Pham Ton’s Blog

Tháng Tám 15, 2014

Phạm Quỳnh ngọn gió nam

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:39 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 8 năm 2014.

PHẠM QUỲNH NGỌN GIÓ NAM

Đỗ Lai Thúy

(Bài trong sách Vẫy vào vô tận của Đỗ Lai Thúy – NXB Phụ Nữ, quý II/2014, từ trang 85 đến trang 110)

Lời dẫn của Phạm Tôn: Nhà nghiên cứu phê bình văn học hiện đại PGS.TS Đỗ Lai Thúy sinh năm 1948 tại Quốc Oai, Hà Tây, Hà Nội. Mặc dù tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Ngoại Ngữ Hà Nội, nhưng bao giờ ông cũng tự nhận mình là “người tự đào tạo”, “không được học hành một cách chính quy”. Ông chuyên viết ngDo Lai Thuyhiên cứu lý luận phê bình văn học, và tất nhiên còn dịch nữa.

Các tác phẩm chính là Con mắt thơ (xuất bản 1992, tái bản 1994, 1998, 2000); Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực (Nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương từ góc độ tín ngưỡng phồn thực, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 1999); Từ cái nhìn văn hóa (NXB Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, 1999); Chân trời có người bay (Chân dung các nhà nghiên cứu, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2006). Ngoài ra còn: Luận về xã hội học nguyên thủy (Tổ chức dịch và viết giới thiệu-NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001); Nghệ thuật như là thủ pháp-Lý thuyết chủ nghĩa hình thức Nga (biên soạn và dịch chung, tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật, Hà Nội, 2002); Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật; Phân tâm học và văn hóa tâm linh (biên soạn và tổ chức dịch NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2000 và 2002); Văn hóa học. Những lý thuyết nhân học văn hóa (dịch chung, tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật, Hà Nội, 2002); Thơ Lermontov (1978); Kịch Ôxtrốpxki (1989), Chân trời có người bay (2006), Vẫy vào vô tận (2014)…

Hiện nay Đỗ Lai Thúy là phó tổng biên tập tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật (Bộ Văn hóa Thông tin và Du lịch).

—o0o—

Lấy vợ hiền hòa

Làm nhà hướng Nam

Tục Ngữ

Nếu Trương Vĩnh Ký là người mở đầu cho cuộc đối thoại Đông Tây, thì Phạm Quỳnh mới chính là người đặt nền móng cho cuộc đối thoại ấy. Đây không phải là chuyện tài năng cá nhân, mà do sự đặt để của thời đại. Từ Trương đến Phạm là từ thời kỳ sục sôi chống Pháp của nhân dân và sĩ phu Nam Bộ đến thời kỳ mọi cuộc khởi nghĩa đã bị dẹp yên trên cả nước. Như vậy, con đường cứu nước bằng đấu tranh vũ trang cho đến bấy giờ đã tỏ ra bất cập. Trong khung cảnh ấy, con đường cách tân đất nước – con đường văn hóa – khởi từ Trương Vĩnh Ký, sau được nhiều nhà Nho duy tân tiếp bước, đã được Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong đón nhận và cụ thể hóa thành một lối đi phi truyền thống nên đã gây không ít tranh cãi, ngộ nhận.

Phải nói rằng, trước khi có đụng độ văn hóa theo trục Tây – Đông (Pháp – Nam), thì khái niệm văn hóa, nhất là văn hóa Việt Nam còn khá mơ hồ. Suốt thời trung đại, trước sự Nam tiến của đế quốc phương Bắc, thì vấn đề đau đầu nhất của dân Nam là chủ quyền lãnh thổ. Nam quốc sơn hà Nam đế cư! Lúc này, chủ quyền lãnh thổ quốc gia là sống còn, đáng để ưu tiên số một. Bởi thế, nếu có nói đến Phong tục Bắc Nam cũng khác thì cũng chỉ để nhấn mạnh vế trước, Núi sông bờ cõi đã chia. Sau đó, Việt Nam lại rơi vào một thách đố khác, cực kỳ nghịch lý: Để chống lại sự bành trướng của Trung Hoa thì, một mặt, phải xây dựng được một nhà nước quân chủ tập quyền vững mạnh như Trung Hoa, mặt khác phải có một văn hóa Nho giáo không kém Trung Hoa để giải tỏa mặc cảm “Nam man” do chính Nho giáo reo rắc. Dần dần, trong tâm thức Việt, những đụng độ Bắc – Nam (Trung Hoa – Việt Nam) chỉ còn là những xung đột thuần túy quân sự, chứ không phải văn hóa, bởi Việt Nam và Trung Hoa đã là những nước đồng văn tự bao giờ!

Khi đất nước mất về tay thực dân Pháp, việc giành lại chủ quyền lãnh thổ tạm thời bị thất bại, thì vấn đề ưu tiên hàng đầu là làm sao giữ vững được tinh thần đấu tranh giành độc lập. Dưới ảnh hưởng của thuyết Darwin xã hội qua con đường Tân thư, giới sĩ phu nói nhiều đến vấn đề nòi giống, chủng tộc, con Lạc cháu Hồng, nòi giống Tiên Rồng…, đặc biệt là hồn nước. Các nhà nho thập niên đầu thế kỷ XX đều có những bài thơ thức tỉnh hồn nước, tiêu biểu là Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc. Tuy nhiên chữ hồn của các nhà nho này chỉ cái gì đó vô hình, thiêng liêng, có khả năng tồn tại lâu dài đối lập với thể xác. Bởi vậy, khái niệm hồn nước vẫn chưa giải thích rõ như là bản sắc căn cước văn hóa dân tộc, nhất là để xây dựng một tinh thần quốc gia.

Phạm Quỳnh, với tư cách là một người làm học thuật, trên Nam Phong (số 164, 7-1931), đã viết bài Bàn về cái tinh thần lập quốc đề cập đến vấn đề này. Ông dẫn ý của văn hào Pháp Ernest Renan trả lời câu hỏi “Thế nào là một nước” mà cho rằng: “Cái nguyên tố dựng nên một nước không chỉ ở thổ địa, cư dân mà thôi, cốt là ở cái ý nguyện chung của người ta muốn cùng nhau sum vầy sinh hoạt, cùng nhau cộng thích đồng hưu, nhìn về trước ngó về sau thì cùng nhau chung một vòng hy vọng vẻ vang rực rỡ, nói tóm lại là ở cái mối vô hình nó ràng buộc người ta lại, làm thành cái đoàn thể thiên nhiên mà bền chặt, trăm nghìn vạn mớ người ta cùng nhau như một người, lâm thời có thể răm rắp đứng lên mà đối với mọi sự ngoại hoạn. Cái vô hình, tức là cái tinh thần lập quốc, tức gọi là quốc hồn”.

Như vậy, theo tác giả, nước là một thể cố kết cộng đồng, gồm hai phần xác và hồn. Xác mà vô hồn thì không phải là một thể sống hoàn chỉnh, còn hồn mà chưa nhập xác thì cũng vậy. Nhưng hồn còn thì còn có cơ chiêu về “Nhìn trên mặt đất, xét cuộc sử xanh, biết bao nhiêu nước xác thì còn mà hồn thì đã mất, lại biết bao nhiêu nước hồn thì vẫn sống mà xác không còn. Những nước thuộc hạng trên thì có cũng như không, mà những nước thuộc vào hạng dưới thì không mà vẫn có”. Vấn đề là làm sao đừng để cho cái hồn ấy tiêu tán mất, làm sao để cho “quốc hồn tỉnh tao, mạnh mẽ”.

Bởi, quốc hồn chính là văn hóa: văn hóa cổ truyền là phần hương hỏa cha ông mà chúng ta phải gìn giữ; còn văn hóa hiện đại là cái chúng ta phải xây dựng, bồi đắp. Và để làm được điều đó trước tiên chúng ta phải nhận diện văn hóa, tức phân biệt nó với chính trị. Theo Phạm Quỳnh, cái bệnh suy nhược của con người lúc bấy giờ một phần bởi ngoại cảm, còn phần lớn bởi nội thương. Phương pháp ngoại trị là thuộc về chính trị; phương pháp nội trị thuộc về tâm lý. Chính trị không có định sách, tùy tình thế, tùy cơ hội mỗi lúc một mà thay đổi phương châm, mà chuyển di kế hoạch. Tâm lý duy chỉ có một phương là bồi bổ lấy cái sức mạnh tinh thần, là nuôi nấng lấy cái quốc hồn kia cho mỗi ngày một mạnh mẽ, mỗi ngày một tỉnh táo lên.

Nhưng, cụ thể văn hóa Việt Nam là gì? Theo nghĩa căn cốt nhất, đó là quốc học. Nhưng trước khi đặt ra vấn đề quốc học Việt Nam như thế nào thì phải xem (cho đến thời điểm bấy giờ) chúng ta đã có quốc học chưa? Nếu chưa hoặc đã có thì làm thế nào để xây dựng hoặc tài bồi? Vấn đề này đã làm nổ một cuộc tranh luận. Có người cho là có, như Sở Cuồng Lê Dư chẳng hạn. Thậm chí ông này còn lập ra tủ sách “Quốc học tùng thư”. Nhưng cũng có người cho là không, như Phan Khôi. Thực ra, chuyện có hay không cũng khó phân định, vì mỗi người hiểu quốc học một cách khác nhau. Bởi thế, khi vào cuộc Phạm Quỳnh đã phải đưa ra định nghĩa về quốc học. Theo ông, nó “gồm những phong trào học thuật trong một nước, có đặc sắc với nước khác, và có kết tinh thành những sự nghiệp trước tác, lưu truyền trong nước ấy và ảnh hưởng đến các học giả trong nước ấy”. Sau đó, tuy không trả lời trực tiếp, nhưng ông lại dưa ra một nhận xét khá xác đáng và không kém phần hóm hỉnh: “Sở dĩ phải khơi ra câu hỏi đó, đủ biết rằng nếu nước ta đã từng có một nền quốc học, thì cái quốc học ấy cũng nhỏ nhen, eo hẹp, không có gì đủ đem khoe với thiên hạ”

Đi tìm nguyên nhân của tình trạng trên, Phạm Quỳnh cho rằng ấy là do “cái học của ta”, cụ thể hơn cách học. Một nước nhỏ lại đứng cạnh một nền văn minh lớn thì dù muốn dù không việc học hỏi người ta là tất yếu. Nhưng hơn hai mươi thế kỷ học Tàu mà nền quốc học của ta chưa có “môn hộ” (tức trường phái học thuật) riêng, học vấn thì chưa thoát “vòng giáo khoa” (tức chỉ quẩn quanh với tri thức học đường, kiến thức phổ thông) để lên “cõi học thuật”, còn con người thì chưa thoát nổi “tư cách học trò”, “tâm lý học trò”. Kìa như Nhật Bản, ông so sánh, người ta cũng học Tàu nhưng lại có tư tưởng học thuật riêng, bởi thế có quốc học. Có nhiều nguyên nhân, ông giải thích, nhưng có lẽ chủ yếu là do người Nhật không học theo chế độ khoa cử Tàu, còn ta “học Tàu lại chỉ thuần một phương diện cử nghiệp, là cái học rất thô thiển, không có giá trị gì về nghĩa lý tinh thần cả, mài miệt về một đường đó trong mấy mươi đời, thành ra cái óc bị tê liệt đi mà không sản xuất ra được tư tưởng gì mới lạ nữa”.

Dĩ nhiên, nỗi đau này không phải lỗi của riêng ai, Phạm Quỳnh đã phân tích các tình thế địa lý, lịch sửchính trị giữa ta (khác với Nhật) và Tàu đã dẫn đến cách học ấy. Điều này, một mặt mở ra một khả năng có thể thay đổi cách học một khi tình thế đổi thay, mặt khác cho thấy một di căn của nó đến cả thời đại Tây học. Nội dung học thì mới, nhưng cách học vẫn cũ như xưa. Bởi vậy, nói như Phan Chu Trinh xưa hủ Nho thì nay hủ Tây. Mà với tư cách học trò, nhất là trò hủ, thì vẫn thường xảy ra “cái tệ con chiên theo đạo người thường hay ngoan đạo hơn chính người nước phát hành ra đạo ấy”. (Về luận điểm “bảo hoàng hơn vua” này có thể xem thêm ý kiến của Y.Tsuboi (trong Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Nguyễn Đình Đầu dịch, Tri Thức, H., 2011) khi tác giả so sánh Nho giáo nhà Nguyễn với Nho giáo nhà Thanh, v.v và v.v). Hơn nữa, mọi học thật (thuật) một khi đã mang tính cách tôn giáo (dù dưới hình thức nào) thì cũng dễ thành học giả.

Thức nhận được thảm họa của cách học cũ (dù có thể mang lốt mới), Phạm Quỳnh đã đặt một cơ sở khoa học cho cách học mới để từ đó dựng xây một nền quốc học cho cách học mới để từ đó dựng xây một nền quốc học chân chính, một nền văn hóa mới. Đó là sự tổng hợp văn hóa Đông Tây. Thực ra, định đề này không mới, nhưng cách đặt và phân tích vấn đề thì khá thuyết phục, nhất là với tư duy bấy giờ. Thoạt tiên, Phạm Quỳnh phân biệt văn hóa Đông Tây ở hai đặc trưng lớn của nó là đạo học khoa học. “Khoa học ở đây là nói về cái phương pháp, cái tinh thần của sự học của người Thái Tây, khởi xướng ra khoa học là lối học phân ra khoa loại, đặt thành phương pháp, để cầu lấy kết quả đích xác, tìm lấy chân lý sự vật. Khoa học là phép học chỉ châu tuần trong cõi thực tế, không mơ tưởng những sự huyền vi. Khoa học là sự học lấy lý luận làm tiên phong, lấy thực nghiệm làm hậu kính, lấy sự thật hiển nhiên làm căn cứ, lấy lẽ phải tất nhiên làm mục đích”. Lối khoa học này thật mới mẻ và cũng thật khác xa với đạo học. Một đằng thì học cho đời (ứng dụng), chủ quan; một đằng thì chuộng mới, một đằng thì nệ cũ; một đằng thì càng học càng giàu có, một đằng càng học thì càng quy giản, rút lại chỉ còn mấy điều cốt yếu đủ để tự mình giác ngộ mình…

Thực ra, lối học khoa học và lối học đạo học không phải của riêng ai. Tây phương trước Phục hưng chưa có khoa học và cũng chỉ có đạo học. Nhưng rồi họ đã thực hiện một cuộc cách mạng tinh thần làm cho khoa học phát triển, dân giàu nước mạnh. Nói điều đó, hẳn Phạm Quỳnh muốn chứng tỏ rằng, các nước ngoài và sau phương Tây đã có một tiền lệ nếu muốn làm cách mạng ở nước mình. Và khoa học, xét cho cùng, cũng không có gì là mâu thuẫn với đạo học, trái lại còn bổ sung cho nó. “Cái học thụ dụng với cái học ứng dụng có thể kiêm cả cũng được. Dạy cái học thụ dụng là thuộc về cá nhân, thuộc về chủ quan, là phần riêng của mỗi người không cần và cũng không truyền dạy được; cái học ứng dụng thuộc về phổ thông, thuộc về khách quan, là chung của xã hội, có thể dùng làm lợi khí để trao đổi trí thức, để xúc tiến tư tưởng, để bồi đắp lấy một nền quốc học cho sau này được”. Như vậy, phân biệt thực chất, đặt cái nào vào đúng chỗ của cái ấy là cơ sở khoa học cho sự tổng hợp văn hóa Đông Tây, cho việc xây dựng nền quốc học mới.

Nhưng để xây dựng một nền quốc học, để thoát khỏi cảnh suốt đời làm học trò người, dù là trò giỏi, thì phải xây dựng cho được một nền quốc văn. “Nước ta sở dĩ không có một nền quốc học chân chính, phần nhiều là bởi không có một nền quốc văn xứng đáng”. Nhưng quốc văn là gì? Theo Phạm Quỳnh, đó là ngôn ngữ dân tộc (langue nationale), mà sự phát triển của nó được biểu hiện ở văn chương và học thuật. Văn chương thì chúng ta có, nhưng học thuật thì chưa. Để làm rõ kết luận này, trong bài Quốc học với quốc văn (1919), Phạm Quỳnh chia văn chương thành văn chơi văn có ích. Trước đây, cha ông ta mới chỉ có văn chơi bằng tiếng Việt, còn văn có ích thì đều bằng chữ Hán cả. Bởi thế mà tiếng ta chỉ mới phát triển phần “hình nhi hạ”, tức những từ cụ thể, giàu hình ảnh để biểu đạt tình cảm, mà không phát triển phần “hình như thượng” để có thể có tư duy trừu tượng, logíc. Ở ta, do đó, thơ ca dồi dào đến mức lạm phát, còn văn xuôi, nhất là văn luận lý, thì không có. Tiếng Việt như con chim mới chỉ bay bằng một cánh.

Đó là lỗi của việc học và dùng Hán văn (sau này là Pháp văn) làm ngôn ngữ chính thức. Học một tử ngữ là học một tử văn (culture morte). Mà, « xưa nay ở Đông phương cũng vậy, ở Tây phương cũng vậy, nước nào còn tôn sùng một cái văn hóa cổ thì không thể nào có quốc văn, có quốc học được ». Hơn nữa, quốc học là bản thể có sự thống nhất, sự đồng bộ giữa thể và chất, cứu cánh và phương tiện thì văn hóa dân tộc mới phát triển. Dùng Hán văn hoặc Pháp văn để dựng xây quốc học thì hinh chất sẽ làm hại bản thể. Bởi, ngôn ngữ không chỉ là vỏ của tư duy, mà xét cho cùng chính là tư duy. Vì thế, suy nghĩ bằng ngôn ngữ ngoại quốc thì hoặc là anh chỉ lặp lại những tư tưởng có sẵn trong ngôn ngữ đó, hoặc là anh sẽ tư duy y như người ngoại quốc. Trường hợp đầu anh sẽ trở thành một ông đồ chính hiệu (chữ đồ theo nguyên nghĩa là tô lại, lặp lại). Có thể anh cũng trở thành một người học rộng biết nhiều (bác học quảng văn), nhưng đó chỉ là cái học ký ức, chứ không phải là học trí thức ; nó không làm đầu óc ta phát triển, lòng ta say mê kiến thức, ngoại việc nhớ dai, nhất là nhớ máy móc. Trường hợp sau là của những tài năng. Học ngoại ngữ mà tư duy như người bản ngữ là tài năng. Nhất là người sáng tác được bằng ngoại ngữ. Nhưng với họ cũng sẽ xảy ra một tình trạng : một là dù giỏi đến đâu cũng không bằng người bản ngữ giỏi (thư chữ Hán Cao Bá Quát không thể hay hơn thơ Đỗ Phủ, tiểu thuyết tiếng Pháp của Phạm Văn Ký không thể hay hơn tiểu thuyết Camus), hai là một khi đã giỏi bằng họ thì sẽ không còn là mình nữa, dẫu rằng các dấu hiệu nhân chủng vẫn vậy (trường hợp các nhà văn gốc Việt thế hệ F2, F3 ở nước ngoài). Đây là những trường hợp chảy máu tài năng đáng tiếc nhất. Bởi lẽ, họ dần dần trở nên xa lạ với đồng bào, với nền văn hóa gốc của họ. Vì thế, phải phát triển ngôn ngữ dân tộc, cụ thể là xây dựng một nền văn xuôi, để chắp thêm một cánh tay nữa cho nền quốc học.

Với một sự phân tích rạch ròi, sâu sắc, với một cái nhìn nhiều dự phóng tương lai, Phạm Quỳnh đã là một trong những người đầu tiên cổ vũ và xây dựng nền quốc ngữ. Nam Phong thoạt đầu là tam ngữ : Hán, Pháp, Việt dần dần chỉ còn là tạp chí quốc ngữ. Chữ quốc ngữ với sự giản tiện của nó đã làm báo chí phát triển, phổ cập hóa rất nhanh tư tưởng và tri thức. Rõ ràng đó là một công cụ hữu hiệu. Tuy nhiên, Phạm Quỳnh vẫn chủ trương phải học chữ Hán, phải tận dụng những chữ Hán – Việt trong tiếng Việt, nhất là các thuật ngữ, để làm phong phú tiếng Việt.

Như vậy, tư tưởng chính của Phạm Quỳnh là muốn xây dựng một nền văn hóa Việt Nam không giống Tàu cũng không giống Tây, tuy có tiếp thu tinh hoa cả hai. Và, nếu nhìn đường dây tư tưởng của ông : quốc học => quốc văn => quốc ngữ, thì sẽ thấy ông không lấy quá khứ, mà tương lai làm chuẩn. Bởi vậy, nó mới chỉ là định hướng, một định hướng chiến lược, mà phải biết bao công sức nữa thì mới định hình. Phạm Quỳnh và các đồng chí của ông trong Nam Phong đã đi đầu trong việc xây đắp hình hài này.

Ngoài những bài có tính cương lĩnh như Bàn về quốc học, Quốc học với quốc văn, Văn quốc ngữ, Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây…, Phạm Quỳnh còn tích cực giới thiệu, dịch triết học phương Tây, trong đó ông coi Descartes là ông Tổ triết học Pháp, bởi lẽ ông này mở ra một thời đại duy lý, tác giả của công trình Phương pháp luận bất hủ. Rồi ông giới thiệu tư tưởng Keyserling ; giới thiệu văn chương Pháp (Văn học nước Pháp) với những thể loại mới như tiểu thuyết (Khảo về tiểu thuyết), nhà văn kiểu mới như Maupassant (Một nhà văn tả thực : Guy de Maupassant)… giới thiệu kiểu thơ mới (Thơ ta thơ Tây), nhà thơ kiểu mới (Thơ Baudelaire), giới thiệu cái đẹp (Đẹp là gì ?) như là mục tiêu của nghệ thuật, của mỹ học… Đồng thời từ cái nhìn mới của phương Tây, cái nhìn khoa học, Phạm Quỳnh đã xem xét lại cái vốn của văn hóa Đông Á như Khổng giáo luận, Phật giáo lược khảo, vốn của văn hóa Việt Nam ở tục ngữ, ca dao… Ngoài ra, Phạm Quỳnh còn cổ vũ cho sự phát triển của khoa học và nghệ thuật. Tức xây dựng một nền văn hóa Việt Nam phát triển từ từ từng bước, nhưng đồng bộ.

Là người dung hòa văn hóa Đông Tây, nhưng căn cốt Phạm Quỳnh, có lẽ, vẫn là một nhà Nho, một ông đồ Tây. Nên, cũng như một nhà Nho, ông muốn hành đạo đến cùng. Điều đó hẳn đã gây cho ông một ảo tưởng là nếu làm quan (Thượng thư bộ Học, rồi bộ Lại) thì sẽ dễ dàng đưa vào cuộc sống những tư tưởng tâm huyết của ông về việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam. Người ta cũng tiếc là ông vì việc làm quan này đã bỏ tạp chí Nam Phong để nó phải chết vào năm 1934. Nhưng thực ra, vai trò của Phạm Quỳnh và tạp chí do ông làm chủ bút với tư tưởng dung hòa văn hóa Đông Tây đã đến vãn hồi. Xã hội Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới, với một tầng lớp trí thức Tây học, muốn đoạn tuyệt với quá khứ, đưa xã hội Việt Nam nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng, theo con đường hiện đại hóa kiểu phương Tây. Họ không làm khảo cứu nữa, mà bằng những sáng tác của mình, khẳng định điều đó.

Tuy vậy, ngày nay, gần một thế kỷ trôi qua, trong hoàn cảnh dường có một cái gì đó lắp lẫn, đọc lại Phạm Quỳnh, nhất là tập Tiểu Luận (Essais 1922-1932), càng thấy quý giá cái di sản tinh thần ông để lại là đối thoại văn hóa. Nơi không có hơn kém, mà chỉ có khác nhau. Nhờ đó, Phạm Quỳnh không tự ty với văn hóa của mình, cũng không khiếp nhược trước văn hóa của người, mà thâu thái được tinh hoa của nhiều nền văn hóa. Bởi thế, trước người Pháp, Phạm Quỳnh có thể hãnh diện nói về lịch sử Việt Nam, còn trước người Việt Nam ông nói về tinh hoa văn hóa Pháp mà không hề có mặc cảm chính trị. Hẳn vì thế mà Phạm Quỳnh trở thành ngọn gió nam, làm thay đổi khí hậu của một vùng nhiệt đới oi ả.

Đ.L.T.

TIỂU SỬ VÀ TÁC PHẨM

Tiểu sử

Phạm Quỳnh hiệu Thượng Chi, Hoa Đường, sinh tại Hà Nội ngày 17/12/1892, quê làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang, Hải Dương. Bố là nhà nho mất sớm, được bà nội nuôi ăn học.Bia Nam Phong_tieng viet

16 tuổi : Đỗ đầu trường Thông Ngôn, được bổ làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ.

Từ 1913 : Cộng tác với tờ Đông Dương tạp chí.

1917 : Nhận lời làm chủ bút Nam Phong tạp chí

1922 : Được cử sang Pháp với tư cách đại diện Hội Khai Trí Tiến Đức.

1924-1932 : Được cử làm Giảng sư khoa Văn chương và ngôn ngữ Hán – Việt tại trường Cao đẳng Hà Nội.

1925-1928 : Làm Hội trưởng Hội Trí Tri Bắc Kỳ.

1932 : Vào Huế làm Ngự tiền văn phòng, rồi Thượng thư Bộ Học, Thượng thư Bộ Lại.

3/1945 : Rời chính trường. Sau cách mạng ông bị bắt ở Huế và bị thủ tiêu ở làng Hiền Sĩ, tỉnh Thừa Thiên.

Tác phẩm

Trên 210 số báo Nam Phong, Phạm Quỳnh viết rất nhiều thể loại.

– Về khảo luận : Văn minh luận ; Chính trị nước Pháp ; Luân lý học Thái Tây ; Lịch sử và học thuyết Ruxo ; Triết học Ôguyxtơ Côngtơ ; Triết học Becxông ; Văn học sử Pháp ; Khảo luận về tiểu thuyết ; Phật giáo lược khảo ; Người quân tử trong đạo Nho ; Tục ngữ ca dao ; Khảo về Truyện Kiều ; Hát ả đào ; Bàn về quốc học ; Quốc học và quốc văn…

– Về văn du ký : Trẩy chùa Hương ; Mười ngày ở Huế ; Một tháng ở Nam Kỳ ; Pháp du hành trình nhật ký ; Thuật chuyện du lịch Paris.

– Ngoài ra còn nhiều tiểu luận viết bằng tiếng Pháp, nhiều tác phẩm dịch thuật.

– Các sách in lúc đương thời gồm Nam Phong tùng thư (2 tập), Thượng Chi văn tập (5 tập) in năm 1943.

– Hiện đã in, tái bản : Mười ngày ở Huế (Văn học, 2001), Pháp du hành trình nhật ký (Hội Nhà văn, 2001), Luận văn viết bằng tiếng Pháp 1922-1932 (Tri Thức, 2007), Thượng Chi văn tập (2006).

Đ.L.T.

*

*    *

BÀN VỀ CÁI TINH THẦN LẬP QUỐC

Phạm Quỳnh

Văn hào nước Pháp Ernest Renan trong một bài đại luận đề là Thế nào gọi là một nước? có nói rằng cái nguyên tố dựng ra một nước không phải chỉ ở thổ địa nhân dân mà thôi, cốt là ở cái ý nguyện chung của người ta muốn cùng nhau xum vầy sinh hoạt, cùng nhau cộng thích (cùng lo lắng) đồng hưu (cùng vui hưởng Pham Quynh ban giaythái bình) nhìn về trước thời cùng nhau chung một cuộc lịch sử đề tạo (cấu thành) gian nan, ngó về sau thời cùng nhau chung một lòng hi vọng vẻ vang rực rỡ; nói tóm lại là ở một cái mối vô hình nó ràng buộc người ta lại, làm thành một cái đoàn thể thiên nhiên mà bền chặt, trăm nghìn vạn mớ người cùng như một người, lâm thời có thể răm rắp đứng lên mà đối với sự ngoại hoạn (tai hoạ vì giặc ngoài). Cái mối vô hình ấy, tức là cái tinh thần lập quốc, tức gọi là quốc hồn. Cái tinh thần ấy phấn chấn thời nước mạnh; cái tinh thần ấy uỷ mĩ (kém hèn) thời nước suy. Có đất có người mà cái hồn chung ấy không có thời chưa thể thành một nước được. Đất đã vào tay chủ khác, dân làm nô lệ cho người, mà cái hồn chung ấy vẫn còn, thời dẫu phân lìa tan tác, bảy nổi ba chìm, sớm trưa rồi cũng có ngày khôi phục (mất rồi lại được). Nhìn trên mặt đất, xét cuộc sử xanh, biết bao nhiêu nước xác thì còn mà hồn đã mất, lại biết bao nhiêu nước hồn vẫn sống mà xác không còn. Những nước thuộc vào hạng trên thì có cũng như không, mà những nước thuộc vào hạng dưới thì không mà vẫn có.

Cái mối vô hình đó là cái mối thần thánh thiêng liêng, dẫu áp chế cũng không làm cho tiêu diệt được, càng toả chiết (trắc trở) lại càng thêm mạnh bạo hơn; cái mối vô hình đó lại là cái mối mầu nhiệm tinh vi. Có giữ gìn chăm chút thời mới chung đúc kết tinh, nếu bỏ mặc chểnh mảng thời tất phân lìa giải tán. Đã kết tinh rồi thời rắn như kim cương, khó lòng mà vỡ ra được; đã giải tán rồi thời nhẹ như hơi khói, khó lòng mà thu lại được. Cho nên một nước quí không ở đất rộng người nhiều, mà ở cái quốc hồn tỉnh táo mạnh mẽ. Nhỏ như nước Nhật, chon von mấy cái đảo giữa bể khơi, mà oai hùng chấn động cả phương cầu; lớn như nước Tàu, bát ngát bao muôn dặm trên lục địa, mà việc nước lúng túng vẫn chửa xuôi. Là bởi cái tinh thần lập quốc của Nhật đã mấy mươi đời ma luyện (rèn luyện) bằng cái đạo võ sĩ (bushi), bằng cái phong “lãng nhân” (rônin), nay thành như một thanh bảo kiếm, vừa sắc vừa bền, không sức nào bẻ cho gẫy được. Mà cái tinh thần lập quốc của Tàu thời lại mấy mươi đời trầm trệ trong cái học hư văn (văn không thiết thực), trong cái thói hủ lậu, nay ví như một thanh gươm cùn, vừa rỉ vừa nhụt, không thể sao chống nổi với ngoài.

Như vậy thời cái tinh thần lập quốc, cái quốc hồn, là một mối thiêng liêng mà cũng là một mối sinh hoạt. Khéo gây dựng thời nẩy nở phát đạt, vụng chăm nuôi thời héo hắt tồi tàn. Cái công chăm nuôi gây dựng ấy là cái công chung của cả quốc dân. Hễ bao nhiêu người trong nước đều chung một cái ý nguyện cùng nhau kết hợp thành đoàn thể, sinh hoạt được thảnh thơi, thời cái tinh thần ấy tất bàng bạc trong xã hội mà đầm thấm cả mọi người. Nếu mỗi người chỉ biết riêng một thân mình, không thoát ra khỏi cái phạm vi cá nhân mà noi lên tới cái quan niệm về quốc gia về xã hội, cùng nhau ăn ở một đất nước chung, cùng nhau thờ phụng những tổ tiên chung, mà không biết rằng đối với nhau có cái giây liên lạc vô hình, có cái mối quan hệ mật thiết, lại kỳ thị lẫn nhau, coi nhau như kẻ Việt người Tần, gây ra cái tình trạng rời rạc, cái không khí lạnh lùng, thời cái tinh thần ấy càng ngày càng bạc nhược đi, rồi đến tiêu tán đi hết. Đã đến thế thời nước còn mà là mất, dân có cũng như không, vì chẳng qua là một mớ người ô hợp, phất phơ lơ láo, phảng phất mơ màng, chỉ thoảng qua một cơn sóng gió ở ngoài, là rụng rời tan tác như bèo giạt mây trôi vậy. Ấy cổ lai (xưa nay), các dân tộc lìa tan, các quốc gia lụn bại, cũng chỉ bởi cái ý nguyện người dân, cái tinh thần lập quốc đó suy sút bạc nhược đi mà thôi.

Pham Duy Ton - Pham Quynh - Nguyen Van VinhNói tóm lại thời nước là ở lòng người; cái nguyên tố lập ra nước là tự trong lòng người không phải ở đâu xa. Hễ người ta có cái ý nguyện muốn xum vầy để sinh hoạt cùng nhau, thế là nước thành. Cái ý nguyện ấy càng đằm thắm thiết tha bao nhiêu thời đoàn thể quốc gia càng bền chặt vững vàng bấy nhiêu. Cái ý nguyện ấy đã thấy hững hờ lạt lẽo, thời là đoàn thể quốc gia bắt đầu suy vậy.

Vậy thời theo như lời ông Renan: nước là một cái hồn, một cái tinh thần mầu nhiệm (La nation est une âme, un principe spirituel). Hồn ấy còn là nước còn, hồn ấy mất nước mới mất. Mà còn hay mất là ở cái ý nguyện của người ta, như trên kia đã nói.

Nay xét trong cái nguyên tố tinh thần lập quốc đó, có hai phần: một phần thuộc về quá khứ, một phần thuộc về hiện tại. Thuộc về quá khứ là phần lịch sử: người ta không phải là bỗng chốc mà nên con người được; một nước cũng không phải là hôm mai mà thành một nước được. Tất phải có kinh lịch mấy mươi đời đề tạo gian nan mới thành được: cái lịch sử đó là cái “tư bản” vô hình của một nước. Người ta phải có một cái “vốn kỷ niệm” chung như thế, thời mới có thể sinh tồn thành quốc gia được. Lịch sử càng lắm đoạn vẻ vang, lắm hồi khổ thống bao nhiêu, thời cái “vốn kỷ niệm” ấy lại càng phong phú bấy nhiêu. Mà trong các kỷ niệm, những cái kỷ niệm khổ thống (đau khổ) lại là nhớ lâu hơn cả, vì nó để cái vết sâu trong tâm hồn người ta: đã cùng nhau chịu khổ chịu nhục thời không bao giờ quên nhau được nữa. Thuộc về hiện tại thời đã có cái “vốn” chung như thế, phải có cái chí muốn đem cái “vốn” ấy ra mà cùng nhau mở mang, cùng nhau hưởng thụ, như cái hương hoả chung của ông cha để lại cho anh em trong một nhà vậy. Nếu chểnh mảng mà để cho cái “vốn” ấy suy sụt đi thời không những có tội với tổ tiên, mà lại có tội với hậu thế, vì cái hương hoả ấy phải truyền mãi đời đời, không được đoạn tuyệt, mà mỗi đời lại phải bồi bổ gom góp thêm mãi vào cho phong phú hơn lên.

Đã tiếp thu được cái hương hoả của đời trước, lại có cái chí nguyện thiết tha muốn bảo tồn lấy cái hương hoả ấy, khuếch trương cho nó phong phú thêm, để truyền thụ cho đời sau, đời đời kế tục nhau như thế, thời quốc vận sẽ vững vàng như Thái sơn Bàn thạch, cùng với núi sông hoa cỏ sinh tồn mãi mãi trong thiên địa gian vậy.

Như nước Nam ta, kể cũng có thể là một quốc gia hoàn toàn. Không những đất rộng người nhiều, chủng tộc, tôn giáo, ngữ ngôn, phong tục từ Nam chí Bắc cũng là một, không gì gián cách nhau, mà cái tinh thần lập quốc xưa kia cũng đã từng lắm phen tỏ ra mạnh mẽ tỉnh tao vô cùng. Không nói tự đời Trưng vương Triệu Ẩu, nước còn là bộ lạc có lẽ cái tinh thần ấy còn phảng phất mà chưa chung đúc lại thành quốc hồn; nhưng hồi Trần hưng Đạo đánh giặc Nguyên, hồi Lê Thái Tổ đánh giặc Minh, cử quốc (cả nước) đều cùng một lòng theo ông tướng tài, ông vua giỏi mà chống cự với quân ngoại địch, đến thu phục được giang sơn nước nhà ở tay kẻ cường lân (láng giềng mạnh), thời cái quốc hồn của ta bấy giờ kể cũng đã quật cường lắm vậy. Mà cái lịch sử của ta kể cũng đã vẻ vang lắm thay! Thuộc về quá khứ như thế, mà thuộc về hiện tại thế nào? Xưa kia quật cường bao nhiêu, bây giờ (1931-PT chú) xem như uỷ mĩ bấy nhiêu; xưa kia vẻ vang bao nhiêu, bây giờ xem ra suy đồi bấy nhiêu. Nhà thuật số (nghiên cứu bát quái, ngũ hành suy ra hoạ phúc con người) thời cho cái vận hội nước nhà đến hồi như thế, qua hồi này, rồi đến hồi khác, cũng giang sơn ấy, cũng anh hùng ấy, cũng có ngày vẻ vang quật cường, có kém chi xưa. Nhà tâm lý, nhà xã hội thời cho là cái tinh thần lập quốc của ta có suy nhược đi nhiều; cái chí nguyện chung của quốc dân có phần sút kém, không được vững bền như xưa; cái lòng tín ngưỡng ở tổ tiên, tự tin ở sức mình, là cái năng lực của kẻ anh hùng hào kiệt, cũng bị thời thế, bị hoàn cảnh nó tiêu ma mà mai một đi mất. Cái bệnh suy nhược của quốc gia ta ngày nay, bởi ngoại cảm cũng có, mà bởi nội thương phần nhiều. Muốn bồi bổ cho bình phục lại và phấn phát lên thời liệu trị ở ngoài đã đành mà điều dưỡng ở trong lại cần lắm. Phương pháp ngoại trị là thuộc về chính trị; phương pháp nội trị là thuộc về tâm lý. Chính trị không có định sách, tuỳ tình thế, tuỳ cơ hội mỗi lúc mà thay đổi phương châm, mà chuyển di kế hoạch. Tâm lý duy có một phương: là bồi bổ cái sức mạnh tinh thần, là nuôi nấng lấy cái quốc hồn tỉnh tao lên. Đó là cái nghĩa vụ chung của cả quốc dân. Nội thương đã trị được thời ngoại cảm tất cũng cũng phải trừ. Quốc hồn đã khôi phục thời mọi vấn đề chính trị sớm trưa ắt sẽ giải quyết xong. Cốt nhất là quốc dân phải tỉnh ngộ mà sớm nên chú trọng về phần hồn, dẫu gặp cảnh yếu hèn cũng chớ nên cam tâm yên phận, biết tin ở nước, tin ở mình, phấn phát (cố gắng) tự cường, thời trở lực nào mà ngăn được cái sức mạnh tinh thần đó? Lại cốt nhất là phải đồng tâm hiệp lực với nhau, cố kết cùng nhau, thời yếu mà cũng trở nên mạnh được, dẫu mỏng như cánh bèo cũng có thể che được mặt nước, chắn được trời xanh. Đời nhà Mạc, tướng Tàu Mao Bá Ôn muốn đem quân sang đánh nước Nam, có ý khinh nước ta, ví như cái bèo trên mặt nước, vịnh bài thơ bèo rằng:

“Cái bèo kia mọc theo ruộng nước nhỏ như cái kim mọc ở chỗ nào cũng không được sâu; cây không có gốc rễ mà không có cán (thân cây), thể sao có ruột với có cành được; chỉ biết mọc xúm lại một chỗ, rồi tan đi đâu không biết, chỉ biết lúc nổi trên mặt nước, rồi chìm lúc nào không biết; gặp khi chiều trời cơn gió ác, quét ra hồ bể biết đâu mà tìm! – Cụ Trạng Giáp Hải họa lại bài thơ ấy rằng:

“Bèo kia mọc ken như vẩy gấm, khó luồn được cái kim vào; cành rễ liền nhau mọc rất sâu. Thường cùng với đám mây ráng trên trời mà tranh mặt nước, không để cho mặt trời chiếu xuống lòng nước được. Sóng đánh nghìn trùng không phá vỡ được; gió thổi muôn lần không đánh chìm được. Nào cá nào rồng ẩn cả trong đám bèo ấy, đến cần câu ông Lã Vọng cũng không biết đâu mà tìm!”

Ấy cái bèo nước Nam ngày xưa hùng như thế; tranh được cả bạch vân (mây trắng), chắn được cả hồng nhật (mặt trời đỏ), mà dung được bao nhiêu kẻ hào kiệt anh hùng. Có lẽ ngày nay để cho phong trào thế giới quét sạch ra bể hồ hay sao? Nếu không biết cố kết lấy nhau, mọc ken như vẩy gấm, mà nối lá liền rễ cùng nhau, thì đến thế thật.

P.Q.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: