Pham Ton’s Blog

Tháng Chín 19, 2014

Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân giới thiệu thơ của học trò cũ Phạm Thị Ngoạn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:42 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 9 năm 2014.

NHÀ GIÁO NHÂN DÂN NGUYỄN LÂN GIỚI THIỆU

THƠ CỦA HỌC TRÒ CŨ PHẠM THỊ NGOẠN

Lời dẫn của Phạm Tôn: Học trò cũ Phạm Thị Ngoạn là con gái của Thượng Chi – Phạm Quỳnh. Bà sinh năm 1921 tại Hà Nội. Năm 1933 theo cha vào Huế, nơi ông làm việc tại Triều đình Huế từ 1932. Ở đó, bà đã học giáo sư Nguyễn Lân tại Trường Đồng Khánh (thường quen gọi với tên trường Áo Tím, là trường toàn nữ sinh, đồng phục là áo tím, quần trắng).

Từ điển Văn Học (Bộ mới) của Nhà xuất Bản Thế Giới năm 2004 viết về ông trong các trang 1898-1899 trên mục Từ Ngọc như sau:

Nguyen Lan chan dung(Sinh 14.VI.1906-7.VIII.2003). Nhà văn, nhà giáo, nhà hoạt động xã hội. Tên thật là Nguyễn Lân, quê ở làng Ngọc Lập, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. 1932, tốt nghiệp Trường cao đẳng Sư phạm Đông Dương. 1932-35, dạy học ở hai trường tư thục Hồng Bàng và Thăng Long. 1935-46, dạy học ở Trường Quốc học, Trường Đồng Khánh và Trường Bách công ở Huế, một trong những người sáng lập Hội truyền bá chữ Quốc ngữ ở Trung Kỳ. Cách mạng tháng Tám thành công là Ủy viên giáo dục tỉnh Thừa Thiên. 1945-46, Giám đốc Nha Học chính Trung Bộ. 1946, dạy Ban chuyên khoa Trường Chu Văn An Hà Nội. 1947-49, Giám đốc giáo dục liên khu X. 1949-51, Giám đốc giáo dục liên khu Việt Bắc. 1951-56, dạy Trường Sư phạm trung cấp, Trường Hoa ngữ, Trường Sư phạm cao cấp Khu học xá trung ương (Nam Ninh, Trung Quốc). 1956-71, dạy ở Trường đại học Sư phạm Hà Nội, Chủ nhiệm Khoa Tâm lý Giáo dục. Được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất (1962), Huân chương Độc lập hạng nhì (1991), được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân (1988), học hàm Giáo sư đợt I (1980).

Tác phẩm đầu tay: Cậu bé nhà quê (tiểu thuyết, 1925) dựng lại cuộc đời của Kim, một dân thường nghèo khổ, hết bị kẻ xấu vu oan giá họa, khiến bố bị tù, mẹ đau khổ mà chết, lại phải đi ở nơi làng quê, bán áo nơi thành thị, làm phu nơi bến cảng. Nhờ có người tốt bụng cưu mang lại hiếu học, có chí hướng, dũng cảm trị kẻ ác cứu người đẹp nên được hưởng hạnh phúc. Cốt truyện không ly kỳ nhưng diễn tả chân thực cảnh làng quê Việt Nam xưa, phê phán những hủ tục ở nông thôn, thói ăn chơi sa đọa nơi thành thị… Tiểu thuyết đã được Anfrêt Busê (Alfred Bouchet) dịch ra Pháp văn với nhan đề Le Petit compagnard. Tác phẩm thể hiện rõ khát vọng nhân đạo của tác giả trước cuộc đời bất hạnh rủi ro của trẻ em nghèo, được coi như là mở đầu cho đề tài nông thôn, có khuynh hướng hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Khói hương (tiểu thuyết, 1935) lên án lễ giáo phong kiến đè nén tình cảm con người, cảm thông sâu sắc với nỗi bất hạnh của người phụ nữ nết na, xinh đẹp nhưng không có con nói dõi tông đường, bị mẹ chồng hắt hủi. Được chú ý hơn phải kể Ngược dòng (tiểu thuyết, 1936) và Hai ngả (tiểu thuyết, 1938). Châu trong Ngược dòng là một phụ nữ có học bị dì ghẻ ép duyên, không chịu khuất phục, tạo cho mình cuộc sống tự lập, đi ngược dòng dư luận, thương yêu Mịch – một chiến sĩ cách mạng, “một người chỉ mong luyện sức và luyện trí để có thể bênh vực và dìu dắt những kẻ yếu, nghèo, những kẻ bị xã hội hắt hủi, những kẻ bị đè bẹp dưới đồng tiền của phái trưởng giả và phái tư bản”. Hai ngả có kết cấu tiểu thuyết theo lối viết thư (25 bức) ca ngợi nhân vật Thanh, người phụ nữ mới, biết đem tài sản và sức lực cải tạo đời sống người lao động, sách được Hải Triều đề tựa. Tám truyện trong Truyện ngắn Từ Ngọc (1936) như Tiếng vang, Ai khốn nạn, Học nghề văn, Nói và làm, Khẳng khái, Ngoài khơi, Chi chi ngày đầu nọc Hú vía, tập trung vào chủ đè tố cáo kẻ giàu nhưng tham lam, lên án bọn quan lại ăn hối lộ, vô trách nhiệm trước dân. Nhớ nguồn tập hợp 100 bài trong gần suốt cuộc đời cầm bút của Từ Ngọc. Từ Ngọc còn có một số công trình biên khảo đáng kể như Nguyễn Trường Tộ, (NXB. Viễn Đệ, Huế, 1941 và NXB. Mai Lĩnh, Hà Nội, tái bản 1942), ca ngợi con người tiên phong có tư tưởng đổi mới trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Để tìm hiểu Goóc-ki (NXB Thanh Niên Hà Nội, 1958), giới thiệu tấm gương lao động không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng nhân dân của nhà văn Nga M.Gorki, Khảo trích Truyện Trê Cóc (NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1959). Cùng một số nhà khoa học khác, ông còn soạn chung nhiều bộ từ điển: Từ điển chính tả phổ thông (1963), Từ điển tiếng Việt (1967, tái bản 1977 và 1991), Từ điển Pháp-Việt (in tại Pari, 1981, tái bản ở Pari và thành phố Hồ Chí Minh, 1986), Từ điển từ và ngữ Hán Việt (1989), Từ điển Việt – Pháp (cùng Lê Khả Kế, 1989, tái bản 1991). Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (1989, tái bản 1993), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Pháp – Việt (1993), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt – Pháp (1994). Trong thời kỳ làm Chủ nhiệm Khoa Tâm lý giáo dục, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, ông đã cùng các bạn đồng nghiệp soạn bộ Giáo trình Giáo dục học (1961), Lịch sử giáo dục học thế giới

Nhìn chung, những năm 30 của thế kỷ XX, Nguyễn Lân là một trong số các nhà văn đi đầu về tiểu thuyết, truyện ngắn ở miền Trung, tuy vậy, với ngôn ngữ cổ kính và cách quan niệm con người chưa thật thoát sáo, những cuốn sách ấy đã không tiến kịp bước phát triển của văn học Việt Nam mấy năm sau khi chúng xuất hiện. Đóng góp của Nguyễn Lân chủ yếu được bạn đọc ghi nhận trong lĩnh vực từ điển và trong lĩnh vực giáo dục.

Trần Gia Linh

Vui mot ngay vui 2 anh

ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU

Nguyễn Lân

Bà Liên Trang Phạm Thị Ngoạn là một Việt Kiều yêu nước về thăm Tổ quốc.

Năm 1951, từ đất Huế bà đã cùng chồng con đi sang Pháp. Ở Paris, để sinh sống, bà đã mở một cửa hàng bán sách lấy tên là “Beaux Arts – Belles Lettres”. Vừa bán hàng, bà vừa tiếp tục học tập. Cuối cùng bà đã thành công trong việc bảo vệ luận án tiến sĩ Văn Khoa (Đại học Sorbonne Pháp với nhan đề Introduction au Nam Phong (Tìm hiểu tạp chí Nam Phong – PT chú). Đến nay bà vẫn tiếp tục nghiên cứu văn học nước nhà.

Trong những năm bà còn là học sinh trường nữ học Đồng Khánh ở Huế, tôi đã có vinh dự dạy Quốc văn cho bà. Thầy trò mấy chục năm xa cách, nhưng bà vẫn nhớ đến tôi.

Năm 1988, biết được địa chỉ của tôi, bà gửi cho tôi một bài thơ, trong đó có câu: “Lòng vẫn bâng khuâng nhớ cố nhân”. Tết Tân Mùi bà lại tặng tôi bốn câu thơ:

Tân Mùi vạn sắc thắm muôn hoa

Kính chúc thầy cô hưởng thái hòa

Hạnh phúc gia đình vui tứ quý,

Thanh nhàn cảnh lão thú tam đa.”

Bà có gửi cho tôi một số bài thơ bát cú Đường Luật, và yêu cầu tôi họa.

Năm nay có dịp về thăm đất nước bà cùng một số bạn học cũ đến chơi với tôi. Nhân dịp này bà có đưa cho tôi một tập thơ lấy tên là Vui một ngày vui… mà bà muốn cho xuất bản để ghi lại dịp đã thỏa được Mơ ước hồi hương. Bà lại có nhã ý mong tôi viết đôi lời giới thiệu.

Đọc tập thơ, tôi rất mừng là dù xa nước mấy chục năm, bà vẫn giữ được phong thái một nhà thơ Việt Nam, với lời thơ rất tao nhã.

Trừ một số bài lục bát và song thất lục bát, bà sính làm thơ bát cú theo thể Đường thi.

Thường thường người ta ngại thơ Đường, vì niêm luật quá chặt chẽ, nhưng ở bà, những bài bát cú Đường Luật không những rất trôi chảy mà lại nhẹ nhàng, tự nhiên…

Đấy là về mặt hình thức, còn về nội dung thì bao trùm lên tất cả là tinh thần nhớ nước thiết tha – Xin nêu lên một số câu làm thí dụ:

Quê nhà cách trở tình sông núi,

Cố quốc xa vời cảnh nước mây…

                                                (Xuân Nhâm Tuất)

Cố quốc mịt mù mong với nhớ,

Tri âm biền biệt tiếc cùng thương…

                                   (Cảm Thu)

Vì nhớ nước, nên nhà thơ đêm ngày mong có dịp về thăm đất nước:

Tình nhà nợ nước hằng vương vấn,

Mộng thắm hồi hương chẳng chuyển thay

     (Mộng hồi hương)

Vui trong ước mộng hồi hương ấy,

Vui giữa giang sơn sướng bội phần.

     (Vui)

Đến năm nay cái mộng về thăm cố quốc đã thành sự thật, nên tại thủ đô bà đã viết Mừng ngày vui đã đến ở cuối tập thơ.

Ngoài tinh thần yêu nước, tập thơ còn chan chứa tình cảm đối với chồng với con cháu, với anh chị em, với bè bạn. Hai bài Kẻ ở người đi Nhớ Hán Thu (Hán Thu là bút danh của chồng bà, ông Nguyễn Tiến Lãng – PT chú) khiến người đọc lại nghĩ đến bài Ai tư vãn của Công chúa Ngọc Hân khóc Nguyễn Huệ.

Bài Ngày vui sum họp và bài Ngày vui gặp gỡ nói lên tình thắm thiết đối với gia đình.

Bài Duyên thơ tình bạn, bài Gửi bạn phương xa, bài Chia tay đều tỏ được tấm lòng tha thiết đối với bạn bè.

Tóm lại tuy tập thơ chỉ có vài chục bài, nhưng tâm hồn của nhà thơ đã được thể hiện một cách phong phú, đậm đà và sâu sắc.

Vậy xin chân thành giới thiệu cùng độc giả.

N.L.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Sau đây là một số bài trong tập thơ đó được Giáo sư Nguyễn Lân nhắc đến trong Mấy lời giới thiệu.

cu be ba NgoanXUÂN NHÂM TUẤT 1982

Ngoài song cành lá gió lung lay,

Nhâm Tuất đầu năm đã tới đây

Hớn hở hoa đào phô sắc thắm,

Ngạt ngào khóm cúc tỏa hương bay.

Quê nhà cách trở tình sông núi,

Cố quốc xa vời cảnh nước mây.

Tết đến cầu mong xuân vạn phước,

Đáp lòng hoài vọng chốn trời Tây.

                                    Liên Trang

                                   Phạm Thị Ngoạn

DUYÊN THƠ TÌNH BẠN…

Hội ngộ đâu ngờ có bữa nay,

Duyên Thơ tình bạn mặn nồng thay!

Đã bao năm tháng trông mong đấy

Qua vạn trùng dương mới tới đây!

Cũng bởi duyên thơ chờ ý đẹp,

Nặng vì Tình bạn đón men say

Cuộc đời mây nổi tan rồi hợp.

Vui một ngày vui lãi một ngày

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

(Tháng 7 năm 1983)

 CẢM THU

Mấy độ thu về đã lại sang,

Trời thu ảm đạm, lá thu vàng.

Nhuốm máu ủ dột mùa mưa gió

Gieo sắc u sầu cảnh tuyết sương

Cố quốc mịt mù, mong với nhớ,

Tri âm biền biệt tiếc cùng thương.

Biết ai nhắn gửi bầu tâm sự,

San sẻ cùng ta nỗi đoạn trường

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

(Yerres 7/11/1979)

Pham Thi Ngoan_Mong Tuyet

KẺ Ở NGƯỜI ĐI

Chốn dạ dài chàng – yên giấc điệp

Cõi hồng trần để thiếp bơ vơ.

Thương chàng lòng dạ ngẩn ngơ,

Nhớ chàng ngày tháng thẫn thờ khôn nguôi.

—o0o—

Khi hôm sớm dáng người quanh quất,

Lúc đêm trường phảng phất tiếng hơi

Chàng đi, đi chẳng một lời

Để ai trong khoảng đất trời tái tê

                                                                      —o0o—

Giọt lệ sầu khôn bề ngăn cản

Nỗi đoạn trường bể thảm sầu đong

Đời còn chi nữa mà mong

Người đi kẻ ở đau lòng xót thương

—o0o—

Băm sáu năm bạn đường chung sống,

Biết bao phen khổ sướng có nhau.

Biệt ly bỗng chốc vì đâu?

Để ai ngậm thảm nuốt sầu vì ai!

Liên Trang

(Mùa thu 1976)

NHỚ HÁN THU

Anh của Em, dạ dài xa thẳm,

Biết cùng ai gửi gắm tình thương?

Nhớ anh thao thức đêm trường,

Vì đâu lẻ bóng, trên đường phân ly

—o0o—

Anh của Em, những khi họp bạn,

Mượn vần thơ quên tạm nhớ nhung.

Canh khuya chợt tỉnh giấc nồng,

Một mình gối chiếc, tấc lòng quặn đau.

                    —o0o—

Anh của Em, mối sầu dằng dặc

Biết làm sao quên đặng anh ơi

Chim kia lạc bạn chân trời,

Còn nuôi hy vọng lại rồi gặp nhau.

                             —o0o—

Anh của Em, tìm đâu cho thấy,

Cách xa nhau biết mấy từng mây.

Âm Dương đôi ngả đâu đây,

Mà mong đoàn tụ sum vầy, hỡi Anh?

                              —o0o—

Anh của Em thôi đành số kiếp,

Hẹn cùng nhau nối tiếp nhân duyên.

Ba sinh sẻ phỉ mười nguyền,

Uyên ương lại chắp cánh liền cao bay.

Liên Trang

     (1981)

CHIA TAY

(Thân ái tặng Thành Tôn)

Mới đó ai ngờ đã chia phôi

Thôi đành ly biệt bạn yêu ơi!

Bạn ơi! Ly biệt sao buồn thế

Nghĩ éo le thay cái cuộc đời!

Trường Đồng Khánh Huế

1940

 

VUI

(Hưởng Thất Tuần)    

Vui Phật Trời ban hưởng thất tuần,

Vui cùng con cháu lúc nghênh xuân.

Vui nhìn bạch cúc bên hàng giậu,

Vui ngắm hoàng mai trước góc sân.

Vui ánh trăng thanh làn sóng vỗ,

Vui dòng nước biếc áng mây vần

Vui trong ước mộng hồi hương ấy,

Vui giữa giang sơn sướng bội phần.

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

Xuân Canh Ngọ 1990

NGÀY VUI SUM HỌP

Hè về gió lọt song hoa,

Bốn trời hội họp một nhà xinh xinh.

Bảy anh em thắm tình huynh đệ.

Bích Hảo Tuân Ngoạn Lệ Hoàn Viên

Chia tay đã bấy nhiêu niên

Dặm ngàn cách trở giờ nên sum vầy.

                                —o0o—

Hồi tưởng lại những ngày gian khó

Buổi loạn ly đây đó xa vời.

Trùng dương sóng gió biển khơi

Mỗi người mỗi ngả mỗi nơi an lành

                                 —o0o—

Không nỡ phụ tấc thành muôn một,

Nhờ song thân đức tốt danh cao.

Nền gia huấn nếp cần lao.

Hương thơm quả ngọt cành Dao cây Quỳnh

                                  —o0o—

Nay được buổi thanh bình hoan hỉ,

Ai dành cho anh chị em mình.

Trời Tây nắng đẹp lung linh,

Ba Lê vui đón gia đình nhà ta.

Một ngày lộng lẫy gấm hoa.

Ngọt bùi chia sử cầm ca tưng bừng.

                                 —o0o—

Nói sao hết nỗi mừng lưu luyến,

Chia cùng tôi nâng chén hẹn nhau.

Hẹn nhau mỗi một năm sau,

Ngày này tháng hạ gặp nhau một lần

Tình thân ngày một thêm thân.

Tình thân ruột thịt mười phân vẹn mười.

Yerres ngày 1/7/1984

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

“TẶNG HAI EM LAN, THỌ” (HỌA BÀI CỦA NGÔ KHÊ)

MỘNG HỒI HƯƠNG

Trời xanh trong vắt mấy tầng mây

Những muốn như chim nhẹ cánh bay

Bay tới Hoa – Đường nơi cổng cũ,

Tìm về tổ ấm chốn mơ say.

Tình nhà nợ nước hằng vương vấn,

Mộng thắm hồi hương chẳng chuyển lay

Tỏ trỗi nhạc ca mừng tổ quốc.

Đường về quê Mẹ chẳng bao ngày…

Liên Trang 1984

GỬI BẠN PHƯƠNG XA

Trời thu êm dịu gió heo may,

Tiếp cánh hoa tiên lại nhớ ngày.

Bạn đến thăm ai chiều đẹp ấy.

Lá vàng lác đác nhẹ nhàng bay…

                             —o0o—

Bên bờ tơ liễu rủ lơ thơ,

Dòng nước sông y-e ( Yerres) chảy lững lờ.

Đón khách hân hoan ngày tái ngộ.

Vui mừng còn tưởng giữa niềm mơ!

                              —o0o—

Chiều tà bóng xế bạn chia tay,

Cây cỏ đìu hiu ngọn gió lay.

Phảng phất hồn quê nơi lữ thứ,

Chân trời lặng lẽ cánh hồng bay…

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

MỪNG NGÀY VUI ĐÃ ĐẾN

Mơ mộng hồi hương đã tới đây,

Bao năm chờ đợi phút giây này!

Giang sơn gấm vóc còn nguyên vẹn

Bạn hữu thân thương chẳng đổi thay.

Mấy độ tha hương nơi đất khách,

Dăm câu tâm sự thỏa lòng ngay.

Hợp tan, tan hợp thân bèo nổi,

Vui một ngày vui, lãi một ngày!

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

Tháng 3 năm 1984

(năm Giáp Tuất)

 

Ngoài những bài giáo sư Nhà Giáo Nhân Dân Nguyễn Lân đã nhắc đến trong lời giải thích, xin mời các bạn đọc thêm hai bài họa thơ Liên Trang Phạm Thị Ngoạn của Từ Ngọc Nguyễn Lân.

     CẢM TÁC NGÀY XUÂN

       Thu vãn đông tàn lại đến xuân

       Tháng năm lần lữa cựu sang tân.

       Dạ còn lưu luyến thương quê cũ

       Lòng vẫn bâng khuâng nhớ cố nhân.

       Vận nước cầu mong nghìn phúc ấm,

     Tình nhà chúc tụng vạn hồng ân

       Cùng ai mặc khách duyên văn tự,

       Bút rắc tơ vương ghép mấy vần

Liên Trang

Tết Nhâm Thìn 17/2/1988

        MỪNG TUỔI THẤT THẬP

“NHÂN sinh thất thập cổ lai hy”

Bảy chục xuân xanh đã mấy khi!

Ơn Phật thâm sâu, còn sức mạnh

Trường đời hơn thiệt chẳng màng chi

Bạn bè thân thích tình lưu luyến,

Hòe quế an vui cảnh diệu kỳ.

Tuổi thọ hân hoan tâm chẳng bận

Tao đàn xướng họa mấy vần thi.

Liên Trang

Phạm Thị Ngoạn

Xuân Canh Ngọ 1990

 HỌA BÀI CẢM TÁC NGÀY XUÂN

  NHÂM THÌN CỦA L.T.

    Tiếp nhận tiên hoa dịp đón xuân

    Lời thơ hiền hậu vẻ thanh tân.

    Gợi bao kỷ niệm say Hương Ngự,

    Tỏ mấy tâm tình nặng nghĩa nhân.

    Vẹn nghĩa giang sơn không oán hận,

    Trọn tình sư đệ chẳng vong ân.

    Đông Tây cách trở bao sông núi

    Cảm tạ tình sâu tạm họa vần

Từ Ngọc

Giáo sư Nguyễn Lân

HỌA BÀI MỪNG TUỔI THẤT THẬP CỦA L.T.

Mừng bà tuổi đã “cổ lai hy”

Tám chín mười mươi sẽ có khi!

Một tấm tình quê còn thắm thiết,

Muôn trùng non nước có hề chi

Núi sông cảnh cũ mong chờ dịp

Bè bạn trường xưa ngóng hẹn kỳ.

Nhân đọc bài thơ mừng “Thất thập”

Cũng xin họa lại thể “Đường thi”

                 Từ Ngọc

                                         Nguyễn Lân

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: