Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 24, 2014

Bảo tồn và phát huy vốn văn hóa nghệ thuật dân tộc ở Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ta

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 1:20 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 10 năm 2014.

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VỐN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

DÂN TỘC Ở CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TA

*

*   *

GIỮ GÌN DI TÍCH CHO MUÔN ĐỜI SAU

(Bài đăng Trang Hà Nội bào Nhân Dân ngày 30/9/2014)

Phú Cường

Hà Nội có hệ thống di tích dày đặc, với hơn 5.000 di tích. Hệ thống di tích này góp phần làm cho bức tranh di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội thêm phong phú, là tiềm năng để phát triển du lịch, dịch vụ, nhưng đồng thời cũng đặt ra trách nhiệm nặng nề trong việc quản lý, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích.

Kho tàng lịch sử, văn hóa vô giá

Nói đến Hà Nội, du khách trong nước cũng như bạn bè quốc tế không mấy người không biết đến Di tich co lonhững địa chỉ văn hóa như: Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu – Quốc Tử Giám, đền Ngọc Sơn và khu vực hồ Hoàn Kiếm, đền Phù Đổng, đền Hai Bà Trưng, đình Tây Đằng… Nếu như Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long là một trong những trung tâm chính trị của các thời đại phong kiến Lý – Trần – Lê, thì Văn Miếu – Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, là minh chứng cho truyền thống hiếu học của nước nhà. Đền Hai Bà Trưng (huyện Mê Linh) là một trong những biểu tượng về khí phách anh hùng của phụ nữ Việt Nam; đình Tây Đằng (huyện Ba Vì) với phong cách kiến trúc vô cùng độc đáo, thờ Tam vị thánh Tản Viên (Sơn Tinh, Cao Sơn, Quý Minh) – những anh hùng văn hóa, biểu trưng cho sức mạnh dân tộc trong việc đánh giặc ngoại xâm, trị thủy, bảo vệ mùa màng…

Ngoài những di tích đặc biệt nêu trên, Hà Nội còn có hàng trăm di tích cách mạng kháng chiến. Đó là Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Vạn Phúc (quận Hà Đông) – nơi Bác Hồ viết “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” vào tháng 12-1946, là chùa Một Mái trong khu di tích chùa Thầy (huyện Quốc Oai) – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ ngày 3-2 đến 2-3-1947, là Nhà lưu niệm Bác Hồ ở xã Cần Kiệm (huyện Thạch Thất) nơi Người hoạt động bí mật trong khoảng thời gian từ ngày 13-1 đến 2-2-1947… Đó còn là di tích chợ Đồng Xuân (quận Hoàn Kiếm) – nơi diễn ra những trận đánh ác liệt của Liên khu 1 anh hùng. Tại đây, ngày 14-2-1947, các chiến sĩ Tiểu đoàn 101 (Trung đoàn Thủ đô) đã chiến đấu với tinh thần quả cảm khiến bộ binh Pháp phải rút khỏi chợ Đồng Xuân, phố Hàng Chiếu, Chợ Gạo… Hay di tích Trung Giã thuộc thôn Xuân Sơn, xã Trung Giã (Sóc Sơn) – nơi diễn ra Hội nghị Quân sự Trung Giã (từ ngày 4 đến 27-7-1954) bàn những vấn đề quân sự sau Hội nghị Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương…

Di tích càng trải qua thời gian, qua những thăng trầm của lịch sử, càng có giá trị. Vì lẽ đó, việc gìn giữ, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của hệ thống di tích luôn được chính quyền và nhân dân Thủ đô đặc biệt quan tâm.

Nỗ lực bảo tồn, phát huy giá trị

Hằng năm, thành phố dành nguồn kinh phí không nhỏ để khôi phục, gìn giữ và phát huy các công trình di tích. Chỉ tính từ năm 2010 đến nay, trung bình mỗi năm Hà Nội đầu tư xấp xỉ một nghìn tỷ đồng để tu bổ, tôn tạo, chống xuống cấp di tích, trong đó nguồn kinh phí xã hội hóa chiếm hơn 30%. Nhờ nguồn lực này, rất nhiều di tích đã được tu bổ, tôn tạo xứng tầm, điển hình là đền Voi Phục – Thủ Lệ, đền Quán Thánh (quận Ba Đình); đình Tây Đằng, đình Chu Quyến, đền thờ Tản Viên Sơn Thánh (huyện Ba Vì); đình Mông Phụ, đền Và (thị xã Sơn Tây), đền Hai Bà Trưng (huyện Mê Linh), di tích Trung Giã (huyện Sóc Sơn), pháo đài Xuân Canh (huyện Đông Anh), Nhà lưu niệm Bác Hồ xã Cần Kiệm (huyện Thạch Thất)…

Thành phố phân cấp quản lý di tích cho các cấp chính quyền. Theo Quyết định số 11, ngày 2-3-2011 của UBND thành phố Hà Nội, các di tích tiêu biểu do thành phố trực tiếp quản lý; các di tích đã xếp hạng còn lại do UBND các quận, huyện, thị xã quản lý hoặc do Chủ tịch UBND các xã, phường làm đại diện ban quản lý. Di tích chưa được xếp hạng do các quận, huyện, thị xã ủy nhiệm cho xã, phường thành lập Ban quản lý. Một số địa phương đã chủ động tìm hướng bảo vệ và phát huy giá trị di tích. Trưởng phòng Văn hóa -Thông tin huyện Mê Linh Phan Văn Luật cho biết: “Cùng với việc thành lập Ban quản lý, tất cả các xã có di tích đã xếp hạng ở Mê Linh đều cử ra một người có kinh nghiệm, uy tín và tinh thần trách nhiệm cao trông coi di tích thường xuyên. Người trông coi được hưởng mức hỗ trợ 450 nghìn đồng/tháng. Qua đó, huyện nắm bắt được tình trạng của di tích hằng ngày, hằng giờ, từ đó có biện pháp bảo tồn và phát huy phù hợp”. Tương tự, huyện Đông Anh đã lập đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa giai đoạn 2011-2015. Hàng nghìn hiện vật trong các di tích ở Đông Anh đã được giám định về tên gọi, vị trí, hình dáng, chất liệu, kích thước, mầu sắc, hoa văn, niên đại, hiện trạng bảo vệ hiện vật… Từ kinh nghiệm của Đông Anh, ngành văn hóa Hà Nội đã và đang tiến hành tổng kiểm kê di tích trên địa bàn thành phố để có những đánh giá tổng thể. Sau đó, sẽ phân loại xem có bao nhiêu di tích, bao nhiêu di tích chùa, bao nhiêu di tích đền…, rồi cắm mốc giới, định vị lại. Đây cũng là khâu quan trọng để từng bước “số hóa” công tác quản lý di sản, nhằm quản lý một cách có hệ thống, hạn chế tối đa sự xâm phạm.

Những thành quả trong việc quản lý, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích của Hà Nội trong những năm qua không phải địa phương nào cũng làm được. Thành quả ấy được “kiểm chứng” qua thành công của nhiều sự kiện, nhiều công trình tu bổ, tôn tạo di tích trong dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội; qua những dấu son ghi tên di sản Hà Nội trên bản đồ di sản văn hóa thế giới, hay mới đây, Hà Nội có thêm năm di tích quốc gia hạng đặc biệt. Với những thành quả ấy, di tích, di sản Hà Nội không chỉ là những hình ảnh đại diện tiêu biểu cho Thủ đô văn hiến, mà còn đại diện cho cả dân tộc Việt Nam.

P.C.

—o0o—

LÀNG GỐM BÊN SÔNG CẦU

(Bài đăng trang 1 báo Nhân Dân số 27/9/2014)

Bài, ảnh: Thái Sơn và Hồng Thắng

Sự ồn ào của phố thị lùi dần sau mỗi bước chân, làng gốm Phù Lãng (Quế Võ, Bắc Ninh) hiện ra mộc mạc với những ngôi nhà mái ngói rêu phong, giản dị như chính công việc của người thợ gốm bên dòng sông Cầu thơ mộng.

Ðộc đáo một làng nghề

Theo quốc lộ 18 hướng đi Phả Lại, rẽ trái xuống con đường làng nhỏ, qua chợ Châu Cầu, hai bên đường về làng gốm Phù Lãng, những dãy chum, vại, tiểu, quách được xếp gọn gàng giống như “bức tLang gom ben song cauường” ôm trọn lấy làng.

Chúng tôi đến nhà nghệ nhân Phạm Thế Tuệ (68 tuổi) đúng lúc gia đình đốt mẻ gốm mới. Vừa chêm củi vào lò, bác cho biết: “Tôi mới gây lò từ trưa hôm qua, đến giờ lửa chuyển sang mầu trắng, men gốm óng ánh như thế này là trưa nay có thể dỡ lò”. Trong xưởng, một tốp dăm sáu công nhân đang miệt mài nặn, tô vẽ sản phẩm mới còn ướt đỏ mầu đất.

Bên chén trà được pha trong chính sản phẩm mình làm ra, bác Tuệ nói: Nếu gốm Thổ Hà lấy nguyên liệu chủ yếu là đất sét xanh, gốm Bát Tràng là đất sét trắng thì gốm Phù Lãng là đất sét hồng đỏ gạch. Sản phẩm được làm thủ công từ khâu nặn, chuốt đến trang trí, vẽ hoa văn, lên men rồi phơi khô dưới nắng tự nhiên… Xương đất sét có mầu hồng nhạt, khi nung ở nhiệt độ cao sẽ chuyển sang hai mầu men chủ đạo là nâu vàng và nâu đen (men da lươn). Dáng của gốm mộc mạc, thô phác, nhưng khỏe khoắn, chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất với lửa. Ðó chính là yếu tố tạo nên sức hút đặc biệt của gốm Phù Lãng.

Ðể làm ra những đồ gốm mộc mạc, lắng đọng tình người trong đất, người thợ gốm đã đổ bao mồ hôi, công sức. Chị Phạm Thị Hà, con bác Tuệ đang chân vần bàn xoay, tay thoăn thoắt se đòn, cho biết, đất làm gốm mua từ Bắc Giang rồi vận chuyển về đây qua đò sau đó đem đi phơi cho bạc màu, đập thành những viên nhỏ, rồi cho “ngậm” nước. Tiếp đến là khâu xéo tròn, nề đất năm đến bảy lần cho mịn, sờ vào êm tay, cảm giác đất nhuyễn không còn sạn, lúc đó mới có thể se. Tạo hình xong, nếu sờ vào xương gốm không còn dính sẽ dùng lực đấm, thúc từ bên trong để tạo ra những hoa văn bên ngoài theo ý muốn của người thợ. Khi xương gốm chuyển sang mầu trắng nhạt sẽ tiến hành ve, nạo sản phẩm và công đoạn cuối là phủ men, đem phơi, khi nào lớp men phủ chuyển qua mầu trắng đục sẽ cho vào nung.

Nét độc đáo của gốm Phù Lãng được lưu giữ qua bao đời, chủ yếu sử dụng chất liệu tự nhiên làm men. Tro từ các loại cây lim, sến, nghiến, táu thêm vôi sống, sỏi nghiền nhỏ và bùn phù sa trắng trộn đều thành khối, để khô, sau đó đập nhỏ cho vào nước khuấy đều tạo men.

“Phó lò” Phạm Tự Tại là chủ cơ sở “Gốm Tại” giải thích: Ðể nung gốm, phần lớn người dân sử dụng lò rồng được thiết kế theo kiểu lò nằm, chia thành ba khoang, cật lò phẳng, đáy phẳng nhưng dốc từ cửa lò lên ống khói. Gốm đưa vào lò được sắp xếp khoa học, những vật nhỏ như bình hoa, đèn ngủ được đặt gọn gàng trong những chum, vại lớn để tiết kiệm diện tích. Củi để đốt lò phải đượm lửa. Khi nung gốm, người có kinh nghiệm nhìn sắc lửa sẽ biết khi nào gốm “chín”.

Chuyển mình khi hội nhập

Trên chất liệu mà hàng trăm năm trước cha ông từng dùng, những năm gần đây, nhiều nghệ nhân trẻ được đào tạo từ các trường mỹ thuật đã “thổi hồn” vào đất, sáng tạo và phát triển những tinh hoa của nghề gốm. Những sản phẩm được vẽ, khắc chìm hay đắp nổi, khoét lỗ, tạo ra các “mắt” gốm. Mỗi sản phẩm gốm hôm nay có sự phát triển mới về kiểu dáng nghệ thuật từ bàn tay khéo léo và sự thăng hoa của những người trẻ làm gốm.

Gốm Nhung và gốm Thiều được coi là hai thương hiệu tiên phong trong dòng gốm mới ở Phù Lãng. Ðầu tiên phải kể đến gốm Nhung, cơ sở sản xuất lâu đời và phát triển hơn 10 năm nay. Các thợ trẻ luôn cố gắng tìm tòi, thể hiện sản phẩm trên nhiều chất liệu khác nhau. Một số mẫu gốm tinh xảo lấy cảm hứng từ thiên nhiên cỏ cây, hoa lá. Những tác phẩm của gốm Nhung đã tạo được chỗ đứng trên một số thị trường yêu cầu cao như Nhật Bản, Hàn Quốc…

Với mầu đất nung đỏ cộng với sự hòa sắc bằng các chế phẩm thay men, các họa sĩ trẻ đã tạo ra nhiều sản phẩm lạ mắt, cách tạo hình phong phú, vừa đậm nét cổ truyền vừa mang hơi thở đương đại mà gốm Nhung, gốm Thiều, gốm Ngọc, gốm Tại và nhiều cơ sở sản xuất gốm khác đã khẳng định thương hiệu trên thị trường. Anh Nguyễn Minh Ngọc, chủ cơ sở gốm Ngọc tâm sự: Trước kia, cha ông chỉ làm những sản phẩm gia dụng, tâm linh, sau này, khi sản phẩm sản xuất từ nhựa phát triển mạnh thay thế sản phẩm gốm truyền thống, nhiều gia đình phải sản xuất cầm chừng hoặc tạm nghỉ. Chứng kiến cảnh làng nghề bị mai một, chúng tôi không khỏi xót xa. Sau khi thế hệ đàn anh gốm Nhung, gốm Thiều thành công với gốm mỹ nghệ, năm 2001, anh Ngọc quyết tâm thi đỗ vào Trường đại học Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội. Vừa học vừa làm, những kiến thức ở nhà trường đã giúp ích rất nhiều cho anh trong việc tạo hình, phối mầu sản phẩmÐ. Hiện nay, anh Ngọc có cơ sở gốm khá lớn, tạo việc làm, thu nhập cho hàng chục công nhân.

Hội tụ các yếu tố văn hóa, lịch sử, mỹ thuật qua nhiều thế hệ, gốm Phù Lãng đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước. Họ tới đây không chỉ để tìm hiểu nghệ thuật làm gốm hay đơn giản là quan sát, chụp lại những bức ảnh về phong cảnh thiên nhiên, con người hiền hòa mà có thể tự tay nặn vuốt sản phẩm mình yêu thích, lưu lại những kỷ niệm đẹp. Một du khách người Nhật Bản sau khi đến tham quan, bộc bạch: “Trước khi đi, tôi chỉ biết làng gốm qua những bức ảnh về chum, vại, lọ hoa, chậu cây làm bằng gốm. Ðến rồi, khi trở về, ấn tượng đọng lại là những món quà đặc biệt từ nụ cười, sự thân thiện, đến vẻ hồn hậu, chân chất của người dân”.

—o0o—

PHỤC HỒI, LƯU GIỮ NHỮNG ĐIỆU MÚA CỔ

Giang Nam

(Bài đăng báo Nhân Dân thứ sáu 21/2/2014)

Trong văn hóa dân gian của Thăng Long – Hà Nội, những điệu múa cổ còn là một “ẩn số”, chưa được nghiên cứu đầy đủ và được nhiều người biết tới. Một số điệu múa nếu không được nghiên cứu rất dễ bị mai một, thậm chí bị biến tướng. Hội Nghệ sĩ múa Hà Nội đang nghiên cứu, từng bước phục hồi các điệu múa cổ, làm giàu cho văn hóa Hà Nội.

Kho báu chưa nhiều người biết tới

Trong kho tàng văn hóa dân gian, có lẽ, loại hình nghệ thuật múa nằm ở vị trí khiêm tốn nhất. Thời gian qua, nhiều loại hình nghệ thuật dân gian từng bước được khôi phục và được xã hội quan tâm, nDieu mua keo luahưng sự quan tâm đến nghệ thuật múa vẫn bị “lép vế”. Hà Nội là nơi có rất nhiều điệu múa cổ độc đáo, của cả hai vùng văn hóa chính là Thăng Long và xứ Đoài.

Chẳng hạn như ở Lỗ Khê (huyện Đông Anh), ngoài cái nôi ca trù, nơi đây có điệu múa bỏ bộ rất độc đáo. Đây là điệu múa trình diễn trong lễ hội ở Lỗ Khê. Các hoạt động lao động và sản xuất như: xe chỉ, quay tơ, bắt ốc, hái chè… được người xưa cách điệu hóa thành những điệu múa đẹp mắt, được trình diễn bởi những thanh nữ trẻ tuổi. Làng Triều Khúc (huyện Thanh Trì) lại có điệu múa được coi là độc nhất vô nhị ở Việt Nam mang tên “con đĩ đánh bồng”. Trình diễn điệu múa này, nam thanh niên Triều Khúc sẽ… mặc váy, hóa trang thành phụ nữ, chít khăn mỏ quạ, đánh má hồng, kẻ lông mày lá răm vừa nhún nhảy, vừa đánh trống. Mặc dù đây đều là những nét văn hóa độc đáo của Thủ đô, nhưng phần lớn người dân chưa được biết về sự tồn tại của những điệu múa này. Ngoài những điệu múa kể trên, Hà Nội còn những điệu múa độc đáo không kém như: Múa Bài bông của làng Phú Nhiêu (xã Quang Trung, huyện Phú Xuyên) với nội dung ca ngợi đất nước, cuộc sống lao động, tình yêu đôi lứa; múa Lục cúng trong những ngày lễ Vu lan (chùa Minh Quang, quận Đống Đa); múa Giảo long (làng Lệ Mật, quận Long Biên)… Khi Hà Nội được mở rộng, kho tàng ấy tiếp tục được nhân lên, được các nhà nghiên cứu vẫn đang tiếp tục tìm hiểu, tập hợp.

Phần lớn các điệu múa cổ của Hà Nội đều gắn với các hoạt động tín ngưỡng, tâm linh hoặc lễ hội. Trong đó, nhiều nhất vẫn là các điệu múa trong lễ hội, có thể là nghi lễ chính thức trong phần lễ, hoặc là một trò vui trong phần hội. Đây là một nét đặc trưng của múa cổ Hà Nội. Một số điệu múa này giúp mọi người hiểu thêm về lịch sử hình thành của Thăng Long – Hà Nội, thí dụ như múa Giảo long ở làng Lệ Mật miêu tả Hoàng Phúc Trung đánh nhau với thủy quái để vớt xác công chúa thời nhà Lý bị chết đuối dưới sông Thiên Đức (sông Đuống ngày nay), sau được nhà vua ban thưởng cho vùng đất rộng lớn phía tây thành Thăng Long lập nên thập tam trại, nay là các phường của quận Ba Đình…

Từng bước tìm lại vốn cổ

Theo Chủ tịch Hội Nghệ sĩ múa Hà Nội Nguyễn Văn Bích, Hà Nội có khoảng 80 điệu múa cổ. Trước đây, con số còn lớn hơn rất nhiều, nhưng cùng với thời gian, một số điệu múa đã mai một hoặc bị biến tấu.

Trước vấn đề này, để có cái nhìn có tính hệ thống và để bảo tồn nguyên gốc, từ năm 2006, Hội Nghệ sĩ múa Hà Nội đã bắt đầu quá trình nghiên cứu, khôi phục những điệu múa cổ. Theo nghệ sĩ Nguyễn Văn Bích, Hội đã rà soát rồi cử người xuống từng địa phương gặp gỡ các nghệ nhân, ghi chép về các điệu múa cổ, từ sự hình thành cho đến các động tác vũ đạo… Với những địa phương đã bị mai một hay bị biến tấu, Hội tìm hiểu, động viên và kết hợp với chính quyền, nhân dân khôi phục bởi nhân dân chính là chủ thể những điệu múa này.

Do địa bàn rộng nên các nghệ sĩ, nhà nghiên cứu lần lượt nghiên cứu và phục hồi những điệu múa dân gian tại khu vực nội thành và ven đô trước như: múa đèn ở hội đền Hai Bà Trưng (quận Hai Bà Trưng), múa rồng lửa ở Khương Thượng (quận Đống Đa), múa chén ở làng Mọc (quận Cầu Giấy), múa roi ở làng Cót (quận Cầu Giấy)… Sau đó, dự án mở rộng trên toàn địa bàn ngoại thành. Năm 2007, Liên hoan Múa cổ Thăng Long lần thứ nhất được tổ chức. Đó là lần đầu tiên những điệu múa cổ của Thăng Long được giới thiệu một cách rộng rãi đến công chúng. Liên hoan múa cổ Thăng Long – Hà Nội lần thứ tư vừa được tổ chức những ngày đầu xuân Giáp Ngọ vừa qua giới thiệu tám điệu múa cổ của các địa phương trên địa bàn Hà Nội. Trong đó, các điệu múa có tính chất tín ngưỡng như múa cấp sắc trong lễ cấp sắc của người Dao (ở bản Hợp Nhất, xã Ba Vì, huyện Ba Vì), múa rắn lột trong lễ hội Linh Lang Đại Vương (phường Việt Hưng, quận Long Biên)… hay múa trong các lễ hội dân gian như múa Kéo lửa thổi cơm thi (làng Lương Quy, huyện Đông Anh), múa rùa (bản Hợp Nhất, huyện Ba Vì), múa hát tiếng cồng ngày xuân (Đội văn nghệ dân tộc Mường, xã Tiến Xuân, huyện Thạch Thất). Liên hoan đánh dấu một bước quan trọng trong việc khôi phục các điệu múa cổ Hà Nội khi nhiều điệu múa cổ có giá trị được phát hiện.

Từ nay đến năm 2015, Hội dự định chuẩn hóa khoảng 35-40 điệu múa, ghi hình làm tư liệu cho mai sau, đồng thời để quảng bá múa cổ Hà Nội đến bạn bè trong nước và quốc tế.

G.N.

—o0o—

LÀN ĐIỆU XƯA VỌNG MÃI ĐẾN MAI SAU

Bài và Ảnh: Chí Dũng, Hạnh Nguyên

(Bài đăng trang 1 báo Nhân Dân ngày 8/6/2014)

Khi bạn bè đồng trang lứa các nơi mải mê với những trò chơi hiện đại, thì những em thiếu nhi ở huyện Ðông Anh (Hà Nội) lại say mê học hát, tìm đến những làn điệu xa xưa. Những đứa trẻ ngày ngày hát chèo ở các câu lạc bộ nghệ thuật truyền thống xã Nam Hồng, Kim Chung, Hải Bối…; hát tuồng ở Việt Hùng, Xuân Nộn, Cổ Loa…; hát ca trù, quan họ ở Liên Hà, Uy Nỗ. Các em được “ươm mầm” từ thơ bé, để lưu giữ những làn điệu cổ truyền cho mai sau.

Làng nào cũng là làng… nghệ sĩ

Bọn trẻ đã tụ tập ở nhà “mẹ” Hằng. Chúng líu ríu chuẩn bị áo, quần, cờ quạt và cả “binh khí” nữa. Hôm ấy, “mẹ” Hằng sẽ “luyện” cho chúng trích đoạn tuồng “Trưng Nữ vương đề cờ”. Cậu bé Ðào Huy Hoàng cầm lá cờ múa thử. Ðến đoạn Hai Bà Trưng chuẩn bị cắt máu ăn thề, Hoàng sẽ xuất hiện như một chiến tướng múa cờ. Buổi học chưa bắt đầu, nhưng cô bé Ðào Thị Vân Anh hơi căng thẳng. Ðã vào vai Trưng Trắc – vai chính trong trích đoạn nhiều lần, nhưng lần nào Vân Anh cũng hồi hộp. Ðoạn khó nhất là khi Trưng Trắc nghe tin chồng qua đời, diễn thế nào để thể hiện nỗi đau “nước mất nhà tan” của Trưng Vương là điều rất khó với cô bé mới 13 tuổi. “Mẹ” Hằng đi một bài vũ đạo của vai Trưng Trắc, dứt bài, “mẹ” chuyển sang làm nhạc công, vừa đánh trống, vừa chỉ đạo bọn trẻ diễn…

Ðó là buổi tập của Câu lạc bộ tuồng đồng ấu làng Ðường Yên (xã Xuân Nộn). Trong dịp hè, tuần nào lũ trẻ cũng tập trung một, hai buổi ở nhà “mẹ Hằng” để luyện tập. “Mẹ” Hằng là cách gọi thân mật của bọn trẻ Ðường Yên với chị Ðỗ Thanh Hằng – diễn viên tuồng không chuyên, kiêm nhạc công, kiêm Chủ nhiệm Câu lạc bộ. Xuân Nộn có hai thôn thì có đến… ba câu lạc bộ tuồng, một câu lạc bộ của xã; hai thôn Ðường Yên và Lương Quy, mỗi thôn lại có một câu lạc bộ tuồng đồng ấu (của thiếu nhi). Xuân Nộn là đất tuồng mấy trăm năm nay, khi hòa bình mới lập lại ở miền bắc, năm 1956, dù hoàn cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, người Xuân Nộn đã khôi phục đội tuồng. Thủa bé, Hằng ngồi xem các buổi diễn tuồng mà như nuốt lấy từng lời, ngCau la bo tuong dong auưỡng mộ những thần tượng Bà Trưng, Bà Triệu, Ðào Tam Xuân,… Chẳng hiểu thế nào, khi mở lớp, cô bé không được chọn để truyền dạy. Rồi một ngày, cô bé Hằng “bị” phát hiện khi ngồi dưới “nhắc vở” cho những diễn viên nhí trên sân khấu không thuộc lời. Các thầy cứ tiếc vì không biết đến năng khiếu của bé Hằng sớm hơn… Mấy chục năm đã trôi qua, cô bé mê tuồng ngày ấy giờ đã là một diễn viên không chuyên có tiếng của Xuân Nộn. Chưa có dịp nào mà hội làng, liên hoan văn nghệ của làng, của xã chị Hằng vắng mặt. Chị cũng tham gia nhiều hội diễn văn nghệ không chuyên trên khắp đất nước. Và giải thưởng thấp nhất chị giành được qua những kỳ hội diễn là… huy chương vàng. Khi thì hoá thân vào vai công chúa Mỵ Nương với mối tình đẫm lệ, khi thì tả xung hữu đột trong vai chiến tướng Triệu Trinh Nương… Cả một bức tường nhà chật những huy chương, bằng khen… Chị Hằng truyền lại đam mê cho lũ trẻ Ðường Yên và được bọn trẻ vô cùng yêu mến. “Lúc mới bắt đầu diễn, cháu hơi run, nhưng nhờ được “mẹ” Hằng đứng ở cánh gà động viên, nên cháu thấy yên tâm và thường vượt qua được “chặng” khó nhất trong các vai diễn” – “đào nhí” Vân Anh, cô bé được vinh dự vào vai Trưng Trắc, nói về người thầy của mình.

Nếu như câu chuyện ở Xuân Nộn là “của hiếm” ở các địa phương, thì ở Ðông Anh, đó lại là “chuyện thường ngày ở huyện”. Ðông Anh có 24 xã, thị trấn thì có mười đội tuồng ở các xã: Xuân Nộn, Cổ Loa, Việt Hùng, Liên Hà… Nghệ thuật hát chèo cũng phát triển “hùng hậu” không kém, bảy địa phương có câu lạc bộ hát chèo. Cải lương là nghệ thuật truyền thống của phương nam, nhưng người Ðông Anh cũng kịp “nhập khẩu” về hai xã Vĩnh Ngọc và Ðông Hội. Ðó là chưa kể rất nhiều câu lạc bộ hát dân ca, câu lạc bộ quan họ, câu lạc bộ phóng điểu (luyện và chơi chim bồ câu)… mà gần như làng nào cũng có. Bởi thế, về Ðông Anh, không chỉ những người trực tiếp tham gia câu lạc bộ nghệ thuật mới có thể biểu diễn, chuyện một cụ già hay một em nhỏ vừa nói chuyện, vừa ứng dụng những lời ca, câu hát của nghệ thuật truyền thống vào khẩu ngữ hằng ngày là điều không hiếm gặp.

Nói về nghệ thuật truyền thống ở Ðông Anh, sẽ thật thiếu sót nếu không nói đến rối nước Ðào Thục. Cả nước hiện giờ chỉ còn khoảng mười làng rối nước thì Ðông Anh tự hào là một trong những làng rối lâu đời nhất, có từ thế kỷ 18, do Quận công Ðào Ðăng Khiêm truyền dạy. Chúng tôi đến Ðào Thục đúng ngày một nhóm nghệ nhân “xuất quân” biểu diễn ở nơi xa. Ông Ðinh Thế Văn, nghệ nhân cao niên của phường tự hào: “Giờ phường tổ chức làm ba nhóm để khi cần, cùng lúc có thể diễn nhiều suất, ở nhiều địa điểm khác nhau, có ngày, làng Ðào Thục đón hai, ba đoàn khách quốc tế đến thăm”. Cùng với niềm vui về nghệ thuật múa rối phát triển, điều nghệ nhân Ðinh Thế Văn tự hào hơn cả là tính kế thừa ở phường rối này. Phường có hơn 40 thành viên thì có đến 25 thành viên trẻ tuổi, ở độ tuổi trên dưới 30. Sở dĩ với múa rối nước, độ tuổi 30 được coi là trẻ vì trước hết đòi hỏi phải có sức khỏe mới có thể điều khiển quân rối. Có người nói, phường rối Ðào Thục là phường rối cha – con. Bởi những gương mặt trẻ nổi bật, như Ðinh Hữu Hùng, Ðinh Văn Dũng, Ðinh Văn Chiến… đều sinh ra trong những gia đình có nhiều thế hệ biểu diễn rối nước. Trong những cặp cha con này, nổi bật nhất phải kể đến gia đình ông Ðinh Hữu Tự – Phó phường rối phụ trách kỹ thuật và con gái ông, em Ðinh Thị Thu. Ngâm mình dưới nước là một thử thách, nhất là vào mùa đông lạnh, cầm chiếc sào điều khiển quân rối thì rất nặng nên phái yếu thường không thể vượt qua khó khăn này. “Từ nhỏ đi xem bố biểu diễn rối em rất thích. Em tự hỏi không biết tại sao quân rối lại có thể làm được những động tác như thế. Em “vòi” bố bằng được để theo học. Học múa rối cảm thấy như một cuộc thám hiểm. Ðến lúc chinh phục được những màn biểu diễn khó thì thấy hạnh phúc vô vùng”, cô gái tuổi ngoài 20 nhưng đã nhiều năm kinh nghiệm biểu diễn rối Ðinh Thị Thu tâm sự. Hiện giờ, nhiều buổi diễn của Ðào Thục có sự tham gia của cả hai cha con. Thu nhập từ hoạt động biểu diễn phục vụ du lịch bước đầu góp phần cải thiện đời sống người dân, khiến người dân thêm gắn bó với nghệ thuật quê hương.

Bài học về “ươm mầm” nghệ thuật

Những năm gần đây, Ðông Anh là một trong những địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất của Hà Nội. Bởi thế, không thể không ngạc nhiên khi nơi đây, những bộ môn nghệ thuật “khó học, khó xem” như tuồng, chèo, ca trù…, từ già lẫn trẻ đều say mê. Lý giải điều này, chị Ðỗ Thanh Hằng tâm sự: “Người Xuân Nộn chúng tôi mê tuồng lắm. Nhưng nói gì thì nói, xã hội giờ có nhiều thay đổi, nếu không quan tâm thì thế hệ trẻ cũng sẽ dễ xa rời tuồng. Làng xóm phải bảo nhau “nuôi” tuồng. Chúng tôi thành lập ra đội tuồng dành cho trẻ em. Từ những năm 1990, những đội tuồng đồng ấu đầu tiên ra đời. Cứ vài năm, khi các cháu lớn tuổi lại thành lập đội tuồng mới. Cứ thế, lớp này kế lớp kia. Lớp tuồng đồng ấu trước có hai cháu giờ là diễn viên Nhà hát Tuồng Trung ương. Lớp hiện giờ bắt đầu từ năm 2010, cháu lớn nhất 13 tuổi, cháu nhỏ nhất mới lên chín”. Lứa đồng ấu lớn lên nếu không sinh hoạt ở Câu lạc bộ dành cho người lớn, thì ít nhất, cũng trở thành một khán giả say mê tuồng. Ðây cũng là cách mà các địa phương khác ở Ðông Anh giữ gìn nghệ thuật truyền thống. Ở Ðào Thục, các cháu học lớp bảy, lớp tám bắt đầu được học cách điều khiển quân rối. Nghỉ hè, những lúc rảnh rỗi, các cháu được vào hậu trường tòa thủy đình để luyện dần tay nghề. Chẳng mấy chốc các cháu đã thành lứa kế cận. Ở Lỗ Khê, Câu lạc bộ ca trù có thành viên trẻ nhất mới… lên bảy, người cao niên nhất đã 85 tuổi…

Mỗi dịp liên hoan đàn và hát dân ca trong khối trường học, cán bộ của ngành văn hóa, ngành giáo dục trên địa bàn có những buổi làm việc cật lực. Có năm, liên hoan thu hút hơn 1.500 giáo viên, học sinh các lứa tuổi tham gia. Chị Nguyễn Thị Hạnh – Phó Trưởng phòng Văn hóa – Thông tin huyện Ðông Anh cho biết: “Về chủ trương, nhiều năm qua, huyện luôn khuyến khích các địa phương “ươm mầm” nghệ thuật truyền thống cho các em nhỏ. Mặc dù kinh phí cho hoạt động văn nghệ quần chúng hạn hẹp, nhưng năm nào huyện cũng dành từ 150 triệu đồng đến 200 triệu đồng để hỗ trợ các câu lạc bộ, góp phần động viên các nghệ nhân “làng”. Phải liên tục bồi đắp, nếu không tình yêu với nghệ thuật truyền thống rất dễ có nguy cơ phai nhạt trong thời đại công nghệ hiện nay”.

Quây quần cùng các cháu diễn viên nhí của đội tuồng đồng ấu thôn Ðường Yên, tôi bất chợt hỏi: “Trong nhóm có cháu nào biết chơi trò chơi điện tử?”. Khá nhiều cánh tay giơ lên. Tôi hỏi tiếp: “Vậy cháu nào biết nhảy hip-hop?”. Một cháu nhanh nhảu: “Cháu biết chơi cả điện tử lẫn nhảy hip-hop”. Tất cả mọi người đều bật cười. Ai bảo rằng nghệ thuật truyền thống không thể “sống chung” với cuộc sống hiện đại, với công nghệ? Ðừng đổ lỗi cho xã hội khi nghệ thuật truyền thống mai một, bởi tình yêu với nghệ thuật truyền thống không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên lớn lên, mà cần được gieo mầm, cần sự chăm sóc, vun trồng…

                                                                                 —o0o—            

THÊM MỘT NỖ LỰC GÌN GIỮ CA TRÙ

Bài và ảnh Hiếu Hạnh

(Bài đăng ở mục Văn Hóa – Văn Nghệ báo Thời Nay số 367 ng 367 ngày 22/7/2013)

Ra đời từ năm 2005, CLB ca trù (thuộc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam) hoạt động khá trầm lắng so vớ nhiều CLB ca trù khác tại Hà Nội. Tới đây, cùng với việc kiện toàn tổ chức và hoạt động, CLB mong muốn cùng chung tay gìn giữ vốn văn hóa quý báu của dân tộc.

“Thêm món” cho sân khấu ca trù

So với bộ ba CLB ca trù Hà Nội, CLB ca trù Thăng Long, CLB ca trù Thái Hà thì hoạt động của CLB ca trù trực thuộc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam (Hội Nhạc sĩ Việt Nam) còn khá mờ nhạt. Lý do thì nhiều, nhưng một phần bởi mọi vấn đề liên quan hoạt động, từ nhân lực đến vật lực dành cho ca trù còn quá khó khăn. Vừa qua, trung tâm đã quyết định kiện toàn tổ chức, bầu ra Ban Chủ nhiệm CLB trong nhiệm kỳ mới (2013-2018). Buổi ra mắt đã được tổ chức ngày 18/7 vừa qua tại đình Hào Nam (Hà Nội), nghệ nhân dân gian Phùng Thị Hồng (nghệ danh Phương Hồng) giữ chức Chủ nhiệm CLB, Nghệ sĩ ưu tú Phó Ccau lac bo ca truhủ nhiệm CLB. Cùng với việc kiện toàn tổ chức, trung tâm cũng phải xách định lại nhiệm vụ hoạt động gánh vác nhiệm vụ giữ gìn nghệ thuật ca trù truyền thống, không đơn thuần biểu diễn mà sẽ đảm nhiệm việc sưu tầm nghiên cứu, giảng dạy và truyền nghề.

Ngay cả việc biểu diễn, CLB cũng sẽ cố gắng tìm một cách thể hiện mới khác với những CLB trước đó, để công chúng không nhàm chán. Nhạc sĩ Thao Giang, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam cho biết, từ tháng 7, trong những buổi biểu diễn ở phố cổ, chợ Đồng Xuân vào dịp cuối tuần, các chương trình biểu diễn do trung tâm đứng ra tổ chức sẽ có sự kết hợp đan xen giữa tác phẩm ca trù nguyên bản và các tác phẩm, ca khúc có mang âm hướng ca trù của các nhạc sĩ như Phó Đức Phương, Huy Thục, Lê Mây, Văn Thành Nho… Các làn điệu ca trù kinh điển đều được giữ nguyên cách thể hiện, nhưng đan xen những tác phẩm hiện đại sẽ tạo ra hơi hướng mới cho sân khấu ca trù truyền thống, thu hút đưowjc sự theo dõi của khán giả, nhất là đối tượng thanh niên, để ca trù lan tỏa trong đời sống đương đại hiện nay.

Bà Phùng Thị Hồng, Chủ nhiệm CLB cũng chia sẻ quyết tâm thời gian tới, mỗi tháng, CLB có ít nhất một buổi biểu diễn và sinh hoạt chung, có thể tại đình Hào Nam, đình Yên Phụ (Hà Nội) hoặc giao lưu cùng CLB ca trù các tỉnh bạn. CLB cũng có đầy đủ các kép, đàn, trống chầu, mọi thành viên đều lăn lộn tới rất nhiều nơi để truyền nghề. Ca nương Phương Hồng đã từng dạy ca trù tại Hà Nam, các CLB tại Hà Nội; ca nương Vân Mai hiện vẫn đang giảng dạy tại Hải Dương; ca nương Thu Uyên đã đi truyền dạy tại Phú Thọ… Nhiêu nơi chỉ có một học trò, nhưng nhận thấy năng khiếu, các chị cũng cố công về tận định phương thuyết phục và truyền dạy bằng tất cả đam mê.

Quan tâm nghiên cứu ca trù

Không chỉ truyền nghề biểu diễn cho thế hệ sau, Trung tâm Phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam còn hướng tới việc đào tạo những nhà nghiên cứu về ca trù, những người sẽ gánh nhiệm vụ tổng hợp, nghiên cứu chuyên sâu về loại hình nghệ thuạt này. Việc giảng dạy được thực hiện bài bản từ năm 2010, với việc ra đời một chương trình học tại bậc đại học do trung tâm liên kết với Học viện Âm nhạc Huế tổc hức. Khóa sinh viên đầu tiên với 20 em sẽ tốt nghiệp vào năm 2014. Nhạc sĩ Thao Giang cho biết, các chuyên ngành của trung tâm đào tạo khác với chương trình tại những học viện âm nhạc, không phải là lý luận âm nhạc học mà là dân tộc nhạc học. Trong đó, ngoài lý thuyết nghiên cứu liên ngành về văn hóa, dân tộc học, lý luận âm nhạc, các lớp đào tạo tới sẽ có nhiệm vụ tổng kết về phương pháp thanh nhạc, các lớp đào tạo tới sẽ có nhiệm vụ tổng kết về phương pháp thanh nhạc gắn với ca trù để bảo tồn và gìn giữ cho đời sau, đồgn thời tìm ra cách thức sáng tạo của người xưa để lại. Trung tâm tổ chức cả những buổi thực hành về đàn, hát ca trù, để chính những học viên học cách chơi đành đáy, biết phách, đánh trống chầu, biết hát đúng vần điệu…

Những buổi học về ca trù được tổ chức rất sinh động ngay trong không gian đình Hào Nam với cả những chuyên gia, tư liệu ghi âm, hay mời nghệ nhân dân gian từ các địa phương về giảng dạy. Với những nỗ lực này, có thể, chúng ta sẽ bớt đi lo ngại rằng có ngày lớp con cháu sẽ phải sang Anh, Pháp, Mỹ để học về ca trù thay vì được đào tạo nghiên cứu bài bản tại chính Việt Nam.

—o0o—

MẸ CON “NHÀ” CA TRÙ

Giang Nam

(Bài đăng Trang Hà Nội 28/3/2014 báo Nhân Dân)

Tuy đang học trung học cơ sở, nhưng ít ai biết rằng, cô bé Nguyễn Huệ Phương là một trong những người Việt Nam hiếm hoi từng giới thiệu ca trù với bạn bè quốc tế. Huệ Phương được hưởng “gien” ca trù từ mẹ, đồng thời cũng là người thầy – đào nương nổi tiếng Phạm Thị Huệ, Chủ nhiệm Giáo phường Ca trù Thăng Long. Có những buổi biểu diễn của Giáo phường, cả hai mẹ con đều xuất hiện. Ðiều đặc biệt ở hai thầy trò – mẹ con “nhà” ca trù này là cô học trò bắt đầu tập hát từ khi… năm tuổi, cái duyên ca trù của cô con gái làm người mẹ thêm động lực gắn bó với ca trù.

Ca nương Phạm Thị Huệ được biết đến như một trong những giọng ca cao sang, đài các bậc nhất ở Hà thành. Chị Huệ đến với Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam năm tám tuổi. 15 năm tại học viện, chị gắn bó với cây đàn tỳ bà rồi trở thành giảng viên. Nhưng rồi cuộc đời lại “rẽ ngang” sang nẻo ca trù. Mê đắm ca trù, vì chị thấy ca trù luôn ẩn chứa điều gì kỳ bí. Hẳn phải là những bậc tài danh, hẳn phải được tích lũy lâu lắm, trên nền một cái nôi văn hóa giàu có lắm mới tạo ra những câu hát thẳm sâu đến thế. Nhưng còn một lý do khác khiến chị dấn thân vào thế giới ca trù. Chị thường mủm mỉm cười bảo: “Lúc đấy mình học một phần vì cô bé nhà mình”. Chị Huệ mê ca trù từ sớm, nhưng tìm thầy tìm thợ mãi toàn người từ chối. Các cụ sợ chị không theo được ca trù. Nhưng chị vẫn tập hát. Chẳng ngờ những câu hát ngấm vào cô bé Huệ PhươHai me con ca nuongng. Khi bốn, năm tuổi, cô bé đã ê a hát theo. Chị Huệ đưa con gái đến xin học nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc. Nhận thấy tố chất đặc biệt ở cô bé, cụ Chúc đã nhận lời dạy Huệ Phương. Thế rồi hằng tuần, chị đưa cô con gái bé xíu đến cụ Chúc, để cụ dạy gõ phách, đánh đàn và hát ca trù. Trước đây, cụ Chúc từng từ chối nhận chị Huệ làm học trò, nhưng cô con gái đã làm chiếc “cầu nối” để chị được theo học cụ. Việc cô con gái ham học và bộc lộ năng khiếu sớm khiến chị có thêm quyết tâm gắn mình với nghiệp ca trù.

Lòng say mê, cộng với sự kiên trì khiến Phạm Thị Huệ tiếp cận được với nhiều nghệ nhân tài danh. Chị Huệ từng đi “mòn ngõ” nhà nghệ nhân Phó Thị Kim Ðức – một giọng ca nổi tiếng trước kia. Khi nghe tiếng cụ Nguyễn Phú Ðẹ là người giỏi chơi đàn đáy, chị lại tìm đến Hải Dương học đàn cụ Ðẹ. Ðược đào tạo bài bản về âm nhạc dân tộc, cộng với niềm say mê, cho nên dù đến với ca trù khá muộn, chị nắm bắt và thể hiện nhuần nhuyễn những kỹ thuật nhả chữ buông câu rất khó, mà người bình thường phải tốn nhiều thời gian mới học được. Không những thế, chị dành thời gian nghiên cứu về ca trù. Song song với mục đích khôi phục, bảo tồn, chị còn dự định đến khi các cụ già cả, chị sẽ thay các cụ truyền lại cho cô con gái vốn liếng ca trù của mình. Với suy nghĩ và cách làm như thế của mẹ Huệ, cô bé Huệ Phương có bệ đỡ vững chắc để học hỏi và phát triển tài năng.

Từ một người đi xin học luôn bị thầy từ chối, giờ ca nương Phạm Thị Huệ đã là Chủ nhiệm Giáo phường Ca trù Thăng Long. Chị cũng là đào nương đầu tiên của thời hiện đại được các bậc thầy cho ra nghề một cách bài bản, bằng một lễ “mở xiêm áo” năm 2006. Chị cũng là người đầu tiên đưa ca trù trở lại với khán giả định kỳ bằng cách phối hợp với Ban Quản lý Phố cổ tổ chức biểu diễn tại các điểm di tích trong khu phố cổ. Ban đầu, Giáo phường chỉ biểu diễn mỗi tuần một buổi, vậy mà không có người xem. Còn hiện nay, Giáo phường Ca trù Thăng Long biểu diễn định kỳ vào các tối thứ ba, thứ năm, thứ bảy hằng tuần tại Ngôi nhà Di sản số 87 phố Mã Mây. Thời gian đầu, chủ yếu là khách quốc tế đến xem, nhưng giờ đã có nhiều người Việt Nam đến thưởng thức hơn. Giáo phường Ca trù Thăng Long đặc biệt ưu tiên các bạn trẻ, nếu là sinh viên, học sinh thì có thể đến xem không thu phí. Nói như chị Huệ, đó là để nuôi dưỡng khán giả trẻ. Một quãng đường dài đã đi qua, nhưng vẫn còn chặng đường dài phía trước, đó là làm sao để ca trù sống được trong đời sống đương đại, làm sao để mọi người hiểu thêm về những giá trị đặc sắc của ca trù… Thách thức còn nhiều, nhưng chị thấy vững tâm khi cô bé Huệ Phương dần trưởng thành. Ở tuổi 15, Huệ Phương đã có gần 10 năm học, biểu diễn ca trù. Cô bé biểu diễn thuần thục hơn 10 bài, trong đó có những bài đòi hỏi kỹ thuật cao như “Tỳ bà hành”. Ðã có những lúc Huệ Phương không khỏi băn khoăn, lo lắng trước những lời chọc ghẹo của các bạn cùng lớp là hát bài hát của… bà già. Nhưng sau này, thầy Văn Như Cương, người sáng lập Trường Lương Thế Vinh đã khéo léo giới thiệu về nghệ thuật ca trù với thầy cô và các bạn học sinh. Huệ Phương đã yên tâm học hỏi và biểu diễn mà không sợ những lời đùa cợt nữa. Ngoài nhiều giải thưởng giành được qua các liên hoan, hội diễn, Huệ Phương còn có những lần xuất ngoại giới thiệu nghệ thuật ca trù với bạn bè quốc tế. Lần đầu Huệ Phương đem ca trù đến với thế giới là tại Festival di sản văn hóa phi vật thể khu vực châu Á-Thái Bình Dương tại Hàn Quốc năm 2011. Năm 2013 vừa qua, trong dịp nghỉ hè, Huệ Phương theo mẹ biểu diễn, giao lưu và giới thiệu về ca trù với các bạn học sinh tại bang Ô-hai-ô (Mỹ).

Chị Huệ nói rằng chị hoàn toàn tôn trọng mong muốn của cô con gái khi chọn nghề nghiệp sau này. Cùng với Nguyễn Huệ Phương, những đào nương trẻ tuổi khác như: Nguyễn Thị Thu Thủy, Vũ Thị Thùy Linh… khiến Giáo phường Ca trù Thăng Long có một lớp kế cận tài năng, để có những bước phát triển vững chắc tiếp theo. Nhưng mẹ con “nhà” ca trù Phạm Thị Huệ – Huệ Phương luôn hy vọng rằng, các cơ quan chức năng cần có những chính sách cụ thể, thiết thực hơn để các nghệ nhân ca trù nói chung có điều kiện thể hiện, khẳng định khả năng của mình.

—o0o—

GIỮ GÌN NHỮNG GIÁ TRỊ VỐN CÓ CỦA QUAN HỌ

Duy Anh

(Bài đăng trang 5 báo Nhân Dân ngày 7/3/2014)

Dân ca quan họ Bắc Ninh đã được công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại và luôn luôn có sức hấp dẫn, lôi cuốn những người yêu nghệ thuật diễn xướng dân gian. Quan họ đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân vùng Kinh Bắc, đồng thời đang được truyền bá sâu rộng dưới nhiều hình thức.

“Chơi”, truyền quan họ đúng cách

Tiếp chuyện chúng tôi, NSƯT- Nghệ nhân quan họ Bắc Ninh Tạ Thị Hình giảng giải khá kỹ về loại hình dân ca mà bà đã theo đuổi cả cuộc đời. BHat quan ho tren doi Limà Hình cho biết, nghệ nhân quan họ thích dùng “chơi quan họ” hơn là “hát quan họ”. Ai cũng có thể học thuộc một làn điệu quan họ và hát được trên sân khấu. Còn “chơi quan họ” mới chính là hình thức quan họ truyền thống, đặc trưng. Chơi quan họ đề ra những lề lối nhất định đòi hỏi liền anh, liền chị tham gia phải am hiểu tường tận quy tắc, luật lệ, nhất là phải có vốn quan họ kha khá. Một liền anh, liền chị có thể đứng trước nhiều người và đối hát thì phải thuộc ít nhất 150 bài cùng bảy điệu cơ bản nhất: la rằng, đường bạn, tình tang, cây gạo, lên núi, cái hời, cái ả,… và có nhiều hình thức hát đối như hát theo đôi, hát theo hội, theo nhóm.

Bà Hình bảo: Chơi quan họ phần nào giống một hình thức thi đua, người nào đối được nhiều làn điệu, giọng hát hay hơn thì thắng, có đôi thi với nhau đến hai ngày trời vẫn chưa phân được thua. Nhưng tuyệt nhiên người thua không được cay cú, ganh đua. Đôi anh hai này nếu không đối được đôi chị hai kia cũng phải có lời: “Thưa hai chị, hai câu vừa rồi, anh em chúng tôi xin chịu, đến tháng tới anh em tôi sẽ trả”. Người thắng cũng không lấy đó làm tự cao, thắng không dám nhận mình thắng, ấy mới là lời văn lễ điều của người chơi quan họ.

Cho đến nay, nghệ nhân Tạ Thị Hình đã gom góp được một kho vốn làn điệu quan họ đồ sộ. Bà Hình cho biết, đã viết tuyển tập gần 300 bài quan họ tặng tỉnh và ngành văn hóa Bắc Ninh, nhưng thật ra, số lượng bài quan họ mà bà vẫn nhớ phải lên tới hơn 400 bài. Mỗi lần có khách đến, bà Hình vẫn không quên hát tặng họ đôi câu mà bà tâm đắc:”Dưới giờ mấy kẻ biết chơi/ Chơi cho phỉ chí ở đời mới thôi; trong sáu tỉnh nghe còn chưa tỏ/ Ngoài năm thành chỉ có ở Bắc Ninh. Chẳng yêu mà lại tâm tình/ Nghề chơi quan họ có tinh mới tường”.

“Nghề chơi cũng lắm công phu”, không chỉ là quan điểm của bà Hình mà còn của nhiều người yêu quan họ. CLB quan họ làng Hòa Đình gần TP Bắc Ninh là một mô hình kiểu mẫu như thế với hai lần giành giải tại các hội thi quan họ tỉnh. Nói như liền anh Trần Văn Quyến, người phụ trách CLB, thì quan họ ngoài tiêu chí “vang”, “rền”, “nền”, “nảy”, còn phải áp dụng nhiều kỹ thuật luyến láy, nhấn nhá, hãm giật, hãm lửng, buông câu, nhả chữ mới hay được, mà trong một thời gian ngắn chưa chắc học được. Ban đầu, thành viên trong câu lạc bộ gặp nhiều khó khăn trong việc sinh hoạt, tập hát, nhưng dần dần cũng đi vào nền nếp. Cùng với CLB quan họ làng Hòa Đình, đã và đang có nhiều CLB dạng như vậy ở các làng quê Bắc Ninh.

Thế hệ trẻ gánh vác trọng trách

Hiện nay, quan họ đang nhận được rất nhiều sự quan tâm từ giới trẻ. Trong thời buổi hội nhập văn hóa với nhiều thể loại âm nhạc xuất hiện, dân ca nói chung và quan họ nói riêng vẫn có vị trí nhất định. Việc giới trẻ có đủ sức gánh vác trọng trách bảo tồn quan họ hay không còn là một dấu hỏi. Điều này đòi hỏi phải có cách hướng dẫn, giảng dạy chi tiết, sự đầu tư, quan tâm của các cấp chính quyền. Năm 2011, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh đã phối hợp ngành giáo dục của tỉnh đưa dân ca quan họ vào giảng dạy tại các trường học cho các em học sinh từ cấp mầm non cho đến cấp phổ thông, bắt đầu từ năm học mới 2011-2012. Đây là động thái cụ thể của các cấp lãnh đạo nhằm tuyên truyền vốn quý quan họ vào giới trẻ. Theo nghệ nhân Tạ Thị Hình, người hát quan họ vốn không để tâm đến chuyện tiền bạc, nhưng với giới trẻ, họ còn chú tâm nhiều đến những công việc mưu sinh, gây ảnh hưởng không ít đến “thú vui” quan họ.

Là đại diện cho lớp người trẻ, anh Nguyễn Hữu Duy, một liền anh bắt đầu có tiếng ở vùng Tiên Du, Bắc Ninh trăn trở, suy nghĩ: “Thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, nhiều người lợi dụng hiện tượng quan họ làm phương tiện kinh doanh. Họ hát không đến nơi đến chốn, giới thiệu về quan họ không đúng rồi ghi âm, quay hình, phát tán lên mạng làm hỏng hình ảnh quan họ. Nhưng phần đông giới trẻ đã có sự quan tâm nhất định. Bằng chứng là trong những lần đi biểu diễn, tôi đã gặp gỡ nhiều bạn trẻ đi nghe hát quan họ”. Với tình yêu quan họ, anh Hữu Duy đã nhận lời làm người hướng dẫn cho câu lạc bộ ở địa phương đang sống, cũng như một câu lạc bộ quan họ của Hội Sinh viên Kinh Bắc trên Hà Nội. Sáng đi làm, chiều đi diễn, tối và cuối tuần lại đi dạy quan họ, bận rộn là thế nhưng anh vẫn cảm thấy vui vì “được góp công sức để mang quan họ đến với nhiều bạn trẻ”.

Những nỗ lực mà các cấp lãnh đạo và người dân Bắc Ninh trong nhiều năm qua đã bước đầu mang lại hiệu quả, nhưng để giữ gìn, bảo tồn quan họ Bắc Ninh – Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại, thế hệ trẻ cần phải tự hào và ý thức được vai trò là lực lượng nòng cốt tiếp bước các “liền anh, liền chị” đi trước.

D.A.

—o0o—

SÁU MƯƠI NĂM CHIẾU CHÈO NGƯỜI LÍNH

(Bài đăng trang 5 báo Nhân Dân 22/9/2014)

NSƯT Nguyễn Thế Phiệt

Nguyên Trưởng Đoàn

Nghệ thuật chèo

Tổng cục Hậu Cần

Cách đây vừa tròn 60 năm, ngày 1-10-1954, Đội văn công thuộc Cục Chính trị – Tổng cục Cung cấp của QĐND Việt Nam được thành lập, tiền thân của Đoàn nghệ thuật chèo Tổng cục Hậu cần (TCHC) và nay là Nhà hát chèo Quân đội. Các nghệ sĩ, diễn viên đã theo sát bước chân người chiến sĩ, bám sát các nhiệm vụ chính trị, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và phát triển sân khấu truyền thống.

Ngay sau khi thành lập tại chiến khu Việt Bắc, các nghệ sĩ, diễn viên chèo quân đội đã nhanh chóng xây dựng được những chương trình nhỏ và các tốp xung kích đã kịp thời đến phục vụ các đơn vị và nhân dân các địa phương. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đoàn văn công TCHC được bổ sung Đội chèo Tỉnh đội Hưng Yên và văn công Sư đoàn 330 đổi tên thành Đoàn văn công Trường Sơn thuộc TCHC, phục vụ bộ đội, thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn trong mưa bom, bão đạn. Nhiều đồng chí của đoàn đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Sau những chuyến đi phục vụ bộ đội dài ngày ở chiến trường, ngày 28-3-1967, Đoàn vinh dự được vào Phủ Chủ tịch biểu diễn báo cáo với Bác Hồ và Bộ Chính trị vở chèo Anh lái xe và cô chống lầy và chương trình ca múa nhạc đặc sắc. Năm 1975, khi miền nam giải phóng, Đoàn nghệ thuật TCHC là một trong những đoàn có mặt sớm nhất tại các vùng giải phóng, lần đầu mang tiếng hát chèo cách mạng đến với công chúng miền nam, đoàn đã biểu diễn hơn 100 đêm với các vở diễn: Trần Quốc Toản ra quân, Người năm ấy, Cô thủ kho, Đôi mắt. Những vở diễn của đoànChieu cheo quan doi đã để lại nhiều ấn tượng và cảm xúc cho người xem.

Thời kỳ những năm 80, 90 của thế kỷ 20 là giai đoạn “nở rộ” các khuynh hướng cách tân nghệ thuật truyền thống và thương mại hóa sân khấu, nhưng Đoàn chèo TCHC vẫn kiên trì định hướng kế thừa và phát triển nghệ thuật chèo truyền thống. Đoàn đã cho ra mắt hàng loạt vở diễn ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ca ngợi tư tưởng yêu nước, thương dân, trọng nghĩa khinh tài, phê phán cái xấu, cái ác. Tiêu biểu là bộ chèo ba tập Bài ca giữ nước của cố NSND Tào Mạt có sức thuyết phục công chúng mạnh mẽ, được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) tổ chức hội thảo khoa học, khẳng định đây là hướng phát triển đúng đắn của chèo, có tầm tư tưởng lớn, có tính chiến đấu cao, góp phần tích cực trong việc gìn giữ và phát triển sân khấu truyền thống.

Từ năm 1990 đến nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, Đoàn Nghệ thuật TCHC đã nhanh chóng đổi mới cả nội dung lẫn hình thức hoạt động nghệ thuật. Đoàn tiếp tục khai thác các đề tài lịch sử, dân gian, nhiều giải thưởng về đề tài chiến tranh cách mạng của Bộ Quốc phòng và hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc và toàn quân: Người tử tù mất tích, Nữ tú tài (Huy chương vàng năm 1995), Điều đọng lại sau chiến tranh (Giải A năm 1997, Huy chương bạc hội diễn toàn quốc năm 2014), Người anh hùng áo vải (Huy chương bạc hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 2000), Đêm trắng (Hội đồng Thi đua Khen thưởng Trung ương tặng giải xuất sắc), Chu Văn An -Người thầy của muôn đời (Huy chương vàng hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc), Nguyễn Chí Thanh- sáng trong như ngọc một con người (Huy chương vàng hội diễn toàn quân), Tiếng hát vùng mê thảo (Giải thưởng xuất sắc của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam), Hùng ca Bạch Đằng Giang(Huy chương bạc hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc).

Là đoàn chèo duy nhất của Quân đội, do vậy địa bàn hoạt động rất rộng. Đoàn đã đi phục vụ các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Cam-pu-chia, phục vụ bộ đội Trường Sa và các chiến sĩ trên khắp mọi miền Tổ quốc, phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc và nhiều kỳ họp của Quốc hội. Hằng năm, đoàn có từ 170 đến 200 buổi biểu diễn. Ngoài ra, đoàn có hàng chục vở diễn thường xuyên phát trên sóng phát thanh truyền hình của Trung ương và các địa phương. Trong xây dựng đơn vị, đoàn luôn chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trẻ, nâng cấp phương tiện kỹ thuật, chăm lo đời sống của nghệ sĩ, diễn viên. Kết hợp đào tạo chính quy tại trường với đào tạo trong thực tế.

Những chiến công, thành tích của Nhà hát Chèo quân đội đã được Đảng, Nhà nước, Quân đội ghi nhận, trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới và nhiều phần thưởng, huân chương, huy chương cao quý.

Sáu mươi mùa xuân đã đi qua, cán bộ, chiến sĩ của Nhà hát Chèo quân đội hôm nay đã và đang phát huy truyền thống vẻ vang của chiếu chèo người lính, ra sức rèn đức, rèn tài, nâng cao chất lượng nghệ thuật các vở diễn, tiếp tục kế thừa và phát triển nghệ thuật chèo truyền thống, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao trong chặng đường mới.

—o0o—

NỖ LỰC ĐỂ NGÂN CHUÔNG VỌNG CỔ

(Bài dăng báo Tuổi Trẻ, mục Văn Hóa – Nghệ Thuật – Giải Trí ngày 26/9/2014)

Hoàng Oanh

Tối 25-9, cuộc thi Chuông vàng vọng cổ 2014  thi chung kết xếp hạng cuối cùng tại nhà hát Đài truyền hình TP.HCM (HTV), kết thúc ba tháng tranh tài trên cả nước.

Giữa thời buổi trên tivi ào ạt những cuộc thi ca hát, game show, chương trình truyền hình thực tế hay thi tài năng hút khách, hút quảng cáo thì sự xuất hiện “kiên cường” của một cuộc thi vọng cổ là điểm sáng đầy nỗ lực.

Nhiều kịch tính

Chuông vàng vọng cổ hẳn nhiên là cuộc thi chú trọng về chất giọng và làn hơi của các thí sinh. Điều này lý giải vì sao có những thí sinh sắc vóc và khả năng diễn xuất chưa nổi bật nhưng vẫn được chọn vì có chất giọng đẹp, mượt Ngan chuong vong comà và sáng.

Có những thí sinh vốn quanh năm làm bạn với công việc đồng áng như Trần Thị Bé Năm nhưng nhờ có làn hơi khỏe và chất giọng lạ nên lần đầu tiên cô được bước vào một sân chơi tài tử chuyên nghiệp. Sự lúng túng và cách trình diễn thuần bản năng của cô là điều dễ hiểu.

Lại có những thí sinh như Nguyễn Thị Lý, Tạ Công Thành, Nguyễn Ngọc Thảnh vốn đến từ nơi không có lợi thế về cải lương vọng cổ như Hải Dương, Thái Bình nhưng với chất giọng đẹp và truyền cảm cùng bản lĩnh sân khấu đã gây được ấn tượng khó quên với cả ban giám khảo và khán giả.

Nhiều khán giả và cả thí sinh miền Nam bất ngờ trước khả năng ca chuẩn giọng Nam của các thí sinh miền Bắc.

Thậm chí Nguyễn Thị Lý (đến từ Hải Dương) có chất giọng tốt và sự chuyên nghiệp trong khả năng biểu diễn bằng ánh mắt, nét mặt và làm chủ sân khấu nên đã liên tục giành được danh hiệu thí sinh được yêu thích nhất và trở thành một trong ba thí sinh được chọn vào chung kết xếp hạng.

Không chỉ “so giọng”, cuộc thi năm nay còn đòi hỏi các thí sinh phải biết phối hợp giữa ca và diễn, thể hiện được cảm xúc của mình qua nhân vật. Ở tiêu chuẩn này, những thí sinh đã có kinh nghiệm diễn xuất như Nguyễn Thị Linh Phượng trở nên nổi bật.

Linh Phượng đến từ sân khấu kịch Hồng Vân vốn có lợi thế về sắc vóc và kinh nghiệm trên sàn diễn, đã thuyết phục được hội đồng nghệ thuật với số điểm cao nhất khi cô thể hiện những lớp cao trào giằng xé của vở cải lương Bến nước Ngũ Bồ.

Trong khi đó thí sinh Nguyễn Minh Trường tuy không gây ấn tượng mạnh ở các vòng thi trước đó nhưng nhờ bản lĩnh xử lý tình huống trên sân khấu mà được hội đồng nghệ thuật đánh giá cao và được chọn vào top 3 ở vòng cuối cùng.

Mùa giải năm nay tuy không phát hiện ra được những giọng ca thật sự khác biệt và nổi bật như những năm trước, nhưng lại được xem là một mùa giải nhiều kịch tính vì các thí sinh ngang tài ngang sức và có cơ hội bằng nhau.

Nỗ lực được ghi nhận

Đây là lần thứ 9 cuộc thi Chuông vàng vọng cổ được tổ chức và lên sóng truyền hình trực tiếp.

Cuộc thi đã trở thành một thương hiệu riêng độc đáo của HTV với những lần tổ chức tạo tiếng vang và cho ra ràng những gương mặt xuất sắc của cải lương, vọng cổ như Nguyễn Ngọc Đợi, Võ Minh Lâm, Lâm Ngọc Hoa, Mỹ Vân…

Tuy nhiên, gầy dựng được thương hiệu vốn đã không dễ, việc giữ được nó lại là một nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều, nhất là trong thời buổi không còn nhiều khán giả mở tivi để xem cải lương, vọng cổ nữa.

Đó là bài toán đau đầu của những người làm Chuông vàng vọng cổ từ những tháng trước khi quyết định duy trì chương trình này. Quyết tâm làm và đưa ra nhiều đổi mới, cuộc thi năm nay có phạm vi tổ chức rộng hơn với nhiều đêm thi nhằm tạo thêm cơ hội cho các thí sinh.

Ở các tỉnh miền Tây và vùng sâu vùng xa, cuộc thi đã về tận nơi để thu hút thêm người dự thi. Sau khi sàng lọc ở các vòng bán kết, những thí sinh xuất sắc nhất được tập trung thi chung kết tại TP.HCM.

Mỗi đêm thi mang một chủ đề khác nhau nhằm tạo sự thú vị cho khán giả và cũng là để khai thác những sở trường khác nhau của từng thí sinh.

Cuộc thi đã bước vào đoạn kết, điều làm ban tổ chức chương trình thở phào là sự theo dõi của khán giả truyền hình đã được ghi nhận ở những số liệu khả quan. Khán giả đến trường quay xem trực tiếp cũng đông bất ngờ và có không ít khán giả là sinh viên, học sinh. Khán giả nhắn tin bình chọn cũng vượt ngoài mong đợi.

Hiệu ứng của chương trình vì thế đã được lan tỏa sau bao nỗ lực. Dù không thể ồ ạt như những game show giải trí nhiều ngôi sao, nhưng khi những câu vọng cổ văng vẳng đâu đó từ những chiếc tivi ở mỗi góc nhà thì nói như NSND Trần Ngọc Giàu – thành viên hội đồng nghệ thuật: “Điều này khích lệ chúng ta biết quý trọng và gìn giữ những điều vô hình quý giá”.

Nguyễn Minh Trường đoạt giải Chuông vàng

Đêm chung kết xếp hạng là cuộc tranh tài của ba gương mặt xuất sắc nhất đã được sàng lọc qua các vòng bán kết, chung kết trước đó: Nguyễn Thị Linh Phượng (TP.HCM), Nguyễn Minh Trường (Đồng Tháp) và Nguyễn Thị Lý (Hải Dương). Cả ba được ban giám khảo đánh giá là ngang sức ngang tài vì đều có chất giọng tốt và khả năng diễn xuất nhập vai, đa dạng cùng kinh nghiệm biểu diễn trên sân khấu chuyên nghiệp. Trong đêm thi, các thí sinh đã thể hiện một trích đoạn cải lương và một bài vọng cổ bốn câu được bốc thăm ngẫu nhiên.

Kết quả, thí sinh Nguyễn Minh Trường đã đoạt giải Chuông vàng của năm nay sau khi thể hiện xuất sắc trích đoạn Chiếc áo thiên nga và bài vọng cổ Ngày Bác vô thăm, với tổng số điểm 98,50 từ hội đồng nghệ thuật. Anh cũng chính là thí sinh nhận được bình chọn cao nhất của khán giả với tỉ lệ 42,73%. Hai thí sinh Nguyễn Thị Linh Phượng và Nguyễn Thị Lý lần lượt đoạt giải Chuông bạc và Chuông đồng. Thí sinh Nguyễn Thị Linh Phượng cũng đoạt giải bình chọn của báo chí.

H.O.

—o0o—

“CÁI NÔI” CỦA NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI

(Bài đăng trang Văn Hóa báo Nhân Dân ngày 20/10/2014)

GS. Hoàng Chương

Quá trình khảo sát, tìm hiểu, các nhà nghiên cứu cho rằng: Bình Định là “cái nôi” của bài chòi và đang lưu giữ được truyền thống biểu diễn bài chòi với hội đánh bài chòi dân gian. Trên cơ sở đó, vừa qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận bài chòi Bình Định là di sản cấp quốc gia và đồng ý lập hồ sơ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Trò chơi đánh bài chòi và hát dân ca bài chòi đã có lịch sử hàng trăm năm ở các tỉnh Nam Trung Bộ, bắt nguồn từ quá trình lao động sản xuất, giao thoa văn hóa và sự sáng tạo nghệ thuật của người dân bản địa. Bài chòi đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa, là món ăn tinh thần không thể thiếu được của nhiều tầng lớp nhân dân, thu hút cả người già và lớp trẻ ở mọi vùng miền trên dải đất miền trung, Hoi choi danh bai choikhông những trong dịp Tết mà còn ở các lễ hội của địa phương.

Bởi tính dân dã, mộc mạc và vui nhộn cho nên trò chơi nghệ thuật dân gian này thu hút rất nhiều người tham gia và cổ vũ. Ý nghĩa của nó còn vượt ra khỏi một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian đơn thuần là nơi người nghệ nhân trổ tài ứng tác và biểu diễn, vừa hát hô, đối đáp; và đặc biệt hội đánh bài chòi, diễn bài chòi còn là môi trường giao tiếp cộng đồng và là nơi nam thanh, nữ tú đến gặp gỡ, giải trí, tìm hiểu, trao duyên… Hội bài chòi cổ thường được tổ chức ở những nơi công cộng rộng rãi, thoáng mát như ở quảng trường phường xã, hoặc ở ngã ba đầu làng, sân đình. Trong những năm gần đây, loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian này cũng đang gặp nhiều khó khăn do thiếu đội ngũ trẻ kế cận và do các hình thức giải trí ngoại lai chi phối. Vì vậy, công tác bảo tồn nghệ thuật bài chòi cổ là hết sức cấp bách.

Tại cuộc hội thảo khoa học: “Phát triển sân khấu ca kịch bài chòi miền trung” do Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) và Viện Sân khấu Việt Nam tổ chức tại Nha Trang tháng 10-1991, có ý kiến cho rằng: cái gốc của các làn điệu cổ, xuân nữ, xàng xê, cổ bản… đang sử dụng trong hát bội và cải lương, đều bắt nguồn từ bài chòi mà ra. Duy nhất một điều được mọi người đồng ý với nhau: là các điệu thức trong hô bài chòi có nhiều nét tương đồng với hát bộ và cải lương.

Đây không phải là sự pha tạp để làm mất cái nguyên gốc ban đầu của bài chòi, mà chỉ nên thêm vào hơi hướng tuồng, cải lương để cho bài hô phong phú hơn, hay hơn. Tuy nhiên, nếu loại hình nghệ thuật dân gian này chạy theo hướng thương mại hóa thì sự cố gắng dù cho có thành công đến mấy, cũng không thể thay thế được, bởi bài chòi đã sống cùng với dân tộc suốt dòng chảy của thời gian hàng trăm năm. Hiện nay, riêng Bình Định đã có tới mười đoàn bài chòi không chuyên, nhưng diễn hay như chuyên nghiệp và hàng trăm Câu lạc bộ bài chòi ở khắp làng, xã. Đây cũng là nơi còn tồn tại Hội đánh bài chòi cổ thường xuyên được tổ chức rất sôi nổi ở TP Quy Nhơn và các huyện phụ cận. Nhiều cuộc liên hoan và hội thảo khoa học về bài chòi đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chọn tổ chức tại Bình Định. Trong số ba đoàn nghệ thuật bài chòi của vùng Nam Trung Bộ thì Đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định được đánh giá cao bởi vẫn giữ được bản sắc. Tuy vậy, điều đáng băn khoăn là sân khấu bài chòi đang có xu hướng cách tân, hiện đại hóa làm cho chất dân gian mộc mạc của bài chòi bị mờ nhạt. Bên cạnh sân khấu bài chòi, Bình Định hiện lưu giữ khá tốt vốn bài chòi cổ trong dân gian và nghệ thuật bài chòi truyền thống vẫn được đông đảo nhân dân yêu thích.

Điều này đã khẳng định sức sống của nghệ thuật bài chòi ở Bình Định, đồng thời là động lực cho những người tâm huyết làm hết sức mình trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy nghệ thuật bài chòi.

Việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chọn tỉnh Bình Định đại diện cho sáu tỉnh, thành phố ở khu vực Nam Trung Bộ để làm công tác khảo sát, kiểm kê khoa học về bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể là một quyết định phù hợp và khả thi, bởi có thể nói, Bình Định là cái nôi của loại hình nghệ thuật này, nhất là nơi đây đang còn lưu giữ lễ hội bài chòi cùng hàng chục đoàn bài chòi dân gian khá mạnh. Trên cơ sở đó, với sự hỗ trợ của Trung tâm Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam, tỉnh Bình Định cùng Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam sẽ xây dựng, hoàn chỉnh hồ sơ để trình UNESCO xét duyệt, công nhận bài chòi là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Để chuẩn bị xây dựng hồ sơ, Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật bài chòi hướng tới UNESCO công nhận bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại” sẽ được tổ chức tại Bình Định ngày 24-10 với sự tham gia của hàng trăm nhà quản lý, nghiên cứu và nghệ sĩ.

Hội thảo nhằm làm rõ hơn những giá trị khoa học, lịch sử, văn hóa của di sản nghệ thuật bài chòi, tôn vinh và góp phần thiết thực bảo vệ loại hình nghệ thuật độc đáo này của vùng Nam Trung Bộ.

H.C.

—o0o—

TÌM LẠI SỨC SỐNG CHO NGHỆ THUẬT HÁT DÙ KÊ

Bài, ảnh: Việt Tiến, Thế Hạnh

Hát dù kê là một trong những loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc của người Khmer Nam Bộ. Việc bảo tồn các loại hình văn nghệ truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ ở Kiên Giang, trong đó có nghệ thuật dù kê, đang gặp nhiều khó khăn và còn nhiều việc phải làm

Từ tâm huyết của người “giữ lửa”

Người dân xã Ðịnh Hòa (Gò Quao, Kiên Giang) gọi Danh Bê là ông bầu gánh hát, đoàn hát gia đình của ông có mặt trình diễn ở tất cả các cuộc vui, lễ hội, Tết của đồng bào các dân tộc. Ông và gia đình Ganh hat gia dinh (danh be)được địa phương coi là những người “giữ” và “truyền lửa”, với mong muốn bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa nghệ thuật của đồng bào Khmer.

Gần 60 tuổi, các động tác của ông Danh Bê còn rất uyển chuyển và chuyên nghiệp. Ông chia sẻ: “Ngay từ nhỏ, tôi đã thích những điệu múa rô băm, hát kịch dù kê. Niềm đam mê ca múa thôi thúc tôi tham gia các phong trào, từ đây tôi đã học nghề từ những người lớn tuổi, tự mày mò nghiên cứu, dần dà những lời ca, điệu múa, lối diễn thấm vào máu. Chỉ tiếc là lớp trẻ không còn mặn mà với những điệu múa rô băm, dù kê”. Nỗi nuối tiếc biến thành sự quyết tâm của Danh Bê khi ông tập hợp con cháu dạy múa hát và thành lập đội văn nghệ Khmer. Có trong tay “đội quân” hùng mạnh, ông lập luôn gánh hát gia đình.

Mỗi khi huyện, tỉnh chuẩn bị tổ chức hội thi, hội diễn là sân nhà ông Danh Bê lại sáng đèn mỗi tối. Lời ca tiếng đàn rộn ràng vang xa, bà con trong xóm kéo đến nhà ông rất đông. Ông tâm huyết truyền dạy cho con cháu nghệ thuật hát dù kê, ví như diễn chằn ra sao, làm thế nào để lột tả được vai công chúa, hướng dẫn từng động tác múa truyền thống dân tộc như sa-ri-ka-keo, Sa-vông… Năm 2011, gánh hát của ông được xã Ðịnh Hòa chọn tham dự Liên hoan văn nghệ quần chúng toàn quốc của 11 xã điểm xây dựng mô hình nông thôn mới tổ chức tại Quảng Nam. Tiết mục của ông Bê giành một Huy chương vàng, một Huy chương bạc và xếp thứ tư trong liên hoan.

Ông Danh Bê mong muốn tất cả những gì tích lũy được truyền lại cho con cháu lưu giữ. Những vở kịch dù kê điển hình như: “Thạch Sanh chém chằn”, “Tấm Cám”, “Tam Tạng thỉnh kinh”… được ông phân vai cụ thể cho từng người diễn xuất. Tuy nhiên, gánh hát của ông đang gặp nhiều khó khăn do không có kinh phí để đầu tư mua sắm nhạc cụ, âm thanh.

Trong số những “đệ tử” của mình, ông tâm đắc nhất là Thị Hai, con gái của ông. Ông tin tưởng Thị Hai sẽ thay ông “giữ lửa” phong trào và tiếp tục lưu truyền môn nghệ thuật dân gian. Thị Hai tâm sự: “Mỗi dịp được cha dạy hát, tôi đều chăm chú theo dõi sau đó tập luyện cho đúng động tác. Tôi mê nghệ thuật Khmer và mong muốn môn nghệ thuật này mãi tồn tại và ngày càng phát triển”.

Ðến những nỗ lực bảo tồn

Theo ông Ðào Chuông, Phân hội trưởng Phân hội dân gian Kiên Giang, những năm 1980, loại hình sân khấu dù kê phát triển khá mạnh ở Kiên Giang, nhưng gần đây mai một dần, lớp diễn viên cao tuổi không còn theo nghiệp được nữa. Trong khi đó, lớp thanh thiếu niên không được kế thừa, thậm chí nói tiếng dân tộc cũng không còn chuẩn, cho nên không hát được dù kê.

Huyện An Biên từng có một đội văn nghệ Khmer hoạt động rất hiệu quả, nhưng do khó khăn về kinh phí nên đội không còn tồn tại. Huyện Gò Quao duy trì khá tốt phong trào văn nghệ dân tộc Khmer nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu để lưu giữ. Các nghệ nhân người Khmer ở Kiên Giang cũng chưa được quan tâm hỗ trợ nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Nghệ nhân Danh Mỹ ở phường An Hòa, TP Rạch Giá là một trong số ít nghệ nhân Khmer ở Kiên Giang biết làm đến 37 loại nhạc cụ khác nhau. Công việc chế tác rất vất vả công phu nhưng cuộc sống của gia đình ông Mỹ hết sức khó khăn vì nhạc cụ làm ra không có người mua.

Mong muốn bảo tồn nghệ thuật dù kê rất cần được khuyến khích tổ chức liên hoan, hội diễn văn nghệ Khmer. Ðồng thời nên đưa vào giáo dục phổ thông những kiến thức về văn hóa dân tộc; sưu tầm, lưu trữ và phổ biến các loại hình nghệ thuật truyền thống; tăng cường phát thanh truyền hình bằng tiếng dân tộc; đầu tư cho các đoàn nghệ thuật biểu diễn các tiết mục dân tộc… Vấn đề cần thiết hiện nay là phải có biện pháp và chính sách hỗ trợ đào tạo bổ sung diễn viên cho Ðoàn nghệ thuật Khmer của tỉnh, các đội văn nghệ quần chúng ở các huyện.

“Khi nghe Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thông qua danh sách 12 di sản văn hóa phi vật thể dự kiến lập hồ sơ trình UNESCO giai đoạn 2012-2016, trong đó có nghệ thuật hát dù kê của đồng bào Khmer Nam Bộ, chúng tôi những người làm nghệ thuật dân gian cũng như tất cả đồng bào Khmer rất vui mừng. Vì điều này chính là động lực tốt nhất để hồi sinh và ngày càng phát triển môn nghệ thuật hát dù kê”, ông Ðào Chuông hy vọng.

—o0o—

BẢO TỒN KHÔNG GIAN VĂN HÓA MƯỜNG

(Bài đăng trang 4 báo Nhân Dân ngày 14/9/2014)

Bài và ảnh: Vũ Lan

Khi cuộc sống đang thay đổi từng ngày, không gian và di sản văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đặt trước nguy cơ bị mai một. Câu chuyện ngôi nhà Lang trăm tuổi cuối cùng của Hòa Bình bị thiêu rụi quá nửa bởi đốm lửa vô tình thật sự là tiếng chuông cảnh tỉnh về thái độ ứng xử của chúng ta với những giá trị văn hóa cổ truyền mà cha ông để lại..

Không gian và di sản văn hóa cổ, nguyên gốc với nét riêng độc đáo về quan niệm sống, trong sinh hoạt hằng ngày của cộng đồng người Mường trải dài từ Hòa Bình, Phú Thọ vào đến Thanh Hóa, Nghệ An sẽ dần mai một? Đó là câu hỏi không thể không đặt ra khi cuộc sống của bà con bắt đầu xuất hiện những thay đổi không chỉ trong tiếp nhận tri thức, sử dụng các phương tiện văn minh, mà cả trong tổ chức cuộc sống, trong trang phục hằng ngày,… Câu hỏi đó còn có ý nghĩa hơn khi người Mường chính là chủ nhân của trường ca Đẻ đất, đẻ nướchay các địa danh “Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động” về bốn xứ Mường nổi tiếng ở vùng Hòa Bình… Với nhiều người trong chúng ta, sự thay đổi đó như một lẽ đương nhiên, nBao ton khong gian van hoa muonghưng với họa sĩ Vũ Đức Hiếu, thì đây sẽ là mất mát văn hóa không gì bù đắp được.

Chính vì thế sau gần mười năm lặn lội sưu tầm hiện vật, tích lũy và xây dựng, cuối năm 2007, Bảo tàng Không gian văn hóa Mườnggắn liền với cảm hứng của người họa sĩ trẻ với khát vọng tái hiện lại toàn bộ không gian sống của đồng bào Mường đã ra đời. Đây cũng là bảo tàng tư nhân đầu tiên về văn hóa dân tộc Mường, một dân tộc có bề dày truyền thống văn hóa trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Nằm cách trung tâm TP Hòa Bình (Hòa Bình) không xa, trên một vạt đồi trong thung lũng đá vôi nhỏ với diện tích khoảng 5ha, Bảo tàng Không gian văn hóa Mường được chia thành hai khu vực chính: khu tái hiện và khu trưng bày. Tại khu trưng bày với những hiện vật có giá trị và đa dạng như: cồng, chiêng, lư, ninh, đồng hay những hiện vật trong đời sống, sinh hoạt văn hóa của đồng bào Mường như dụng cụ đánh bắt cá, công cụ dệt, dụng cụ săn bắn, phòng tang ma… được sắp xếp theo từng chủ đề, hấp dẫn khách tham quan khi muốn tìm hiểu kỹ về đời sống vật chất và tinh thần của người Mường. Trong khi đó, khu tái hiện thật sự thu hút người xem với một quần thể xã hội Mường thu nhỏ với bốn khu nhà sàn tương ứng với bốn tầng lớp khác nhau: nhà Lang (nhà của quan Lang – người có địa vị cao nhất trong xã hội Mường); nhà Ậu (nhà của những người giúp việc cho nhà Lang); nhà Nóoc (nhà của tầng lớp bình dân trong xã hội Mường) và nhà Nóc Trọi (nhà của tầng lớp bần cùng nhất).

Ngoài ra, Bảo tàng còn có không gian nghệ thuật Muongstudio, đây là nơi các nghệ sĩ trong nước và quốc tế có thể đến để giao lưu, sáng tác và triển lãm tác phẩm của mình. Tại đây, thường xuyên diễn ra các hoạt động nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, sắp đặt… Khách tham quan có thể gặp gỡ, trao đổi cùng nghệ sĩ, và cùng hòa mình vào một không gian nghệ thuật để cảm thụ những sáng tạo mới.

Có thể thấy, với hàng nghìn hiện vật đang được trưng bày trong bảo tàng cũng đủ thấy người họa sĩ trẻ nay là giám đốc Bảo tàng đã kỳ công tìm kiếm, sưu tầm, tích lũy như thế nào. Đối với họa sĩ Vũ Đức Hiếu, thì người Mường chính là người Việt cổ, muốn hiểu người Việt, người Việt cổ thì tốt nhất là tìm hiểu qua văn hóa Mường. Vì thế xứ Mường ở Hòa Bình nổi tiếng với Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động đã mòn dấu chân Hiếu. Để làm đầy và bù đắp thêm cho Bảo tàng, những cuộc kiếm tìm các cổ vật, hiện vật của nền văn hóa Mường ở các địa phương vẫn là cuộc phiêu lưu thú vị đối với anh.

Nhưng trong những cuộc tìm kiếm đó, anh không khỏi xót xa khi những ngôi nhà sàn đang dần bị “bứng” ra khỏi vùng đất thân thuộc của nó bởi những tốp thợ người Mường tháo lắp, bốc dỡ rất chuyên nghiệp để đưa về xuôi với giá vài chục triệu hay hàng trăm triệu đồng. Vẫn biết, trong xu hướng đô thị hóa, hiện đại hóa việc níu kéo các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS sẽ ngày càng khó, song không thể không lưu giữ, bảo quản, tìm ra cách thức, hình thức phù hợp để lưu giữ bảo tồn, vì đó là quá khứ và cũng là cội nguồn của hôm nay.

Chỉ cho chúng tôi xem bộ khung cột cháy đen còn sót lại của ngôi nhà Lang hơn trăm tuổi – một hiện vật văn hóa giá trị nhất của người Mường được Bảo tàng phục dựng bị thiêu rụi trong vụ cháy do sự vô ý thức của khách tham quan vào một đêm cuối tháng 10 năm ngoái, anh Hiếu cho biết: Nhà Lang có thể phục dựng lại được, nhưng vụ cháy này chính là sự cảnh tỉnh về ứng xử của chúng ta đối với những giá trị văn hóa cổ truyền hiện nay. Bảy năm hoạt động với không ít khó khăn của một bảo tàng tư nhân, Bảo tàng Không gian văn hóa Mườngđã triển khai nhiều hướng đi mới với mong muốn giới thiệu về văn hóa bản sắc của người bản địa Mường. Chị Bùi Thị Lê, dân tộc Mường, nhân viên của Bảo tàng giới thiệu: “Đến đây, các em có thể tìm hiểu về văn hóa Mường qua các chuyên đề, như: Âm nhạc cồng chiêng; tập quán thờ cúng; văn hóa ẩm thực; thầy mo hay các bài thuốc dân gian của người Mường… do các nghệ nhân người Mường tham gia hướng dẫn”. Bên cạnh đó, ba năm gần đây, Bảo tàng cũng thường xuyên tổ chức những trại sáng tác nghệ thuật lấy văn hóa Mường làm nòng cốt tinh thần thu hút sự tham gia của các nghệ sĩ trong nước và quốc tế. Thông qua quan sát, cảm nhận, giao lưu trực tiếp với người dân tộc Mường, để từ đó các nghệ sĩ sẽ kể câu chuyện văn hóa Mường bằng chính tác phẩm của họ, chuyển tải thông điệp văn hóa Mường đến công chúng trong những cuộc triển lãm ở nhiều nơi trên thế giới.

Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Hòa cho rằng: Nhà nước cần xây dựng hành lang pháp lý, có chính sách phù hợp và sự hỗ trợ cần thiết cho những bảo tàng tư nhân như thế này. Không nên nhìn nó như một hoạt động kinh doanh mà hãy nhìn nó như hành vi văn hóa. Bởi, chỉ có nhìn với hành vi văn hóa thì người ta mới hiểu nó, cần phải làm gì cho nó, vì văn hóa sẽ trường tồn cùng nhân loại và cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

V.L.

—o0o—

ĐẠI LỄ DÂNG Y KATHINA TẠI LÀNG VĂN HÓA DU LỊCH CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

(Tin trên trang 8 báo Nhân Dân ngày 20/10/2014)

Ngày 19-10, tại chùa Khleng, một ngôi chùa Khmer Nam Bộ thuộc Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Sơn Tây (Hà Nội), Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp Ban Quản lý Làng tổ chức Đại lễ dâng y Kathina, Phật lịch 2558, Dương lịch 2014. Tham dự Đại lễ có đại diện các bộ, ban, ngành, Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và TP Hà Nội, các chức sắc Giáo hội Phật giáo Việt Nam; đại diện Đại sứ quán Vương quốc Xri Lan-ca, Băng-la-đét, Mi-anma, Cam-pu-chia, Lào, Thái-lan, các chức sắc Phật giáo một số nước và đông đảo tăng ni, Phật tử.

Dâng y Kathina là lễ hội truyền thống mang ý nghĩa gieo trồng phúc thiện của Phật giáo Nam tông, tôn vinh các giá trị Phật giáo và văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ, nhắc nhở các Phật tử bày tỏ lòng kính ngưỡng trước Tam bảo, khích lệ họ thực thi đại hạnh bố thí, dâng cúng lên người thầy của mình những vật phẩm với tấm lòng thành kính, đồng thời là dịp để các Phật tử được báo ân và nhớ về tổ tiên. Đây là lần đầu đại lễ dâng y của Phật giáo Nam tông Khmer được thực hiện tại một ngôi chùa Khmer Nam Bộ duy nhất của Thủ đô Hà Nội. Sau nghi thức niệm Phật cầu gia bị, lễ nhiễu Phật chung quanh chính điện, nghi lễ dâng y Kathina đã được thực hiện long trọng với việc Phật tử dâng lên cúng dường các chư tăng những mảnh vải để may y. Sau khi thụ y, các chư tăng đã tạ ân Đức Phật, ban pháp, tạ ân tăng đoàn tổ chức lễ thụ y và tạ ân các tín chủ đã tổ chức lễ dâng y.

PV.

—o0o—

LỄ HỘI YÔR YANG TRÊN THÁP PÔ TẰM

Đinh Châu

(Bài dăng trang 4 báo Nhân Dân ngày 19/10/2014)

Lễ hội Yôr yang theo quan niệm của người Chăm là lễ cầu an, cầu mong cho quốc thái dân an, nước nhà hưng thịnh, mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt bội thu, xua tan những điều xấu để người dân được ấm no và hạnh phúc; đồng thời ghi nhớ công ơn của tổ tiên và các vị thần thánh.

Ðối với đồng bào Chăm ở xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong (Bình Thuận), lễ hội Yôr yang trên tháp Pô Tằm (quen gọi là Lễ hội Pô Tằm) là dịp để dân làng tưởng nhớ đến vua Pô Tằm (còn gọi là Pô Ðam), vị vua có nhiều công lao giúp dân làm thủy lợi, tạo ra nhiều của cải vật chất, làm cho người dân ngày càng ấm no và hạnh phúc. Nhóm đền, tháp Pô Tằm gồm sáu tháp nằm dưới chân núi Ông Xiêm, xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong được xây dựng nửa cuối thế kỷ 8 – đầu thế kỷ 9, thuộc phong cách kiến trúc nghệ thuật Hòa Lai. Hiện nay chỉ còn lại bốn tháp tương đối nguyên vẹn, còn hai tháp khác bị phá hLe hoi yor yangủy theo thời gian. Nhóm đền, tháp Pô Tằm được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1996.

Trước đây, lễ hội được tổ chức mỗi năm một lần vào thượng tuần tháng 4 Chăm lịch (tháng 7 Âm lịch). Nay định kỳ ba năm tổ chức một lần và diễn ra trong ba ngày.

Buổi sáng ngày chính thức lên tháp là lễ rước y trang của Pô Tằm và các sắc phong do các vua triều Nguyễn phong tặng. Ðoàn rước có đầy đủ các vị chức sắc trong làng. Ði trước là những thiếu nữ với trang phục truyền thống múa quạt Chăm, hòa quyện với âm thanh huyền ảo của tiếng kèn saranai là tiếng trống ghi năng bập bùng rộn rã. Buổi chiều, các vị sư cả thực hiện các nghi lễ tẩy trần chung quanh khu vực tháp; tắm rửa và mặc y trang cho tượng thần. Tiếp đến là lễ múa mừng (Rijà Haray) dưới sự chủ trì của thầy Vỗ hòa cùng tiếng trống ghi năng, tiếng kèn saranai như báo hiệu cho bà con trong vùng biết để đến dự lễ cầu an. Ngày hôm sau là lễ tạ ơn các vị thần, thánh và vị vua Pô Tằm được tổ chức vào buổi trưa; lễ đóng cửa tháp với các nghi thức truyền thống của người Chăm…

Lễ hội là sự kiện văn hóa mang tính cộng đồng, ngày càng thu hút đông đảo du khách gần xa tới dự.

—o0o—

BẢO TỒN TIẾNG NÓI, CHỮ VIẾT ĐỒNG BÀO DÂN TỘC

THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN

(Tin trang 1 báo Nhân Dân ngày 27/9/2014)

PVTTXVN

Các tỉnh Tây Nguyên ngày càng chú trọng đầu tư, mở rộng việc dạy tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trong các trường tiểu học phổ thông dân tộc nội trú. Tỉnh Kon Tum, Gia Lai đã đưa tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc Bana, Gia Rai vào giảng dạy ở 121 trường học ở bậc tiểu học

Tỉnh Ðác Lắc đưa tiếng Ê-đê vào dạy ở 92 trường tiểu học, 13 trường trung học phổ thông dân tộc nội trú. Các tỉnh cũng cấp miễn phí bộ sách giáo khoa, tài liệu bằng tiếng dân tộc, thu hút ngày càng đông học sinh dân tộc thiểu số tham gia học tiếng nói, chữ viết dân tộc mình. Nhờ vậy các em được nghe, nói, đọc, viết thành thạo tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình; các tỉnh cũng mở nhiều lớp dạy tiếng nói, chữ viết cho cán bộ, công nhân viên chức để có điều kiện công tác, tiếp xúc làm việc với vùng đồng bào thuận lợi.

Ðồng thời các tỉnh Tây Nguyên đã phối hợp các bộ, ngành tổ chức nghiên cứu, biên soạn, xuất bản Từ điển Việt – Ê-đê, Ê-đê – Việt, Bana – Việt…, xuất bản nhiều đầu sách như truyện cổ, lời nói vần, luật tục, sử thi… song ngữ, phát hành rộng rãi về các thôn, bon, buôn, làng. Ðài Phát thanh và Truyền hình các tỉnh đều mở thêm chuyên trang, chuyên mục, nâng cao chất lượng, thời lượng phát thanh, phát sóng bằng tiếng dân tộc thiểu số của từng địa phương. Tỉnh Ðác Lắc, Gia Lai ngày càng nâng cao chất lượng, thời lượng phát thanh, truyền hình bằng tiếng Ê-đê, Mnông, Bana, Gia Rai.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Tây Nguyên cũng biên soạn, xuất bản nhiều bản tin, nội san bằng song ngữ đưa về tận các thôn, buôn, bon, làng đồng bào dân tộc thiểu số. Cơ quan thường trú Ðài Tiếng nói Việt Nam tại Tây Nguyên đã phát sóng bằng sáu thứ tiếng dân tộc thiểu số chủ yếu ở Tây Nguyên như Bana, Ê-đê, Mnông, Gia Rai, Cơ Ho, Xơ Ðăng. Hiện nay, các tỉnh Kon Tum, Lâm Ðồng tiếp tục nghiên cứu, biên soạn các giáo trình, sách giáo khoa tiếng Xơ Ðăng, Chu-ru để đưa vào giảng dạy trong trường học, dạy cho cán bộ, công nhân viên chức nhằm góp phần bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

* Phát triển nguồn nhân lực y tế ở đồng bằng sông Cửu Long

Trong giai đoạn 2003-2014, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp y – dược ở TP Cần Thơ và vùng đồGio hoc dan toc noi trung bằng sông Cửu Long tập trung đào tạo nguồn nhân lực y tế theo hướng đa dạng hóa ngành nghề. Cụ thể, Trường đại học Y – Dược Cần Thơ mở thêm sáu mã ngành mới bậc sau đại học. Ðến nay, Trường đại học Y – Dược Cần Thơ đã đào tạo 2.830 học viên cao học và nghiên cứu sinh; trong đó, gần 1.800 học viên đã tốt nghiệp về địa phương công tác; Trường trung cấp Miền Tây (Cần Thơ) tổ chức xét tuyển y sĩ, điều dưỡng chuyển đổi đối với người đã tốt nghiệp y sĩ đa khoa, điều dưỡng đa khoa, dược sĩ hệ trung cấp các chuyên ngành nha khoa, nhi khoa và y học cổ truyền; Trường cao đẳng Y tế Cần Thơ tăng hơn 600 chỉ tiêu đào tạo hệ trung cấp các ngành: điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật xét nghiệm, kỹ thuật ảnh y học, kỹ thuật vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, dược sĩ trung cấp, y sĩ; liên kết đào tạo giảng viên, xây dựng chương trình đào tạo điều dưỡng hộ sinh theo tiêu chuẩn quốc tế với các viện, đại học của Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a, Hung-ga-ri, Ai-rơ-len.

Thời gian tới, Ngành y tế các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tập trung bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ y tế, xây dựng đội ngũ cán bộ y tế chất lượng cao; ưu tiên phát triển các ngành chăm sóc sức khỏe cộng đồng, nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ y tế. Ðồng thời, tăng cường xã hội hóa công tác y tế phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương trong khu vực. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, các cơ sở y tế trong vùng sẽ đào tạo hơn bảy nghìn bác sĩ, hơn ba nghìn dược sĩ nhằm đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng cao của người dân đồng bằng sông Cửu Long

—o0o—

LIÊN HOAN VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU

(Tin trang 5 báo Nhân Dân số ra ngày 16/10/2014)

Từ ngày 15 đến 30-11, tại Hà Nội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội tổ chức Liên hoan Văn hóa Tín ngưỡng thờ Mẫu năm 2014. Liên hoan có sự tham gia của gần 250 thanh đồng thuộc các nhóm thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tại các đền, phủ, câu lạc bộ chầu văn trong địa bàn Hà Nội. Liên hoan năm nay được tổ chức làm hai đợt: Đợt một (cấp quận, huyện) diễn ra tại bốn địa điểm gồm: Đền Lừ (quận Hoàng Mai); Đền Lưu Phái (quận Thanh Trì); Đền Quan Tam Phủ (thị xã Sơn Tây); Đền Rừng (quận Long Biên). Mỗi điểm có từ 20 đến 25 nhóm tham gia diễn xướng những giá đồng trong nghi lễ chầu văn truyền thống, ca ngợi các vị thần và các anh hùng có công với dân với nước được nhân dân tôn vinh. Ban tổ chức sẽ lựa chọn phần diễn xướng xuất sắc tham gia liên hoan cấp thành phố (đợt hai) diễn ra trong hai ngày 28 và 29-11 tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt – Xô. Trong khuôn khổ liên hoan còn có chương trình tọa đàm với chủ đề “Thực trạng Văn hóa Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Hà Nội” vào ngày 29-11.

—o0o—

PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG “KÍNH PHẬT – PHỤNG ĐẠO – YÊU NƯỚC”

(Tin trang 3 báo Nhân Dân ngày 15/9/2014)

Ngày 14-9, tại TP Châu Ðốc (An Giang) diễn ra Hội nghị Phật giáo chuyên đề Nam tông Khmer lần VI.

Phật giáo Nam tông Khmer An Giang sinh hoạt chung trong Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh An Giang, là một thành viên quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các hoạt động Phật sự luôn phát huy cao độ truyền thống “Kính Phật – Phụng đạo – Yêu nước”, nhất là tinh thần đoàn kết đạo – đời, đoàn kết tôn giáo, cùng thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chùa và sư sãi trong Phật giáo Nam tông Khmer luôn là điểm tựa tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer. Phật giáo Nam tông Khmer tại An Giang luôn đồng hành với Tổ quốc và dân tộc, tuân thủ Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và pháp luật Nhà nước.

—o0o—

HOẠT ĐỘNG MỪNG LỄ SÊN ĐÔL TA Ở SÓC TRĂNG

(Tin trang 3 báo Nhân Dân ngày 23/9/2014)

Ngày 22-9, Tỉnh ủy, HĐND, UBND và MTTQ tỉnh Sóc Trăng tổ chức nhiều đoàn đại biểu thăm, chúc mừng lễ Sên Đôl Ta (lễ cúng ông bà) tại hơn 90 điểm chùa Khmer trong tỉnh.

Tại các điểm chùa, các đoàn đã ân cần thăm hỏi đời sống của đồng bào Khmer trong phum sóc, đồng thời thông báo với bà con việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua, những định hướng trong thời gian tới. Chính quyền, mặt trận, các đoàn thể ở địa phương trích ngân sách hàng trăm triệu đồng để thăm viếng, tặng quà các chùa, cán bộ hưu trí, gia đình chính sách, những người có uy tín, các hộ nghèo là người Khmer…

Lễ Sên Đôl Ta của đồng bào Khmer Nam Bộ năm nay diễn ra từ ngày 22 đến 24-9.

P.V.

—o0o—

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA

TRONG PHÁT TRIỂN CỦA THỪA TIÊN – HUẾ

(Tin trang 5 báo Nhân Dân số ra ngày 24/8/2014)

Chiều 23-8, tại TP Huế, Hội đồng Lý luận T.Ư phối hợp Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên – Huế tổ chức tọa đàm khoa học: “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể trong phát triển của tỉnh Thừa Thiên – Huế”.

Tại tọa đàm, các nhà quản lý, nghiên cứu văn hóa ở Huế và trong nước đã trình bày các tham luận, trao đổi và đóng góp ý kiến cũng như kiến nghị các bộ, ngành liên quan ở T.Ư và địa phương nhiều giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của quốc gia nói chung và tại Thừa Thiên – Huế nói riêng. Các đại biểu đã đề cập công tác trùng tu, tu bổ di tích ở Huế gặp nhiều khó khăn do số lượng di tích nhiều, nhưng kinh phí bố trí hằng năm lại rất thấp, đề nghị T.Ư cần xem xét, có sự đầu tư cho những khu vực trọng điểm về văn hóa; nhanh chóng quy hoạch các lễ hội trong cả nước, tránh tình trạng nhiều địa phương cùng tổ chức lễ hội giống nhau; đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền cho các địa phương; quan tâm chính sách đối với nghệ nhân.

P.V.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: