Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 17, 2014

Hà Nội mừng 60 năm giải phóng

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:43 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 4 tháng 10 năm 2014.

HÀ NỘI MỪNG 60 NĂM GIẢI PHÓNG

*

*   *

BẢN SẮC HÀ NỘI

Kiều Hương

(Bài đăng trang 1 báo Nhân Dân ngày 10/10/2014)

60 năm xây dựng và phát triển, Hà Nội từ một thành phố nhỏ, nghèo nàn, trở thành đô thị hiện đại. Không gian đô thị Thủ đô được mở rộng với đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh, kết nối với các tỉnh, thành phố chung quanh tạo nên vùng Thủ đô rộng lớn, với hạ tầng đồng bộ, hiện đại, xứng tầm đô thị quy mô lớn trong khu vực Đông – Nam Á. Đây là tiền đề vững chắc để phát triển kinh tế – xã hội bền vững, đồng thời không ngừng lan tỏa, tạo động lực để phát triển vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước.

Một Hà Nội năng động, hiện đại

Theo các tài liệu lịch sử, kể từ năm 1010 (khi Vua Lý Thái Tổ quyết định định đô tại Thăng Long) cho đến năm 1788 (trước khi Vua Quang Trung dời đô về Phú Xuân), địa giới hành chính của Thăng Long – kinh đô của nước Đại Việt, được giới hạn trong phạm vi vòng thành ngoài cùng gọi là La Thành cCua ngo phia Tayhu vi khoảng 6 km. Bao quanh kinh đô là các con sông, với sông Hồng (đoạn chảy qua Thăng Long gọi là Nhị Hà) ở phía đông, sông Tô Lịch ở phía bắc và phía tây, sông Kim Ngưu ở phía nam, như được miêu tả trong câu ca dao quen thuộc: “Nhị Hà quanh bắc sang đông/ Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này”. Đến ngày thoát khỏi ách chiếm đóng của thực dân (tháng 10-1954), Hà Nội, khi đó là Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có diện tích 152,2km 2 , với 36 tuyến phố nội thành, bốn huyện ngoại thành, dân số 437 nghìn người.

Sau bốn lần điều chỉnh địa giới hành chính vào các năm 1961, 1978, 1991 và 2008, Hà Nội không còn là thành phố “trong sông” như ý nghĩa của tên gọi ban đầu, mà được mở rộng, bao quát cả hai bờ sông Hồng, biến dòng sông mẹ thành dải lụa hồng chảy qua trung tâm thành phố, kết nối sông Cà Lồ, sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê phía đông bắc, sông Đuống phía đông, sông Đà, sông Đáy, sông Tích, sông Nhuệ, sông Tô Lịch phía tây, tạo không gian rộng lớn, trải dài từ Ba Vì hùng vĩ gắn với truyền thuyết về Tản Viên Sơn Thánh, Sóc Sơn với đền Sóc – nơi Thánh Gióng bay về trời, đến Mỹ Đức với danh thắng Hương Tích… Sau cuộc kiến tạo lớn nhất trong lịch sử này, Hà Nội có diện tích 3.328 km 2 , dân số hơn bảy triệu người, tăng gấp 22 lần về diện tích, gấp 12 lần về dân số so với thời điểm 60 năm trước.

Không gian khu vực nội thành Hà Nội không chỉ là những khu phố cổ, khu phố kiểu Pháp như trước, mà diện tích được mở rộng hơn trước gấp 17 lần. Khu vực Từ Liêm, Gia Lâm, Hà Đông… trước đây là vùng ngoại thành hoang vu, nay là khu vực đô thị mới, đẹp đẽ và nhộn nhịp, nơi tọa lạc Trung tâm hội nghị quốc gia, sân vận động quốc gia Mỹ Đình, trụ sở của nhiều cơ quan trung ương, công viên phần mềm, các khu dân cư Mỹ Đình, Mễ Trì, The Mannor, Việt Hưng, Dương Xá, Vinhomes Riverside…, mang phong cách kiến trúc hiện đại. Không gian đô thị của Thủ đô được tổ chức theo chùm đô thị, gồm khu vực đô thị trung tâm là khu vực nội thành hiện nay và năm đô thị vệ tinh: Hòa Lạc, Sơn Tây, Phú Xuyên, Xuân Mai, Sóc Sơn, nằm cách trung tâm 30 km về các hướng, không chỉ giảm tải cho đô thị lõi, mà còn tạo động lực để phát triển kinh tế – xã hội.

Cùng với sự mở rộng về không gian là hệ thống giao thông khá đồng bộ, hiện đại. Trong khu vực nội thành, các tuyến đường vành đai 1, vành đai 2, vành đai 2,5, vành đai 3, vành đai 3 trên cao đã và đang hoàn thành, đưa vào sử dụng, với hệ thống hầm chui, cầu vượt, tạo điều kiện giao thương, phát triển kinh tế – xã hội một cách nhanh chóng, thuận lợi. Khái niệm “cửa ô” đối với Hà Nội hôm nay được hiểu với nghĩa rộng hơn, bởi kết nối từ đô thị trung tâm đến các đô thị vệ tinh là hệ thống đường vành đai kết hợp trục hướng tâm, có liên kết với mạng lưới giao thông liên vùng và quốc gia. Đại lộ Thăng Long, quốc lộ 32 được đầu tư hiện đại, rút ngắn khoảng cách từ trung tâm thành phố đến các đô thị vệ tinh: Hòa Lạc, Sơn Tây, tạo điều kiện cho Khu Công nghệ cao Hòa Lạc thu hút các dự án lớn về công nghệ – đào tạo, khai thác tiềm năng du lịch, văn hóa của Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam, Thành cổ Sơn Tây, làng cổ Đường Lâm, các khu du lịch dưới chân núi Ba Vì… Cầu Thanh Trì, cầu Thăng Long kết nối đường cao tốc bắc Thăng Long – Nội Bài, quốc lộ 5, quốc lộ 18, quốc lộ 3… rút ngắn hành trình từ Hải Phòng, Quảng Ninh đến cửa ngõ hàng không, lên biên giới phía bắc. Đường 5 kéo dài mới được thông xe sẽ kết nối cầu Nhật Tân, cao tốc Nhật Tân – Nội Bài, quốc lộ 2 (Hà Nội – Lào Cai)… không chỉ thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội vùng đô thị phía bắc sông Hồng của Hà Nội, mà còn giúp việc vận chuyển, giao thương giữa các trọng điểm kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh thuận lợi, hành lang kinh tế xuyên Á (Côn Minh – Hà Nội – Quảng Ninh) thuận tiện, dễ dàng hơn trước rất nhiều.

Hà Nội đang bắt nhịp với các đô thị lớn trên thế giới bằng hệ thống vận tải hành khách công cộng hiện đại. Năm 2015, tuyến xe buýt nhanh Yên Nghĩa – Kim Mã và tuyến tàu điện trên cao đầu tiên Cát Linh – Hà Đông sẽ đi vào hoạt động, kết nối các loại hình vận tải hiện có tạo nên mạng lưới giao thông công cộng nhanh, thuận tiện, an toàn và hiện đại, đủ sức đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, tháo gỡ những “nút thắt” trong giao thông đô thị hiện nay.

Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang, nguyên Phó Giám đốc Đại học quốc gia Hà Nội nhận xét: “Hà Nội đang đổi thay từng ngày. Nếu ai đi xa chưa có dịp về lại Thủ đô trong 10 năm trở lại đây sẽ không khỏi ngỡ ngàng, thậm chí không thể nhận ra một Hà Nội năng động, hiện đại như bây giờ…”.

Hài hòa giữa bảo tồn và phát triển

Hà Nội phát triển nhanh, hiện đại hơn, to đẹp hơn trước, nhưng không vì thế mà làm phai nhạt những giá trị bản sắc. Với bề dày lịch sử hơn 1.000 năm tuổi, với gần 5.200 di tích, trong đó hơn 1.000 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 1.270 làng nghề truyền thống, nhiều cụm di tích thắng cảnh, công tác bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa Thăng Long – Hà Nội được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, nhằm gìn giữ truyền thống, bản sắc văn hóa, để Hà Nội có sức hút không chỉ với khu vực Đông – Nam Á, châu Á – Thái Bình Dương, mà còn cả với thế giới.

Trong khu vực nội đô lịch sử (giới hạn từ phía nam sông Hồng đến đường vành đai 2), thành phố hạn chế phát triển công trình cao tầng, giảm mật độ xây dựng và mật độ cư trú, bảo tồn đặc trưng, cấu trúc đô thị cũ và bảo vệ phát huy các giá trị cảnh quan các công trình kiến trúc có giá trị văn hóa – lịch sử – tôn giáo, kiến trúc đặc trưng các thời kỳ. Các di tích lịch sử – văn hóa, các thành cổ, làng cổ, di tích cách mạng, tôn giáo tín ngưỡng, nhất là các tiểu khu trong khu vực nội đô lịch sử bao gồm: Trung tâm chính trị Ba Đình, khu di sản Hoàng thành Thăng Long, khu phố cổ, khu phố cũ, khu vực hồ Gươm và phụ cận, khu vực hồ Tây và phụ cận, được khoanh vùng bảo vệ và có quy chế kiểm soát chặt chẽ các hoạt động bảo tồn, hoạt động xây dựng và hoạt động tham quan khác. Thành phố quy hoạch và xây dựng các khu đô thị mới ngoài vành đai 2. Người dân khu phố cổ được “giãn dân” bằng cách di chuyển tới khu đô thị mới Việt Hưng (quận Long Biên). Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, bệnh viện, trường đại học lớn được di dời khỏi nội đô, được bố trí tại các đô thị vệ tinh hoặc các khu công nghiệp lớn, giảm áp lực về hạ tầng, môi trường trong khu vực trung tâm, đồng thời tạo động lực đô thị vệ tinh phát triển.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua năm tháng chiến tranh, Hà Nội vẫn giữ vẻ đẹp riêng của mình. Tiến sĩ Ca-thơ-rin Mu-lơ Ma-rin, Trưởng văn phòng đại diện UNESCO tại Việt Nam, từng ca ngợi: “Hà Nội là nơi quy tụ nhiều di sản nhất Việt Nam, trong đó có nhiều di sản thế giới quý giá và có sức hút lớn”. Những di sản đó đã trở thành thế mạnh của Thủ đô để phát triển du lịch. Đại diện nhiều doanh nghiệp lữ hành lớn cho biết, Hà Nội là điểm đến không thể thiếu trong chương trình du lịch của hầu hết khách nước ngoài khi đến Việt Nam. Du khách thường có nhận xét, họ thích đến Hà Nội, bởi ở đây, họ cảm nhận được sự thanh bình, giản dị, nhịp sống chậm hơn so với những thành phố khác trong khu vực…

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, việc giải quyết xung đột giữa yêu cầu bảo tồn và nhu cầu phát triển của xã hội không phải là đơn giản, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan như sự gia tăng dân số quá lớn, dẫn đến sự quá tải trên toàn hệ thống hạ tầng, nguồn lực đầu tư xây dựng khó khăn, năng lực quy hoạch, xây dựng, quản lý, vận hành còn hạn chế… Những “bài toán” cụ thể luôn xuất hiện trong sự vận động của xã hội như câu chuyện về bảo tồn làng cổ Đường Lâm, đề án di dời, giãn dân phố cổ, tổ chức tuyến phố đi bộ chung quanh hồ Hoàn Kiếm, giao thông tĩnh trong khu vực nội đô… đòi hỏi thành phố phải có các giải pháp linh hoạt, song vẫn bảo đảm những nguyên tắc nhất quán để giải quyết hài hòa hai vấn đề bảo tồn và phát triển, để Thủ đô phát triển bền vững, hiện đại mà vẫn giữ được bản sắc văn hiến của thành phố nghìn năm tuổi.

K.H.

—o0o—

NHÌN LẠI CHẶNG ĐƯỜNG 60 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

Gia Minh

(Bài đăng Trang Hà Nội báo Nhân Dân số ra ngày 10/10/2014)

Đã 60 năm sau ngày giải phóng, Hà Nội từ một thành phố nhỏ bé, lạc hậu về mọi mặt đã trở thành một đô thị lớn, ngày càng khang trang, hiện đại. Quá trình “thay da đổi thịt”, vươn tầm và khẳng định vị thế đó đã được tái hiện lại một cách sống động, chân thực trong Triển lãm Thành tựu kinh tế – văn hóa – xã hội của Thủ đô 60 năm xây dựng và phát triển.

Chỉ sau ba ngày mở cửa, triển lãm đã thu hút gần mười nghìn lượt người đến tham quan. Trong đó, có hơn 500 khách đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc và nhiều đoàn khách của các cơ quan, đoàn thể và các tỉnh bạn… Hầu hết người xem đều đánh giá triển lãm được tổ chức trang trọng, ấn tượng, nhiều tư liệu có giá trị, xứng tầm là một sự kiện chính trị quan trọng chào mừng Kỷ niệm 60 năm Ngày giải phóng Thủ đô. Bác Trần Thanh Hòa, ở Nghĩa Tân (quận Cầu Giấy) dẫn hai cháu nhỏ đến triển lãm chia sẻ: “rất nhiều những hình ảnh, hiện vật thú vị ở triển lãm đã giữ chân ba bà cháu ở triển lãm cả một buổi sáng. Bắt gặp những đồ vật, hình ảnh một thời quen thuộc, những câu chuyện về Hà Nội những năm 80, 90 của thế kỷ 20 chợt ùa về, bác kể cho hai cháu nhỏ nghe mãi mà không hết”.

Khu trung bay trung tam cua trien lamToàn bộ triển lãm được thiết kế theo không gian mở với sự kết nối và liên thông liên tục, thống nhất giữa các khu. Đặc biệt, khu trung tâm được thiết kế theo các vòng tròn đồng tâm, giống lối kiến trúc lòng chảo, giúp người xem có thể quan sát dễ dàng. Ở giữa là biểu tượng cột rồng thời Lý, tượng trưng cho Thăng Long – Hà Nội nghìn năm văn hiến. Chung quanh là các hình ảnh, hiện vật thể hiện những giá trị tinh hoa của Hà Nội qua các giai đoạn phát triển; các sản phẩm tiêu biểu, đặc sắc của Hà Nội… Từ tấm lụa tơ tằm, chiếc đèn kết từ mây tre cho đến những thiết bị máy móc hiện đại mà người Hà Nội làm ra được chọn lọc, trưng bày trang trọng. Ngoài ra, triển lãm còn có năm khu trưng bày theo từng lĩnh vực với sự tham gia của hơn 20 sở, ban, ngành, đoàn thể và các tỉnh lân cận. Thường xuyên có các cán bộ thuyết minh của bảo tàng và các sở, ngành túc trực để giới thiệu, hướng dẫn cho khách tham quan.

Tại khu trưng bày thành tựu kinh tế có nhiều số liệu biểu thị, hình ảnh, hiện vật, sản phẩm, mô hình tiêu biểu thể hiện quá trình xây dựng, phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế trong các hoạt động công nghiệp, thương mại, đầu tư, tài chính ngân hàng, xây dựng, giao thông, đô thị… của Thủ đô. Khu trưng bày thành tựu văn hóa – xã hội thì tái hiện các thành tựu văn hóa, thể thao, du lịch, y tế, giáo dục, lao động xã hội, thông tin truyền thông, đối ngoại, xây dựng chính quyền của Thủ đô qua chặng đường lịch sử 60 năm. Đến với khu trưng bày thành tựu an ninh – quốc phòng, người xem như được sống lại không khí hào hùng của những chiến công oanh liệt mà quân, dân Thủ đô đã chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, cũng như trong xây dựng, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, còn có khu trưng bày thành tựu công tác MTTQ và các đoàn thể và khu trưng bày thành tựu của một số tỉnh đồng bằng sông Hồng như Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nam… Sự góp mặt của các tỉnh lân cận đã thể hiện sự liên kết giữa Thủ đô với các tỉnh, thành phố đồng bằng sông Hồng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; trong chương trình “Hà Nội với cả nước, cả nước với Hà Nội”.

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đánh giá, triển lãm không chỉ khái quát, giới thiệu và quảng bá những thành tựu nổi bật của Thủ đô qua một chặng đường phát triển, mà còn thể hiện tình cảm và đạo lý uống nước nhớ nguồn của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Thủ đô với các thế hệ đi trước. Qua đó, góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị quý báu của mảnh đất Thăng Long – Hà Nội, tạo động lực để nỗ lực, phấn đấu xây dựng Thủ đô giàu đẹp.

—o0o—

HÀ NỘI, THÀNH PHỐ DU LỊCH HẤP DẪN HÀNG ĐẦU CHÂU Á

Khánh Vy

(Bài đăng Trang Hà Nội của báo Nhân Dân số ra ngày 30/9/2014)

Trong nhiều năm qua, Hà Nội liên tục được độc giả các tạp chí du lịch uy tín trên thế giới bình chọn là một trong sáu thành phố du lịch hấp dẫn hàng đầu châu Á, một trong mười điểm du lịch đang nổi lên trên thế giới, đứng thứ hai trong số mười thành phố có chất lượng dịch vụ khách sạn tốt nhất thế giới… Thành phố đang từng bước khẳng định vị thế là trung tâm du lịch lớn của cả nước và khu vực.

Đa dạng các hình thức quảng bá

Trong những năm gần đây, xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, ngành du lịch Thủ đô luôn quan tâm công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, để hình ảnh du lịch Hà NDu lich Ha Noiội đến gần hơn với du khách trong và ngoài nước. Mặc dù nguồn kinh phí dành cho công tác này chưa lớn, song ngành du lịch tận dụng cao nhất mọi phương thức quảng bá đến các thị trường du lịch trong và ngoài nước nhằm thu hút ngày càng nhiều hơn khách du lịch đến Thủ đô. Nhiều buổi xúc tiến giới thiệu tiềm năng du lịch độc lập và kết hợp, nhiều chương trình hội chợ du lịch, liên hoan du lịch, nhiều kỳ họp quốc tế về du lịch… được ngành du lịch thành phố tổ chức hoặc tham gia.

Trong hai năm 2013 – 2014, ngành du lịch thành phố tổ chức, tham gia nhiều hoạt động như: Năm Du lịch quốc gia vùng đồng bằng sông Hồng, Năm Du lịch Tây Nguyên – Đà Lạt 2014, Hội chợ Du lịch quốc tế Việt Nam – Hà Nội, Liên hoan du lịch làng nghề Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, phối hợp huyện Mỹ Đức tổ chức Lễ hội du lịch chùa Hương và sắp tới là Liên hoan du lịch làng nghề Hà Nội… Thông qua các hoạt động đó đã giới thiệu được tiềm năng du lịch tự nhiên, văn hóa lịch sử, nhân văn, làng nghề, ẩm thực…, những tua, tuyến du lịch, các dự án kêu gọi đầu tư du lịch… Không ít những thỏa thuận hợp tác giữa ngành du lịch thành phố với các địa phương trong cả nước, giữa các doanh nghiệp du lịch với nhau, giữa thị trường du lịch trong nước và nước ngoài được ký kết tại các kỳ liên hoan, hội chợ.

Theo Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội Mai Tiến Dũng, ngoài thị trường trong nước, ngành du lịch Hà Nội đặc biệt quan tâm việc quảng bá hình ảnh Thủ đô đến các thị trường trọng điểm trên thế giới. Các kỳ họp tại Hội đồng xúc tiến du lịch châu Á, Mạng lưới các thành phố lớn châu Á thế kỷ 21 đều được thành phố tham gia thường xuyên. Ngành du lịch Hà Nội cũng quan tâm quảng bá tại những thị trường trọng điểm như Pháp, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, một số nước Đông Âu và ASEAN… Ngành du lịch còn tổ chức các đoàn khảo sát của doanh nghiệp lữ hành nước ngoài, các đoàn báo chí đến khảo sát du lịch Hà Nội và vùng phụ cận. Hà Nội cũng quảng bá trên các website du lịch uy tín của thế giới như Trip Advisor, Smart Travel Asia, quảng bá trên một số kênh truyền hình Nga…

Chính vì vậy, số lượng khách quốc tế đến Hà Nội ngày càng tăng. Năm 2013, có 2,5 triệu lượt người, chiếm khoảng 30% số lượng khách quốc tế đến Việt Nam.

Không ngừng nâng cao chất lượng các tua du lịch

Phó trưởng Ban Khách quốc tế và nội địa – Câu lạc bộ Lữ hành Hanoi UNESCO Hà Nội, Phó Giám đốc Công ty Asialand Travel Từ Thị Mỹ Hạnh khẳng định: “Hiện Hà Nội là điểm đến không thể thiếu trong chương trình du lịch của hầu hết khách nước ngoài khi đến Việt Nam. Du khách thường có nhận xét, tham quan ở Hà Nội cảm nhận được sự thanh bình, giản dị, nhịp sống chậm hơn so với những thành phố khác và họ thích đến Hà Nội hơn”. Chính vì vậy, cùng với tăng cường quảng bá, xúc tiến du lịch, Hà Nội cũng quan tâm nâng cao chất lượng du lịch gồm chất lượng sản phẩm du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch, chất lượng dịch vụ du lịch nhằm thu hút ngày càng nhiều khách du lịch đến Hà Nội. Trong đó, việc khai thác tiềm năng xây dựng những sản phẩm du lịch mới, nâng cấp các điểm đến truyền thống được ưu tiên hàng đầu. Bởi đó là điều kiện cần để làm cơ sở thu hút khách đến tham quan Thủ đô. Hiện, thành phố đang quy hoạch phát triển khu du lịch Ba Vì – Suối Hai thành Khu du lịch quốc gia, quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở hạ tầng giao thông và các loại hình phương tiện vận chuyển khách phục vụ phát triển du lịch Thủ đô đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Ngành du lịch đang xây dựng đề án phát huy giá trị không gian lễ hội Gióng, phục vụ phát triển du lịch bền vững tại huyện Gia Lâm và Sóc Sơn, đề án phát triển du lịch cộng đồng khu vực Ba Vì, đề án nâng cấp điểm đến, khai thác phát triển du lịch làng cổ Đông Ngạc tại quận Bắc Từ Liêm, khai thác các chương trình nghệ thuật truyền thống phục vụ phát triển du lịch… Dưới góc độ người làm lữ hành, bà Từ Thị Mỹ Hạnh đánh giá: Hà Nội luôn có sự đa dạng hóa sản phẩm, liên tục đổi mới sản phẩm du lịch, giá tham quan ổn định là những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp giữ giá tua, thu hút khách nhiều hơn nữa trong thời gian tới.

Ngành du lịch Hà Nội cũng thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn. Bên cạnh đó, tăng cường công tác thanh, kiểm tra nhằm chấn chỉnh tình trạng lộn xộn trong hoạt động du lịch nếu có xảy ra. Ngoài ra, ngành tăng cường liên kết với các địa phương trong cả nước nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh du lịch của mỗi địa phương, tăng cường trao đổi khách hai chiều, đầu tư du lịch… Thời gian gần đây, Sở Văn hóa -Thể thao và Du lịch Hà Nội thực hiện hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Hải Phòng… Năm 2014, Hà Nội phấn đấu đón 14 triệu lượt khách du lịch trong nước, ba triệu khách du lịch quốc tế. Lãnh đạo Sở Văn hóa -Thể thao và Du lịch Hà Nội khẳng định: Nếu triển khai tốt các nhiệm vụ trên, chắc chắn ngành du lịch sẽ khai thác tối ưu các tiềm năng, thế mạnh của mình, phát triển hiệu quả và bền vững, từng bước đưa Hà Nội trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn trên thế giới và trong khu vực.

K.V.

—o0o—

NƠI TÀI HOA HỘI TỤ

Chí Dũng

(Bài đăng trang 1 báo Nhân Dân ngày 5/10/2014)

Trong mạch chảy nghìn năm của Thăng Long – Hà Nội, có biết bao con người làm rạng danh văn hiến Thăng Long, biết bao nghệ nhân góp phần tạo nên các phường thợ được mệnh danh là “khéo tay nghề, đất lề Kẻ Chợ”… Mảnh đất “rồng chầu, hổ phục” không chỉ là nơi tài hoa mọi miền tụ về, mà còn là nơi những tài năng ấy đơm kết thành tinh hoa. Cái mạch chảy ấy vẫn luôn bất biến, để Thủ đô hôm nay, nối tiếp niềm tự hào tinh hoa Tràng An…36 phố nghề ở khu phố cổ Hà Nội chỉ là con số phiếm chỉ.

Nếu thống kê những phố nghề truyền thống, phải đến cả trăm. Nghề nào cũng có những nét đặc biệt. Giản dị như con dấu gỗ, giá chỉ bằng hai bát phở, có thể gặp ở bất cứ góc phố nào cũng chứa đựng bao nét tài hoa. Cầm trong tay con dao khắc, người thợ bỗng hoá thành nghệ sĩ, thoáng chốc, một bức tranh hiện lên trên mẩu gỗ mỗi chiều chỉ chừng 2 cm. Nhưng nếu đặt con dấu gỗ cạnh những đồ chạm bạc, thì vẫn thua rất xa về độ tinh xảo… Dẫu vậy, nếu được chọn một nghề xứng đáng được gọi là “tinh hoa của tinh hoa” trong khu phố cổ, tôi chọn nghề khắc chữ trên những quả chuông đồng…

Ông Nguyễn Đăng Hiển ở phố Hàng Vải tự nhận mình là một người thợ đồng. Còn với tôi, từ “nghệ nhân” với ông có lẽ vẫn còn khiêm tốn. Khi ông cầm cây dùi đục bên quả chuông, người ta ngỡ như một thư gia đang phóng ra những nét bút đầy khí lực. Tay búa, tay đục, tiếng lách cách khi nhặt khi mauNghe nhan chuong dong… Những nét chữ Nho hiện dần lên trên quả chuông mầu xám cùng với nhịp búa. Đây là nét “tà điểm” (nét chấm nghiêng) mềm mại, đây là “sổ” (nét thẳng đứng) dứt khoát, khỏe khoắn… Cây dùi đục trong tay ông khi tàng, khi lộ với phong thái thư gia. Buổi làm việc kết thúc, cũng là lúc những bài kệ, bài minh hiện lên lấp lánh trên quả chuông.

Chạm đồng khó. Chạm chữ Nho trên đồng là đỉnh cao, đòi hỏi phải tinh thông nghề chạm, lẫn tinh thông Hán học. Ông Hiển sinh năm 1946 trong một gia đình làm đồ đồng ở làng Quảng Bố (huyện Lương Tài, Bắc Ninh). Cụ thân sinh ra ông sớm đưa gia đình lên Hà Nội lập nghiệp. Gia đình vốn có truyền thống Nho học nên cậu bé Hiển học Tam tự kinh, Tam thiên tự từ nhỏ. Ngày cầm dùi đục học nghề đồng, tối luyện bút lông. Khi sành cổ học, cũng là lúc thạo nghề chạm đồng. Một lần, có người nhờ ông khắc những chữ Nho lên quả chuông đồng. Ngày ấy, để khắc chữ lên quả chuông đồng, người ta đặt một tờ giấy viết chữ lên thân chuông, rồi cầm dụng cụ gõ lên theo những nét chữ lên tờ giấy. Chữ viết sẽ hằn lên trên mặt đồng. Sành Nho học, ông Hiển thấy “tức cười”. Làm thế chẳng khác nào viết thư pháp… bằng bút bi, còn đâu hồn cốt, tâm thế của người cầm bút? Ông nhớ trên những quả chuông cổ, trên bề mặt đồng, mà nét chữ được chạm như chữ viết của bậc đại bút. Nguyễn Đăng Hiển nảy ra ý định chạm chữ trên đồng. Nghệ thuật chạm chữ trên đồng thất truyền. Ông mày mò tự học. Bề mặt đồ đồng cứng. Để tạo chiều sâu cho nét chữ, mỗi nhát đục, là một lần thân chuông được khoét sâu vào. Không thể gõ quá nhẹ. Quá mạnh tay thì nét đục lạc khỏi khuôn khổ. Chữ Nho lại có những yêu cầu chặt chẽ lối viết, cùng một nét, nhưng phải bảo đảm “đầu nặng, đuôi nhẹ”. Có những nét như nét chỉ được phép chạm mong manh không bằng đầu tăm mà lại vẫn phải phân biệt được với nét chữ tương tự. Viết chữ trên giấy, nếu chẳng may viết sai có thể thay tờ giấy khác, chạm chữ trên đồng thì không. “Thánh Quát” xưa treo tóc lên đầu rèn chữ, thì với “thiết bút” (bút sắt, tức cây dùi đục) Nguyễn Đăng Hiển cũng còng lưng luyện chữ trên đồng… Những người nặng lòng văn hóa cổ mau chóng nhận ra bậc “kỳ bút” Nguyễn Đăng Hiển từ những tác phẩm đầu tiên. Cứ muốn khắc chữ trên chuông là người ta tìm đến ông Hiển. Khắc chữ theo lối “viết bút bi” thi thoảng vẫn có người làm. Riêng chạm kiểu “tách tỉa” như ông Hiển chỉ có một. Từng nét chữ có độ khúc xạ ánh sáng, có chiều sâu rất đẹp. Chưa ai không kinh ngạc trước tay chạm của ông Hiển.

30 năm làm nghề, chạm gần 5.000 quả chuông đồng, ông Nguyễn Đăng Hiển chưa tìm được học trò chân truyền. Người biết nghề đồng tìm đến ông học, thấy chữ Nho khó quá, bỏ cuộc. Lớp thư pháp ông dạy có hàng trăm học sinh giỏi Hán tự, nhưng sờ đến cây dùi đục lại phát sợ. Chưa ai dám theo nghề. Có lẽ gọi ông là “thư pháp gia trên đồng” mới phù hợp.

Phố nghề là đặc sản của Hà Nội. Phố nghề, đứng ở vị trí trang trọng trong bề dày văn hóa ngàn năm. Nhưng nếu hỏi phố nghề nào được tạo nên bởi chính những con người sinh ra ở mảnh đất này? Sẽ là câu hỏi khó trả lời. Tôi từng rất ngưỡng mộ những người được xem là người Hà Nội gốc. Nhưng khi hiểu về lịch sử các con phố, tôi bắt đầu thấy băn khoăn… Lập nên phố Hàng Đào xưa là người dân làng Đan Loan (Bình Giang, Hải Dương) và một số làng có nghề nhuộm ở Bắc Ninh. Phố Hàng Mành vốn “của” người làng Giới Tế (Yên Phong, Bắc Ninh). Thợ bạc Châu Khê (Hải Dương) là những người góp phần lập ra phố Hàng Bạc… Có thể kể rất nhiều thí dụ. Bộ mặt văn hóa Thăng Long do bàn tay của những con người ở khắp mọi miền Nau phochung đúc lên. Nhưng cũng không khó để nhận ra, những con người tứ xứ ấy đã “khác”, khi về với Thăng Long – Hà Nội. Điều gì đã xảy ra khi người ta tụ về đất này? Liệu những nghệ nhân như ông Nguyễn Đăng Hiển và bao nhiêu người thợ khác có trở nên tài khéo đến tuyệt kỹ nếu họ cứ ở những làng quê xa xôi thay vì đến với kinh đô – Thủ đô?

Nói đến văn hóa Hà Nội, không thể không nói đến ẩm thực. Nói đến ẩm thực, đầu tiên phải là món phở. Nghệ nhân ẩm thực Vũ Ngọc Vượng, chủ của chuỗi bốn, năm quán phở thương hiệu “phở Ngọc Vượng” bảo rằng: “Cho đến giờ, không có tài liệu xác thực nào khẳng định phở có nguồn gốc từ Nam Định hay Hà Nội. Nhưng có điều chắc chắn rằng, phần lớn chủ những hiệu phở của Hà Nội suốt những năm qua là người gốc Nam Định”. Thông tin này có thể làm những người yêu “Hà Nội gốc” chạnh lòng. Song quả không sai. Nam Định có cả làng nghề phở – làng Vân Cù, ở huyện Nam Trực. Người làng Vân Cù lập nghiệp ở Hà Nội từ thời Pháp thuộc đến giờ. Ngay đến quán phở 48 phố Hàng Đồng, quán phở Chất (phố Khâm Thiên) – những quán được coi là “rất Hà Nội”, chủ quán cũng là người gốc thành Nam thì đủ biết phở Nam Định có ảnh hưởng đến ẩm thực Thủ đô thế nào. Có một điều thú vị là nhiều chuyên gia ẩm thực nhận định: Bát phở của những người gốc Nam Định nấu ở Hà Nội thanh tao hơn phở thành Nam. Không ít người còn cho rằng, phở Hà Nội còn ngon hơn! Đem điều này hỏi Vũ Ngọc Vượng – một “người trong cuộc”, anh là người làng Vân Cù nấu phở ở Hà Nội – anh bảo rằng, trên “nền” cái công thức chung, khi đi đến đâu, người làng Vân Cù đều có những thay đổi cho phù hợp với khẩu vị địa phương. Người Hà Nội sành ăn, phong vị người Hà Nội tinh tế, người nấu phở phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu là lẽ tất nhiên. Câu trả lời của nghệ nhân ẩm thực Vũ Ngọc Vượng dành riêng cho phở. Nhưng, cũng có thể coi đây là lời lý giải về văn hóa Hà Nội nói chung. Là đất “sơn chầu, thủy tụ” nên Thăng Long – Hà Nội có sức hút người tài khéo các vùng. Khi đến đây, sự thanh nhã, tinh tế trong các nếp ứng xử, trong hưởng thụ văn hóa của người Hà Nội đã góp phần làm những tài năng ấy được thăng hoa.

Chẳng phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu không thừa nhận khái niệm “người Hà Nội gốc”. Hà Nội “tụ nhân, tụ thủy”. Suốt nghìn năm, có bao nhiêu anh tài tứ phương đã đến và làm rạng danh văn hiến Thăng Long. Từ năm 2010, TP Hà Nội trao tặng danh hiệu “Công dân Thủ đô ưu tú”. Mỗi năm chỉ có mười người. Những con người được vinh danh thời gian qua đều đem đến sự nể phục ở những góc độ khác nhau. Và nếu tìm hiểu tiểu sử những con người ấy, càng hiểu thêm bốn chữ “tụ nhân, tụ thủy”. Những con người ưu tú nhất của Thủ đô hôm nay, người đến từ miền trung, xứ Nghệ, người đến từ vùng văn hóa xứ Đông, người đến từ xứ Nam… Hẳn rất nhiều người ngạc nhiên khi biết cố nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc, nhà Hà Nội học, một người “rất Hà Nội” lại sinh ra ở Hưng Yên. Một công dân Thủ đô ưu tú khác, người được xem là người “giữ nếp văn hóa Tràng An” với hơn 30 đầu sách về Hà Nội – nhà nghiên cứu Giang Quân thì đến từ huyện Cẩm Giàng, Hải Dương. Tôi từng “căn vặn” bác Giang Quân về văn hóa Hà Nội, khi gần đây xã hội xuất hiện những biểu hiện tiêu cực trong văn hóa ứng xử, khi làn sóng nhập cư ngày càng nhiều, có chiều hướng lấn át những người Hà Nội lâu năm. Nhà nghiên cứu thừa nhận những mặt tiêu cực là có thật. Song ông tin tưởng vào sự trường tồn của cái đẹp: “Những người mới đến vẫn quen nếp sống ở các vùng, chưa phù hợp với đời sống đô thị. Nhưng dần dần, họ sẽ phải thích nghi, phải học theo cái hay, cái đẹp của người Hà Nội. Khi chúng ta kết hợp với những chính sách phù hợp, những nét văn hóa không phù hợp với Thủ đô sẽ bị đào thải bởi thời gian”.

Hà Nội hôm nay khác xa so với thành phố nhỏ bé hồi mới được giải phóng. Hà Nội rộng hơn, vươn cao hơn, và cũng có nhiều thành phần dân cư hơn. Tôi nhớ câu chuyện của nghệ nhân ẩm thực Vũ Ngọc Vượng. Thuở nhỏ anh sống ở quê. Lớn lên, anh chọn Hà Nội lập nghiệp. Năm 2006, khi còn rất trẻ, anh được trao giải nhất trong cuộc thi nấu phở tại khách sạn Sofitel Metropole – một giải thưởng danh giá khi có sự góp mặt của nhiều “bàn tay vàng” ẩm thực đất Hà thành. Hiện sở hữu chuỗi quán phở ở Hà Nội, anh ấp ủ một ngày nào đó, sẽ mở rộng ra đến các nước trên thế giới. Bởi phở Hà Nội không thua kém bất cứ món ăn quốc tế nào. Anh sinh năm 1977, nay người ta hay gọi là thế hệ 7x – hiện thân của một thế hệ trẻ dám nghĩ, dám làm. Hy vọng lắm, một ngày kia, Vũ Ngọc Vượng làm rạng danh cho phở Hà Nội trên trường quốc tế. Và cũng hy vọng lắm, sẽ tiếp tục có thêm những thế hệ 8x, 9x tiếp tục gắn bó, xây dựng Thủ đô thêm giàu đẹp. Nghĩ đến dòng chảy của văn hóa Thăng Long – Hà Nội, những con người đã và đang góp phần xây dựng Thủ đô, tôi bỗng nhớ lời thơ của Nguyễn Phan Quế Mai: “Tôi không được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội/Hà Nội tự sinh ra và tự lớn trong tôi”…

C.D.

—o0o—

ĐỌNG LẠI TRONG MẮT AI

Ghi chép của Nhã Khanh

(Bài đăng Trang Hà Nội báo Nhân Dân số ra ngày 26/5/2014)

Người từ miền nam ra, Việt kiều từ mãi tận Ca-na-đa, Mỹ, Ô-xtrây-li-a về, du khách nước ngoài lần đầu đặt chân đến Hà Nội, đi đâu thì đi, nhưng không thể không tìm đến quán phở gia truyền giữa phố cổ.

Ai chưa một lần chồn chân, mỏi gối đứng xếp hàng cả tiếng đồng hồ, mướt mải mồ hôi, hay co ro trong mưa phùn gió rét, để được bưng bát phở nghi ngút khói, ngào ngạt mùi vị chỉ nơi này mới có, thì coi như chỉ mới ghé qua Hà Nội, chứ chưa thật sự nếm hương vị đặc trưng, cô đọng tinh túy ẩm thực của mảnh đất này. Có những người thưởng thức xong bát phở là vội vã ra sân bay. Họ mang theo ấn tượng xứ sở này với đậm đà mùi vị phở, hương thơm cà-phê đen đặc khó nhạt phai trong ký ức…

Lẫn trong dòng người xếp hàng kiên nhẫn dưới lòng đường, có du khách đã quay trở lại lần thứ hai.

Không hẳn chỉ vì yêu, vì nhớ phở, nhưng từ hơn mười lăm năm nay, sau lần rời xa Hà Nội, nay quay trở lại, chỉ mới đến đầu phố, anh đã nhận ngay ra mùi vị phở vẫn giữ nguyên, chẳng hề thay đổi sau chừng ấy năm. Y như vẫn nhận ra người thân quen dù bao năm xa cách. Rón rén bưng bát phở đầy ụ, sang quán cà-phê kề bên, ngồi ké cùng bàn với tôi, anh nở nụ cười mãn nguyện, ngây thơ như trẻ con. Trông anh dùng đũa khéo léo, cho thêm vài lát ớt tươi, đủ biết là người chẳng còn lạ lẫm với Hà Nội. Nhiều thứ thay đổi quá, không thể nhận ra, nhà cửa, phố xá và cả con người, anh nhận xét.

Cuộc sống là vậy, như một dòng sông.

Nếu sông không chảy nữa thì đó là dòng sông chết. Một thành phố cũng có khác gì một con người, phải lớn lên, phổng phao, trưởng thành. Nhưng đổi thay đến đâu thì vẫn phải giữ lại những nét, dấu ấn không thể phai nhạt, lẫn với ai khác, nơi nào khác. Thay đổi đến mức không làm sao nhận nổi đường nét, tính cách, ngay cả “hơi thở”, mùi vị ngày trước, tức là tự đánh mất mình. Bát phở đã vơi một nửa, người khách nước ngoài xa lạ bỗng chốc hóa thân quen. Lần đầu đặt chân đến Hà Nội từ hơn chục năm trước, anh vẫn nhớ mùi vị đậm đà món phở đặc sản cổ truyền. Giờ quay lại, giá có đắt hơn trước, nhưng nước vẫn trong, vẫn ngọt tự nhiên. Không nhẽ, anh nói, thời gian trôi đi mà cái cốt chất ấy chẳng hề tan loãng, nhạt đi ít nhiều?

Lặng im lắng nghe một ông khách Tây, vừa thưởng thức bát phở gia truyền vừa triết lý về sự đổi mới của Hà Nội, tôi thầm thán phục sự tinh tế, sâu sắc của ông. Mới gặp nhau một lần, có thể là duy nhất, cớ gì phải đưa đẩy cho vừa lòng nhau. Ngồi ở góc tối khuất trong quán cà-phê này dễ chừng hơn hai chục năm, ngẫu nhiên gặp và quen những gương mặt lạ lẫm, rồi quên. Chưa bao giờ có ai, nhìn vào đáy bát phở phố cổ, rồi cô đọng suy ngẫm về những chuyển biến bề nổi của một thành phố có chiều dày lịch sử như Hà Nội. Hỏi anh, ngoài phở, còn có thứ gì khác ấn tượng khó quên nên mới lặn lội, quay trở lại? Nheo đôi mắt xanh trong veo nhìn ra ngoài đường, vừa chợt thấy một người phụ nữ dắt xe đạp chở đầy hoa tươi, vành nón lá nghiêng che vạt nắng thu hanh hao, anh đáp, với tôi, đó là hình ảnh đẹp nhất, chứ không phải những ngôi nhà cửa kính kín bưng, chồng chất ba bốn tầng. Tôi đã lang thang ở Hà Nội khi lần đầu đặt chân tới, rồi bị mê hoặc, khó dứt ra nổi. Trước khi tới, tôi đã lục tìm trong thư viện những cuốn sách viết về lịch sử khu phố Pháp cũ do kiến trúc sư Hebrar thiết kế, dựa theo tầm nhìn của cựu Thống chế thuộc địa, người muốn biến Hà Nội thành một Pa-ri thu nhỏ, một “thành phố nhà vườn”. Lần trước và lần này trở lại, có thể đếm được những biệt thự vẫn như còn nguyên vẹn. Tuyệt vời nhất là được thong thả dạo bước dưới những hàng cây sóng đôi, rậm rạp, xanh rì. Chậm bước đi dưới tán cây râm mát che rợp vỉa hè, rắc đầy những hạt nắng thu vàng, tôi cứ cảm thấy như vẫn nhận ra dấu chân của mình từ lần trước. Vẫn những viên đá lát mòn dấu chân bao người, vẫn những chiếc lá vàng lặng lẽ rụng rơi. Cầm tách cà-phê đen không đường, không sữa bốc khói nóng hổi, mà tôi mời, người khách từ phương trời xa lắc chợt trầm ngâm.

Anh chậm rãi, tôi đã lang thang tới nhiều thành phố lớn, cuối cùng nhận ra Hà Nội là thành phố xanh nhất, yên tĩnh nhất. Khi bước đi trên những phố xá đông đúc, qua những biệt thự kiểu Pháp, rồi ghé vào những ngôi chùa yên tĩnh, tôi hiểu cái cốt chất của con người dường như vẫn đậm đặc như hương vị cà-phê phin này. Những món ăn nhanh như Kentucky, KFC, uống nhanh như Lipton, Dihmat hay cà-phê Starbuck, khó chen chân, lấn sân nếp sống, lối thưởng thức chậm rãi, từ tốn của người dân gốc Hà Nội. Tôi cười, anh có những cảm nhận và cảm thông chẳng khác gì người đã sống ở đây nhiều năm. Có lẽ, vì yêu thành phố này đến mức mê mẩn, nên anh không thấy tiếc nuối những mất mát, mà chỉ những người sinh ra, lớn lên, hít thở không khí, thấm đẫm nắng mưa, gió rét thì mới nhận thấy từng ngày, tháng năm. Tôi nhìn anh giọng điềm tĩnh, có những cái mất trông thấy. Mất một làng hoa, mất cả một dinh đào nổi tiếng mấy trăm năm hay hai rặng ổi la đà mép nước hồ Tây. Gần đây, người ta đang rục rịch chặt hàng cổ thụ ven hồ Thủ Lệ cho dự án tàu điện metro đầu tiên. Còn nhiều hàng cây, tuổi đời hơn gấp mấy tuổi người bị chặt bỏ không thương xót cho những trung tâm thương mại, siêu thị chói gắt nắng hắt ra từ nhôm kính. Theo năm tháng, những khoảng trống mất mát cứ loang rộng trong lòng lớp người như tôi, ngày thêm trống rỗng, khó mà lấp đầy. Khó thế, nhưng còn dễ so với những thứ đã mất chẳng nhìn thấy, chỉ cảm thấy, mất hẳn và đang mất dần. Một thoáng im lặng giữa hai chúng tôi. Ngoài đường, xao xác chút heo may lúc giao mùa. Lãng đãng dăm chiếc lá vàng rụng chơi vơi ngay trước hè phố. Mùa hè chưa qua, mùa thu thì chưa đến.

Một ngày trải qua đủ bốn tiết trời.

Người đàn ông châu Âu chợt trở nên hào hứng giãi bày, không phải ngẫu nhiên, vô tình tôi trở lại nơi này vào đúng lúc giao mùa, để gặp lại cái cảm giác đổi thay. Giao mùa cũng gần giống như giao thời, làn sóng đô thị hóa đang từ từ nhấn chìm những kiến trúc xưa cũ. Nhà trong phố cổ mang nét đẹp “vị kỷ”, mỗi nhà mỗi kiểu dáng, mà cả dãy phố mặt tiền lô nhô, thiếu hẳn cái bản sắc riêng biệt, chỉ cần lướt mắt là du khách như tôi nhận ra ngay.

Vậy điều gì níu chân anh quay lại, tôi ngắt lời có phần đường đột. Thoáng chút đắn đo, suy ngẫm, anh nói sau khi uống cạn tách cà-phê, cảm giác hỗn độn có phần xô bồ của Hà Nội là có thực. Nhưng tôi vẫn bị quyến rũ bởi những thứ lắng đọng chìm sâu dưới cái ồn ào, huyên náo, bụi bặm. Tôi đã ngồi cả tiếng đồng hồ bên ven hồ công viên, ngắm tụi trẻ nô đùa, những người già nhảy trong tiếng nhạc dìu dặt. Thời gian dường như chậm lại, ngưng tụ với những người ngồi bất động buông câu sát mép nước lặng sóng, với những ông già trầm ngâm bên bàn cờ. Dù là ngoài phố xá xe máy, ô-tô chen chúc, lấn lướt, người ta vẫn thản nhiên ăn uống trên vỉa hè, đốt vàng mã nghi ngút. Dù là nhịp sống gấp gáp, vội vã cuốn theo dòng chảy thời gian, nhưng tôi vẫn thầm tin rằng, những gì lắng đọng lại thì sẽ còn mãi. Nếu không, tôi và không ít khách du lịch, chẳng có cơ hội trở lại. Không thể quên câu nói của anh, một người lạ hóa nên quen, tôi bắt chặt tay anh bảo: “Những gì lắng đọng lại thì còn mãi”. Có lẽ chỉ người đứng từ xa, đứng ngoài mới có đôi mắt, góc nhìn chuẩn như vậy chăng? Những gì đọng lại trong mắt, sẽ còn mãi, như những tấm ảnh đen trắng khó phai mờ.

—o0o—

GIỮ GÌN BẢN SẮC KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ HÀ NỘI

Hải Chi

(Bài đăng Trang Hà Nội báo Nhân Dân ra ngày 23/9/2014)

 Từ sau ngày giải phóng Thủ đô (10-10-1954) đến nay, hạ tầng đô thị của Hà Nội đã phát triển không ngừng. Cùng với sự gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, các công trình văn hóa, công trình hạ tầng kỹ thuật hiện đại được cải tạo và xây mới theo quy hoạch.

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, thành phố phải đối mặt với nhiều thách thức, bất cập, cần phải nỗ lực vượt qua.

Không ai có thể phủ nhận một thực tế, sau 60 năm xây dựng và phát triển, bộ mặt Thủ đô Hà Nội to đẹp hơn, khang trang, hiện đại hơn rất nhiều. Hà Nội đã trở thành một đô thị lớn của khu vực. Trong tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, thành phố luôn chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị các công trình kiến trúc tiêu biểu tập trung tại bảy tiểu khu trong khu vực nội đô lịch sử bao gồm: Trung tâm chính trị Ba Đình, khu di sản Hoàng thành Thăng Long, khu phố cổ, khu phố cũ, khu vực hồ Gươm và phụ cận, khu vực hồ Tây và phụ cận và khu vực hạn chế phát triển. Vì thế, trải qua bao thăng trầm, qua các cuộc kháng chiến, Hà Nội vẫn giữ vẻ đẹp riêng của mình.

PGS,TS Phạm Hùng Cường, Hiệu phó Trường đại học Xây dựng Hà Nội từng ca ngợi: “Hà Nội có rất nhiều không gian trữ tình, sâu lắng. Không gian khu phố cổ vừa cổ kính, vừa sống động, khu phố kiểu Pháp yên tĩnh rợp bóng cây, Hồ Gươm nước xanh biếc, lãng mạn những buổi sương sớm, hồ Tây xanh ngát với những đầm sen, sông Hồng nước đỏ phù sa…”.

Cùng với việc bảo tồn các công trình kiến trúc tiêu biểu, trong 60 năm qua, nhất là từ năm 1986 đến nay, tốc độ xây dựng, mở rộng các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình kiến trúc trên địa bàn thành phố diễn ra nhanh chóng. Các công trình giao thông đầu mối như sân bay quốc tế Nội Bài, các cây cầu lớn bắc qua sông Hồng, sông Đuống như cầu Thanh Trì, Vĩnh Tuy, Nhật Tân, Đông Trù, hệ thống đường vành đai của thành phố như đường vành đai 1,2,3, các tuyến đường cao tốc: Đại lộ Thăng Long, Bắc Thăng Long-Nội Bài, Pháp Vân-Cầu Gioe… được xây dựng và đưa vào sử dụng.

Hàng loạt các khu đô thị mới ra đời trên những khu đất trước kia là sình lầy, ruộng trũng như Trung Hòa-Nhân Chính, Linh Đàm, Mỹ Đình, Định Công, The Mannor…

Nhiều công viên, vườn hoa mới được xây dựng đẹp, hệ thống cấp, thoát nước, xử lý môi trường từng bước được triển khai xây dựng theo quy hoạch…

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Hà Nội gặp phải nhiều bất cập trong quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan như sự gia tăng dân số quá lớn, dẫn đến sự quá tải trên toàn hệ thống hạ tầng, nguồn lực đầu tư xây dựng khó khăn, năng lực quy hoạch, xây dựng, quản lý, vận hành còn hạn chế, những mâu thuẫn nảy sinh giữa bảo tồn và phát triển, giữa yêu cầu phát triển kinh tế và kỷ cương trật tự đô thị…

Phó Giám đốc Sở Quy hoạch- Kiến trúc Hà Nội, kiến trúc sư Bùi Xuân Tùng, thừa nhận thực tế hiện nay còn nhiều khu vực, tuyến phố ở Hà Nội nhếch nhác, vẫn còn tình trạng nhà siêu mỏng, siêu méo…

PGS, TS Phạm Hùng Cường cũng phản ánh, Hà Nội đẹp nhưng cái đẹp dường như chỉ giới hạn và giữ được bản sắc trong phạm vi nhỏ, gói gọn trong khu phố cổ, khu phố kiểu Pháp, chung quanh hồ Tây…

Ra ngoài vành đai 2, các công trình còn thiếu bản sắc.

Vậy cần thực hiện những giải pháp nào để giải quyết những mâu thuẫn nêu trên? Kiến trúc sư Bùi Xuân Tùng nêu ba nguyên tắc kiểm soát kiến trúc. Đó là bảo đảm đô thị phát triển bền vững giữa bảo tồn chỉnh trang khu vực nội đô lịch sử với việc xây dựng các khu đô thị mới, giữa khu vực đô thị và nông thôn; gìn giữ và phát huy các giá trị tiêu biểu của các khu vực hình thái đặc thù của Thủ đô; hoàn thiện đồng bộ quy hoạch các cấp; xây dựng hoàn chỉnh các quy chuẩn, quy định, quy chế quản lý quy hoạch – kiến trúc các khu vực quan trọng, tuyến đường chính, làm công cụ cho công tác quản lý, kiểm soát phát triển.

Về hình thái không gian, phải kiểm soát, khớp nối không gian chung của nhiều địa bàn, cũng như định hướng các khu vực trọng tâm trọng điểm để tạo dựng các tuyến, khu vực công trình. Mỗi khu vực được quy định cụ thể về không gian, quy mô tầng cao, kiến trúc công trình, để kiểm soát không gian, kiến trúc công trình tại mọi địa bàn trên thành phố. Đối với các khu vực đặc thù, cần kiểm soát, quản lý công trình cao tầng khu vực nội đô lịch sử gồm bốn quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa, khu phố cổ, khu phố cũ… nhằm gìn giữ các khu vực không gian kiến trúc đặc thù, truyền thống.

Để quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan hai bên tuyến đường, các nút giao thông, tạo bộ mặt kiến trúc công trình hai bên đường đẹp, văn minh, hiện đại, cần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa kiến trúc trên toàn tuyến đường với việc mở tuyến đường mới, xử lý triệt để các trường hợp nhà “siêu mỏng, siêu méo” kết hợp với chỉnh trang đô thị. Thành phố sẽ tập trung ưu tiên lập quy hoạch, thiết kế đô thị để tập trung nguồn lực đầu tư hoàn chỉnh các khu vực quan trọng, các tuyến đường chính như khu tây hồ Tây, đường vành đai số 2, 3… kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái bằng cách giữ gìn không gian, cải tạo các công viên, hồ nước…

Thực hiện Chương trình 06-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội về “Đẩy mạnh công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý quy hoạch giai đoạn 2011-2015”, Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, từ năm 2011 đến nay, thành phố đã phối hợp với các bộ, ngành trung ương, các cơ quan, đơn vị và nhân dân tổ chức xây dựng triển khai các đồ án quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch vùng huyện; các quy hoạch chuyên ngành; các đồ án quy hoạch chi tiết, các tuyến đường chính đô thị, các khu vực đặc thù và chức năng đô thị quan trọng. Thành phố cũng hoàn chỉnh các quy chế, quy định quản lý quy hoạch – kiến trúc, quy hoạch xây dựng tại khu vực nông thôn theo định hướng Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô…, từng bước đưa Hà Nội thành một đô thị phát triển theo hướng đa hệ, bản sắc, văn minh và hiện đại.

H.C.

—o0o—

CÔNG DÂN GIÀ ƯU TÚ CỦA THỦ ĐÔ

Vũ Đồng

(Bài đăng trang 14 báo Tuổi Trẻ số ra ngày 12/10/2014)

Lớp học đặc biệt này đã có 17 năm nay. Cô giáo là bà Hồ Hương Nam, 82 tuổi, trú ở P.Yên Phụ, Q.Tây Hồ (Hà Nội).

Học sinh của bà là những đứa trẻ khuyết tật, hội chứng Down, thiểu năng trí tuệ, tự kỷ, câm điếc.

Sau hơn 30 năm giảng dạy tại Trường tiểu học Hoàng Hoa Thám (Q.Ba Đình, Hà Nội), năm 1989 bà Nam nghỉ hưu. Năm 1993 bà xin làm công tác dân số gia đình trong khu phố. Bà nói: “Mỗi lần đi như thế, tôi thấy nhiều cháu khuyết tật cứ lủi thủi, quanh quẩn ở góc nhà. Nhìn xót lắm”. Ý định tập hợp những em này để mở lớp học của bà Nam bắt đầu từ đây.

Thành công đầu tiên là gia đình của hai em Nguyễn Thùy Trang (bị thiểu năng trí tuệ) và Nguyễn Kim Thoa (hội chứng Down) nhiều lần từ chối cuối cùng đã đồng ý cho con theCong dan gia uu tuo lớp học của bà. Sau một tháng bố mẹ của Trang, Thoa bất ngờ khi thấy các em biết lễ phép chào hỏi, viết được một số chữ cái ngay ngắn, tròn trịa. Cứ thế, tin đồn lan ra, lớp học ngày một đông hơn, từ hai em rồi sáu em, tám em…

Từ phòng học mượn của khu dân cư số 6 ở P.Yên Phụ, nhiều người lại thấy mấy bà cháu lếch thếch qua nhà trẻ trong phường. Năm 2002 cô trò được Trường THCS An Dương (P.Yên Phụ) dành một phòng học khang trang. “Thật tốt khi lớp học lại được ở trong ngôi trường này. Đây cũng là môi trường phù hợp để các em hòa nhập với cộng đồng, thế giới bên ngoài” – bà Nam nói.

Để duy trì lớp học, bà Nam gom góp từ 2,3 triệu đồng tiền lương hưu cộng với 1 triệu đồng tiền người con trai chu cấp mỗi tháng để lo từng cây bút, cuốn sách, cuốn vở đến những món quà vặt như bánh kẹo, hoa trái khích lệ các em.

Bà nói: “Dạy các em thật khó. Khó vì các em chưa thể tập trung, đứa thì ngủ, đứa thì chạy lung tung, đứa ngồi trong lớp cứ ngổ ngáo, đứa thì hét lên…”. Bà Nam chia các em thành các nhóm nhỏ để kèm cặp. Các em bị hội chứng Down, thiểu năng trí tuệ, tự kỷ một nhóm.

Nhóm của các em bị liệt, rồi nhóm của những em câm điếc. Ngày nào bà cũng ân cần đến cầm tay từng em uốn nắn từng con chữ. Nhận thức của các em rất chậm nên cách dạy của bà luôn đa dạng kiểu “tùy cơ ứng biến” và phải luôn có hình minh họa. Điều này đã khiến các em dần tiếp thu được bài.

Lớp học giờ đây đã tiến bộ rõ rệt. Các em từ chỗ không biết đọc, viết thì giờ hầu hết viết chữ rất đẹp, biết làm các phép tính trình độ lớp 2 đến lớp 5. Những em trước đây cứ ngơ ngẩn, không có ý thức thì giờ đã biết lễ phép chào hỏi.

Ông Đặng Quang Phụng (phụ huynh em Đặng Viết Thắng, học trò của cô Nam) kể: “Gia đình tôi buồn lắm khi con sinh ra đã không được bình thường. Khi được một số người giới thiệu đến lớp học của bà Nam, một thời gian tôi thấy cháu khác hẳn. Biết lễ phép chào hỏi rồi viết đọc được, tôi mừng chảy cả nước mắt. Từ đó tôi luôn kiên trì chở cháu đến lớp và thỉnh thoảng ngồi học luôn cùng cháu. Bà Nam đã thay đổi cả cuộc sống gia đình tôi”.

Nhiều lần các phụ huynh có ý định quyên góp để hỗ trợ cho lớp học nhưng bà Nam kiên quyết không nhận mà chỉ nói: “Các anh, các chị cố gắng duy trì chở các cháu đến lớp mỗi ngày là tốt lắm rồi”. Bà Nam rất bất ngờ khi biết mình là một trong mười “Công dân thủ đô ưu tú” vừa được UBND TP Hà Nội tuyên dương. Bà nói: “Phần thưởng 10 triệu đồng này tôi dành hết cho lớp. Các em sẽ có thêm những dụng cụ học tập mới”.

V.Đ.

—o0o—

NGHĨA CỬ CAO ĐẸP

            Xuân Bách

(Bài đăng Trang Hà Nội báo Nhân Dân số ra ngày 12/9/2014)

Những ngày gần đây, câu chuyện về 16 thanh niên, sinh viên nhóm du lịch mạo hiểm Phong Vân không ngại nguy hiểm, trong đêm tối vẫn tìm đường xuống vực sâu cứu các nạn nhân trong vụ tai nạn giao thông tại Sa Pa (Lào Cai), đã trở thành chủ đề nóng trên các diễn đàn mạng xã hội. Ðó là một nghĩa cử cao đẹp, rất đáng biểu dương của các bạn trẻ.

Vào dịp nghỉ lễ 2-9, 16 thanh niên, sinh viên trong nhóm du lịch mạo hiểm Phong Vân lên kế hoạch đi chơi, ngắm cảnh tại Hoàng Su Phì (Hà Giang). Tối 29-8, cả nhóm xuất phát bằng xe máy đi theo cung đường: Hà Nội – Hoàng Su Phì – Xín Mần – Lào Cai – Sa Pa – Ô Quy Hồ – Mù Cang Chải rồi trở về Hà Nội. Khoảng gần 19 giờ ngày 1-9, khi cả nhóm đang leo dốc Tòng Sành trên quốc lộ 4D từ TP Lào Cai lên Sa Pa thì bất ngờ chứng kiến chiếc xe khách giường nằm phía trước văng khỏi đường, lao xuống vực. Những âm thanh rợn người dội lại trong đêm tối. Phần lớn các thành viên trong nhóm đều bị sốc vì chưa từng gặp cảnh tai nạn kinh hoàng, thảm khốc như thế bao giờ. Sau khi lấy lại bình tĩnh, các bạn trẻ đã kịp thời thông báo tới các đơn vị chức năng để ứng cứu người bị nạn, đồng thời dùng đèn pin, điện thoại soi đường, mò mẫm trườn xuống vực sâu gần 200 m để cấp cứu, di chuyển các nạn nhân khỏi hiện trường.

Lê Thị Diệu, sinh năm 1992, sinh viên Học viện Ngân hàng, một thành viên nữ của nhóm kể lại, khi tận mắt chứng kiến sự Nghia cu cao depviệc, em đã bật khóc vì sợ hãi. Nhưng gạt những giọt nước mắt, cô gái dũng cảm cùng mọi người trong đoàn, tìm kiếm nạn nhân, làm nhiệm vụ sơ cấp cứu những người còn sống sót. Ðêm hôm trước Diệu bị ốm và phải uống thuốc hạ sốt, không đủ sức nâng đỡ người bị thương, Diệu nhờ các bạn hỗ trợ. Sau khi giúp các nạn nhân, cô mệt lử, được các bạn đưa vào trạm y tế để truyền nước vì bị tụt đường huyết. Bạn Nguyễn Thị Quỳnh Trang, phóng viên báo điện tử Vnexpress khi gặp những thi thể đầu tiên, chân tay bủn rủn vì sợ hãi, nhưng cố gắng sơ cứu các nạn nhân bị thương. Thiếu bông, băng, Trang và các bạn đã dùng dao rạch gối tựa, ghế ra để lấy bông cầm máu cho các nạn nhân. Sau đó, sử dụng các giường nằm trên xe ô-tô làm băng cáng, đưa các nạn nhân lên phía trên. Các bạn còn có sáng kiến xin người dân địa phương các đoạn dây thừng để kéo cáng lên phía trên thuận tiện. Một số thanh niên trong nhóm còn dùng cờ-lê cắm chắc vào các vách núi, để di chuyển được dễ hơn… Trực tiếp tận mắt chứng kiến vụ tai nạn thảm khốc và là những người đầu tiên lần tìm xuống vực sâu cứu người, Ngô Ðăng Giáp, sinh viên năm thứ ba Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho biết: “Lúc đó, chúng tôi chỉ kịp nghĩ, nếu chậm trễ thì hàng chục người sẽ không có cơ hội sống sót, vì thế mọi người đều cố gắng hết sức để nhanh chóng sơ cứu các nạn nhân”. Trong đêm tối thăm thẳm, Giáp đã cùng các bạn sử dụng đèn pin, điện thoại di động để soi đường, bám theo từng mỏm đá, vách núi xuống vực để tìm kiếm người bị nạn, tiến hành sơ cứu và cố gắng đưa họ lên khỏi vực sâu.

Ghi nhận những nghĩa cử cao đẹp của các bạn trẻ, Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, Trung ương Ðoàn, Thành Ðoàn Hà Nội đã tặng bằng khen cho 16 thanh niên, sinh viên trong nhóm vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong việc tham gia cứu nạn. Không chỉ đánh giá hành động cao cả và dũng cảm này xuất phát từ tấm lòng, tinh thần cứu người trong hoạn nạn, tại lễ trao thưởng, Bộ trưởng Giao thông vận tải Ðinh La Thăng đề nghị các thành viên của nhóm trong hành trình khám phá, trải nghiệm cần học hỏi thêm kinh nghiệm, mở mang kiến thức để sau này trở thành nhóm nòng cốt tuyên truyền an toàn giao thông tới mọi người.

X.B.

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: