăn-na-khệt (Lào) – Mục-đahản (Thái-lan), tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại, mở cơ hội lớn cho tăng trưởng du lịch và hình thành các ngành công nghiệp mới, hiện đại như công nghiệp điện tử, tin học. Đất lành Xa-vănna-khệt sinh sôi, mang lại cho hơn tám nghìn dân lợi ích thiết thực và lâu dài.

D.T.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: