Pham Ton’s Blog

Tháng Mười 24, 2014

Phan Khôi và Phạm Quỳnh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:39 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 5 tháng 10 năm 2014.

PHAN KHÔI VÀ PHẠM QUỲNH

Lời dẫn của Phạm Tôn: Phan Khôi và những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa là nhan đề bản tin trên trang 17 báo Tuổi Trẻ số ra ngày 7/10/2014 như sau:

“Sáng 6-10 tại Thành phố Tam Kỳ, Sở Văn Hóa -Thể Thao & Du Lịch và Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật tỉnh Quảng Nam tổ chức hội thảo khoa học “Phan Khôi và những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa dân tộc”. Ðồng chủ trì hội thảo có phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam Dương Trung Quốc, phó viện trưởng Viện Văn học Việt Nam PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn, giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Ðinh Hài.

Hội thảo đi sâu vào việc nhìn nhận, đánh giá con người trí thức Phan Khôi (1887-1959, quê vùng Gò Nổi, Ðiện Bàn, Quảng Nam) một cách đa chiều từ cá tính, cuộc đời đến vai trò nhà báo, nhà văn với nhiều cách tân, phản biện xuất sắc từng để lại dấu ấn và gây tiếng vang cả nước. Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, điều đáng mừng là trước khi tổ chức hội thảo, ban tổ chức đã tập hợp in thành kỷ yếu với 50 tham luận của nhiều nhà nghiên cứu tên tuổi và cả những tác giả mới cùng những nhìn nhận cũng khá mới mẻ về Phan Khôi.

Một số tham luận được trình bày tại hội thảo tiếp tục ghi nhận những đóng góp của Phan Khôi trên các lĩnh vực: Vị thế Phan Khôi trong phong trào Thơ mới – Nhìn từ thực tại Thơ mới 1932-1945 (PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn), Phan Khôi với việc bảo vệ quyền lợi của người dân (PGS.TS Trương Công Kỳ), Phan Khôi – người Quảng Nam thứ thiệt (Phạm Phú Phong), Quê hương, gia thế Phan Khôi (PGS.TS Nguyễn Văn Ðăng), Phan Khôi với thơ trào phúng và nghề làm báo (nhà báo Vu Gia), Phan Khôi với luận lý học (GS.TS Ngô Quang Huy), Ðóng góp của Phan Khôi về nghiên cứu Việt ngữ (Phan Thanh Minh)…

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng sắp tới, việc nhìn nhận, đánh giá những đóng góp của Phan Khôi trên nhiều lĩnh vực khác cũng phải trên tinh thần sử học, trung thành với sự thật khách quan để đưa đến nhận định chính xác, khoa học và thuyết phục.

Võ Trường.”

Nhân dịp này, xin mời các bạn đọc ba bài liên quan đến Phan Khôi và Phạm Quỳnh.

*

*   *

ĐỌC BÀI CHIÊU TUYẾT CHO MỘT NHÀ CHÍ SĨ CỦA ÔNG HUỲNH THÚC KHÁNG

Phan Khôi

Lời dẫn của Phạm Tôn: Trước đây chúng tôi đã đưa lên blog bài của Thanh Lãng nhan đề Trường hợp Phạm Quỳnh và một số bài của vài người khác viết năm 1962, 1963 về cuộc tranh luận do Nguyễn Văn Trung khởi xướng tại Sài Gòn lên án Phạm Quỳnh là tai say của Pháp, toàn là những bài viết sau khi nổ ra vụ án Truyện Kiều rất lâu, ít nhất cũng gần 40 năm…

Hôm nay, chúng tôi xin mời các bạn đọc bài của một người đương thời, viết ngay thời gian ấy, lại là một cây bút từng gọi Phạm Quỳnh là học phiệt và lên tiếng cảnh cáo: nhà báo, nhà nghiên cứu Phan Khôi, với mong ước bạn đọc hôm nay có cái nhìn khách quan hơn về một sự kiện văn học lớn, cũng như về một nhân vật có vai trò quan trọng trong lịch sử văn học nước ta nửa đầu thé kỷ XX.

Sau đây là vài nét về Phan Khôi, trích trong Từ điển Văn học – bộ mới, của Nhà xuất bản Thế Giới, Hài Nội, xuất bản năm 2004.

“Phan Khôi (1887-5.VIII.1960). Nhà văn Việt Nam bút danh: Chương Dân, Thông Reo, Tú Sơn (phiên Phan Khoiâm chữ “tout seul” có nghĩa là một mình)…; (…) Học chữ Nho từ nhỏ, đỗ Tú tài Hán học (1905), tự học quốc ngữ và tiếng Pháp. 1907: tham gia Đông Kinh nghĩa thục, viết Đăng cổ tùng báo (Tập báo khêu đèn gióng trống). Pháp khủng bố Đông Kinh nghĩa thục, trở về Quảng Nam; bị bắt trong phong trào chống thuế (1908) phải tù một thời gian; sau đó ra Hà Nội; viết báo Nam Phong (1918). Trước 1945, sống chủ yếu ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, viết trên các tờ: Thực Nghiệp Dân Báo, Hữu Thanh, Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn, Phụ Nữ Thời Đàm, Đông Pháp Thời Báo, Trung Lập, Đông Tây, Tràng An, Hà Nội báo, Tao Đàn, Tri Tân, chủ trương tờ Sông Hương (1936-39) (…) Sau Cách mạng Tháng Tám, sống ở Quảng Nam rồi Hà Nội; thời kháng chiến chống Pháp: công tác ở Việt Bắc, tham gia Đoàn Văn nghệ kháng chiến, dịch sách, nghiên cứu ngôn ngữ học (…)

“Thời Pháp thuộc, Phan Khôi được xem như một nhà báo kỳ cựu, viết đến khoảng nghìn bài báo lớn nhỏ về nhiều lĩnh vực: văn học, nghệ thuật, chữ viết, sử học, triết học, ngôn ngữ học, văn hóa, xã hội, luân lý, chính trị, thời sự… Là người có sở đắc Hán học vững chắc, lại tiếp thu được tư tưởng Âu Tây, nhà báo Phan Khôi đã phát biểu nhiều ý kiến đặc sắc, táo bạo: loạt những bài tạp luận trên Đông Pháp thời báo bàn về các vấn đề dân sinh, xã hội, động đến cả chính quyền thuộc địa, đề cao công lý, tinh thần tự trọng và truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam. (…)

“(…) nói chung, Phan Khôi vẫn được xem là một “kiện tướng” trong làng báo chí Việt Nam đương thời với các đặc điểm: viết nhiều và xông xáo; thường xuyên đề xuất những vấn đề mới (do đó ông đã gây ra bút chiến: về Nho giáo với Trần Trọng Kim, về Truyện Kiều với Phạm Quỳnh, về “quốc học” với Trịnh Đình Rư, về triết học, sử học với Hải Triều…); một thái độ cứng cỏi thẳng thắn có thể xứng đáng “đóng vai ngự sử đàn văn” (Vũ Ngọc Phan – Nhà văn hiện đại) và đặc biệt là một lối văn có tính cách tân so với đương thời: mạch lạc, rắn rỏi, linh hoạt mà sắc sảo…”

Bài viết sau đây của Phan Khôi từng in trên báo Trung Lập, Sài Gòn các số 6266 (7-10-1930), 6267 (8-10-1930) và 6268 (9-10-1930). Chúng tôi theo đúng toàn văn trên các trang từ 418 đến 428 trong sách Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo 1930 do Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội xuất bản năm 2006.

*

*     *

I

Độc giả hẳn còn nhớ trên tờ báo nầy, trước kia có đăng bài Cảnh cáo học phiệt của tôi, kế đó có đăng bài trả lời của ông Phạm Quỳnh, mới rồi lại có đăng bài của ông Huỳnh Thúc Kháng, cũng nghị luận về một việc.

Bài ông Huỳnh có ý bác lời của ông Phạm mà binh vực cho sự chủ trương của ông Ngô Đức Kế, là một trang chí sĩ đã quá cố, và đã công kích sự cổ động Truyện Kiều của ông Phạm Quỳnh năm xưa.

Lá lay gây ra việc nầy là tự tôi. Song sau khi đọc bài ông Phạm trả lời, tôi lại bỏ đi mà không nói nữa ; trong số 70 của Phụ nữ tân văn, tôi chỉ nói riêng về cái ý kiến lập hội “chấn hưng quốc học” của ông ấy. Tuy vậy, tôi cũng tỏ ý mong cho tòa án dư luận phân xử vụ kiện không thuộc về hình luật mà cũng không thuộc về dân luật đó.

May sao báo Tiếng dân trong một số mới rồi, Huỳnh Thúc Kháng tiên sanh lại có bài can thiệp vào mà thẩm phán. Tôi đọc qua thì mừng lắm, vì thấy lần nầy trong hàng thức giả đã có người không lấy cái thái độ nguội lạnh mà đối với dư luận như trước nữa.

Bài của ông Huỳnh, độc giả ai nấy chắc đã chú ý mà đọc, vì nó là một việc quan hệ chẳng phải nhỏ, vả lại là lời ra từ miệng một bậc đàn anh. Tôi đây cũng vậy. Nhưng tôi lại thấy rằng trong đó còn có một đôi chỗ không được đích xác và công bình cho lắm. Vậy xin phép trước là Huỳnh tiên sanh, sau là độc giả, cho tôi chỉ ra những chỗ ấy.

Huỳnh tiên sanh nhắc lại bài ông Ngô là một bài quan hệ về học thuật, có giá trị lắm, cái đầu đề của nó là Chánh học với tà thuyết, vậy thì không phNgo Duc Keải là câu chuyện cá nhân, câu chuyện quyền lợi, không quan hệ với học vấn tư tưởng như ông Phạm Quỳnh đã khai ra. Ông Huỳnh dùng chỗ đó mà bác lời ông Phạm, chắc độc giả ai cũng phải nhận là có lẽ lắm. Tôi cũng vậy, tôi cũng nhận chỗ đó thật đáng gọi là “nhứt ngôn cư yếu”, nghĩa là một lời mà nắm được chỗ khẩn yếu vậy.

Phải chi toàn bài, Huỳnh tiên sanh cứ một chỗ đó mà lập luận thì dầu chính ông Phạm Quỳnh là người bị công kích cũng phải tâm phục. Song tiếc thay, trong bài ấy, có chỗ tỏ ra tây vị ông Ngô quá và có chỗ lại như tuồng nói xoi ông Phạm, làm cho ông nầy không phục  tình cố nhiên, mà cho đến người thức giả ở ngoài cuộc cũng không phục tình.

Huỳnh tiên sanh kể qua cái tâm sự chí khí của ông Ngô, rồi nói rằng : “Trong cái sự nghiệp trứ tác của ông (Ngô), bài Chánh học cùng tà thuyết nói ở trên chỉ là một bài trong ngàn bài khác”.

Chắc ông Phạm Quỳnh có đọc tới câu nầy thì ông phải bĩu môi. Mà còn người khác nếu người ta biết ông Ngô như tôi biết, thì không bĩu môi đi nữa cũng phải lắc đầu lè lưỡi, nói rằng : Văn của ông  Ngô Đức Kế làm gì mà có đến ngàn bài ? Cứ như tôi biết, thì ông Ngô ở vào thời đại “duy tân” (1906-1908), có được đôi ba bài cổ động gì đó bằng chữ Hán, khi ở Côn Lôn có được mấy bài thơ ; còn hồi làm chủ bút Hữu thanh thì ông viết cả thảy chừng mấy chục bài mà có chừng năm ba bài xuất sắc, sau đó thì ông có xuất bản đôi cuốn sách mà không có giá trị mấy, vì toàn là văn sao tập và văn dịch. Như vậy mà nói rằng số văn của ông Ngô đến hằng ngàn thật là nói thêm nhiều quá !

Tôi nói như vậy không phải là nói ông Ngô làm văn có ít để hạ giá ông xuống đâu. Nếu văn ông là hay, là có quan hệ với nhân tâm thế đạo thì ít cũng không hại chi, vì theo lời tục nói, “quân tử quý tinh bất quý đa”. Ý tôi nói đây là chỉ muốn cho Huỳnh tiên sanh phải nói theo sự thiệt, khi nào văn của ông Ngô đến số ngàn thiệt, thì hãy nói số ngàn ; bằng không, ổng có chừng nào, hẵng nói chừng nấy.

Xin Huỳnh tiên sanh cùng độc giả đừng cho sự tôi chỉ trích đây là mọn mạy không quan hệ. Tôi coi ý tiên sanh làm văn, khi dùng những chữ số mục thường không cố ý cho thiệt đúng. Cách đây hai năm, khi tiên sanh đọc bài diễn văn tại viện dân biểu Trung kỳ mà bị ông Jabouille kháng cự, cũng chỉ vì tiên sanh dùng những chữ số mục nói về trường học không được đúng. Theo lẽ ra thì bài diễn văn ấy chẳng có chỗ nào kháng cự được hết, song người ta đã sẵn cái ý kháng cự rồi, thì bắt ngay cái chỗ hớ ấy mà kháng cự lại tiên sanh.

Trong bài nầy đây, nếu ông Phạm không phục tình thì cũng sẽ lấy cớ ông Huỳnh nói thất thiệt mà cho là có ý tây vị ông Ngô đó vậy.

Lại một chỗ nữa, Huỳnh tiên sanh đã tỏ ra cái thái độ không được đường đường chánh chánh cũng đủ làm cho ông Phạm không phục tình.

Số là ông Phạm Quỳnh từ hồi làm chủ bút Nam Phong đến giờ, đi đâu một bước cũng có làm du ký. Ấy là Mười ngày ở Huế ; Một tháng ở Nam Kỳ; Ba tháng ở Paris. Sự đi ra mà làm du ký là sự thường, ai không muốn làm thì thôi, chớ làm du ký không phải là sự “mua danh”. Nếu hễ thấy làm du Huynh Thuc Khangký, cho là “mua danh”, thì ai cũng sẽ tránh cái tiếng ấy mà không còn ai dám làm du ký nữa, rút lại, chúng ta sẽ không có một cuốn du ký nào mà đọc.

Vậy mà Huỳnh tiên sanh nói rằng : “Ông (Ngô) có làm Côn Lôn du ký mà tuyên bố để mua danh đâu”. Tiên sanh nói câu ấy thật rõ là nói xoi ông Phạm Quỳnh đã làm nhiều lần du ký.

Trên câu ấy, tiên sanh bẻ ông Phạm mà nói rằng : “Còn nói ông Ngô có cái lịch sử 10 năm ở Côn Lôn nên ông không ngang sức, thì thật là vô lý. Mười năm Côn Lôn là một vấn đề, bác sự học Kiều là một vấn đề khác, hai điều có dính liếu gì đâu. Và trong bài Chánh học của ông Ngô, ông có đem mười năm Côn Lôn mà khoe với ai đâu ?” Những câu ấy thật là chánh đáng lắm. Đương nói giọng chánh đáng đàng hoàng như vậy, sao tiên sanh lại xạ vào một câu như tuồng soi bói ông Quỳnh, thì có phải là phí mất chăng ? Đáng tiếc thay !

II

Trong bài phê bình I của tôi, tôi vẫn cũng chịu bài của ông Huỳnh là một cái nghị luận đường chánh, là một cái ý kiến đáng và cần phát biểu ; song tôi chỉ tiếc có hai chỗ : một chỗ nói thất thiệt và một chỗ có ý xoi bói. E vì những chỗ ấy làm cho người bị công kích không phục tình.

Tuy vậy, còn nữa. Hai chỗ đã chỉ ra đó chẳng qua là chỗ dễ thấy hơn ; đến có chỗ mới nghe qua vẫn là đường chánh, mà xét kỹ lại, cũng thành ra thất thiệt và hàm cái ý xoi bói nữa, chỗ nầy hơi khó thấy, hôm nay tôi chỉ nốt ra đây.

Huỳnh tiên sanh nói rằng :

“Ông Ngô Đức Kế là một người tài học trổ từ lúc thiếu niên, nếu như có ý thờ cái chủ nghĩa vinh thân phì gia, mượn lối văn chương để tiện đường mua giàu chác tiếng như ai, thì trong đám người đời mà lên mặt sang trọng thông thái ấy, ông làm đến đâu cũng thừa ra. Thế mà hy sinh cả thảy, chỉ ôm một lòng lo việc chung cho đất nước, trọn đời đày đoạ mà cứ khăng khăng một mực, cho đến ngày đậy nắp hòm !…”

Một đoạn ấy lời văn rắn rỏi, lại đầy những cái ý cảm khái lâm ly, chắc có nhiều người đọc tới mà lấy làm phấn khích, hoặc giả đến nỗi có kẻ phải sa nước mắt chưa biết chừng. Mà thật thế, cái lối văn thuộc về tình cảm nó nuốt người ta mạnh lắm, có khi nó cướp mất cả phần lý trí.

Vậy mà theo con mắt nhà phê bình, trong bài Pham Quynh chu but Nam Phongcủa ông Huỳnh có đoạn nầy là đoạn nhiều lỗi hơn hết, chẳng phải chơi. Tôi nói như vậy chắc có người cho tôi là vạch lông tìm vết. Song không phải đâu, xin thong thả nghe tôi cắt nghĩa.

Đoạn ấy cũng vẫn là thất thiệt. Xưa nay những người tài học trổ từ lúc thiếu niên, dầu là người có chí về danh lợi đi nữa đâu có phải hết thảy về sau đều trở nên người phú quý ? Nếu bao nhiêu những người ấy trên đời nầy đều là người phú quý hết thảy, thì đoán quyết cho ông Ngô  “làm đến đâu cũng thừa ra”, ai còn cãi được ư ? Cái nầy, tôi thấy ra, có rất nhiều người học giỏi, đậu sớm, mà làm quan cứ trầm trầy trầm trật đến già một đời ; còn có người đậu đại khoa sớm, làm quan to ngay, như ông Trần Hy Tăng, thì chưa đầy bốn mươi tuổi lại chết.

Huống chi, giở Đăng khoa lục ra mà coi, thì thấy từ đời Minh Mạng có thi hương thi hội đến giờ, phần nhiều bậc đại thần ở triều ở quận là cử nhơn xuất thân, chớ tấn sĩ lại là phần ít. Vậy nên ông Ngô mà cứ theo quan trường, đừng theo quốc sự, thì sự làm nên cùng chăng, cũng còn nằm trong hai chữ phận mạng, còn ở trong trái ổi, dựa vào hơi ông chi mà nói được rằng “làm đến đâu cũng thừa ra”? Phải chi chỗ nầy tác giả nói rằng “hoặc giả ông Ngô đã làm đến đâu rồi”, thì còn được, chớ nói quyết rằng “làm đến đâu cũng thừa ra”, thì là một điều phán đoán trái với luận lý học. Tôi nói là thất thiệt, vì thế.

Tài nào cho khỏi có người bảo phê bình như vậy là quá khắc. Song không phải khắc đâu. Theo văn học đời nay, nó cũng có cái khuynh hướng như cái khuynh hướng của triết học, tức là “Chơn, Mỹ, Thiện (le vrai, le beau et le bien). Đoạn [. . . .][1] của ông Huỳnh đây phạm vào mặt “bất chơn”, không [. . . .]* được. Nếu không tin, ông nào giỏi tiếng Pháp thử dịch ra đi, mà phải giữ “temps des verbes” **cho thật đúng với nguyên ý, rồi nghe thử có được không ?

Nhưng nếu theo lối văn khoa cử ngày xưa thì đoạn nầy có lẽ lại được khuyên nhiều. Vì trong những bài kinh nghĩa văn sách, người ta nói luôn luôn như vầy : “Phải chi đức Khổng thầy Mạnh mà được dùng ra, thì nói thiệt, cái đời Xuân thu Chiến quốc sẽ đổi ra Đường Ngu Tam đại tức thì. Tiếc thay thánh hiền chẳng gặp thời, làm cho muôn họ lúc bấy giờ không được gội nhuần ơn nho giả !”. Ấy đó, văn khoa cử thì là thế, không kể cái hoàn cảnh bấy giờ ra sao, không nhắm đến cái tài lực thánh hiền thế nào, chẳng thèm phòng hao chút nào hết, cứ nói đại đi rằng hễ thánh hiền thì làm muôn việc đều được, không làm, làm thì chắc được !

Đoạn ấy, chẳng biết ông Huỳnh có ngụ cái ý nói xoi ông Phạm Quỳnh không, song tôi đọc lên thì thấy có cái ý ấy. Ông Phạm có “thờ cái chủ nghĩa vinh thân phì gia” không, thì không biết ; ông có “mượn văn chương” không, thì không biết ; song một điều ai ai cũng biết, là ông ấy đã nhờ văn chương của mình mà được giàu (giàu hơn tôi) và được tiếng. Ở giữa đám chúng ta đây ông Phạm cũng đáng kể vào bậc “sang trọng và thông thái”, duy chưa chắc một điều là “lên mặt” cùng chẳng lên. Chỗ nầy tác giả cốt muốn đặt một ý giả thuyết (hypothétique) về ông Ngô, thế thì đặt cách nào chẳng được, lại nhè nhắm trúng vào ông Quỳnh mà đặt, vậy thì có thầy kiện nào già miệng đến nỗi cãi được rằng lời nói ấy là lời nói trực tình ?

Lại còn phạm cái lỗi nói ra ngoài đề. Ông Huỳnh đương bẻ ông Phạm rằng cái bài ông Ngô nói chuyện chánh học với tà thuyết, là vấn đề quan hệ đến nhân tâm thế đạo, chớ không phải câu chuyện quyền lợi, câu chuyện cá nhân như ông Phạm nói. Nếu vậy thì chỉ cứ nên thân minh cái nghĩa chánh học và tà thuyết ra, để đè sấp cái nghĩa cá nhân quyền lợi bên kia đi là được rồi, hà tất phải chưng ông Ngô lên làm chi ? Huống chi ông Phạm đã nói rằng ông Ngô có cái mười năm Côn Lôn, ông không ngang sức nên ông không đối đáp, thế là ông có ý nhượng bộ chỗ đó rồi. Nội một cái mười năm Côn Lôn, người ta đã nhượng bộ, sao ông Huỳnh lại còn đem cả nhân cách một đời của ông Ngô ra mà doạ thêm ? Lại huống chi ông Huỳnh đã biết rằng trong bài ông Ngô, ông “không hề đem cái mười năm Côn Lôn ra mà khoe”, thì sao ông lại đem cả nhân cách một đời ông Ngô ra mà “khoe” trong bài của mình ? Nói tóm lại, chỗ nầy ông Huỳnh chỉ nên luận về “việc”, chớ không nên đem cái “người” của ông Ngô và ông Phạm ra mà nói.

Sau hết tôi phải nói đến cái ý nầy, cái ý nầy thì khí cao một chút. Đại phàm người nào đã thật lòng hy sanh phú quý thì chẳng khi nào kể đến sự hy sanh ấy, mà cũng chẳng hề xem thấy cái phú quý của kẻ khác nữa. Nếu còn kể đến, còn xem thấy thì hình như hai chữ phú quý trong lòng mình còn chưa quên, và sự hy sanh ấy không phải thực lòng. Ông Ngô nếu thực lòng hy sanh, mà ông Huỳnh lại nói như vậy, vẫn biết là lời giả thiết, song cũng e làm cho ông Ngô ân hận dưới suối vàng nếu ổng có linh !

Năm ngoái, có người chí sĩ ở trong khám lớn Sài Gòn làm bài thơ, có một câu đại ý nói mình ở trỏng thì khổ nhục trăm bề, mà cứ nghe kèn xe hơi bốn phía ngoài tường, bóp lia bóp lịa, chẳng biết họ đi đâu mà sung sướng nỗi chi ! Tôi nghe đọc thì tôi phê bình thầm vừa đủ tôi nghe mà rằng : “Ủa hay ! người ta sung sướng thì người ta mới đi xe hơi, còn ông ở tù thì ông mới làm chí sĩ!”

Tôi nói đến cái ý cao nầy, xin đừng ai đem mà trách tôi. Trước hết tôi đứng lên tự nhận tôi là nhà phê bình đây ; rồi tôi nói rằng tôi chẳng phải là chí sĩ, tôi chưa hề hy sanh cái gì, tôi vẫn chạy theo phú quý, song trong khi tôi phê bình, thì tôi có cái trách nhiệm nhắc cái văn phẩm lên cho cao.

 III

Phê bình về một bài mà viết cho đến ba bài như vậy, thật là quá lượng, chẳng khác nào thuộc địa lại to hơn mẫu quốc ! Tuy vậy, nhơn dịp nầy, cống hiến cho độc giả một vài điều nên biết trong cõi văn học đời nầy cũng hay.

Trong bài của Huỳnh tiên sanh có ý mạt sát Truyện Kiều đến nỗi nói rằng “người tô vẽ nó có công đức gì mà hoan nghinh ?” Rồi đó tiên sanh lại trưng ra những cái tội ác của xã hội ngày nay như là say mê sóng sắc, chìm nổi biển tình, dứt cả nền nếp gia đình, trật tự xã hội mà đổ tội cho kẻ tán dương Truyện Kiều ; như vậy thật là quá đáng.

Muốn đánh giá Truyện Kiều và cái công nghiệp văn chương ông Nguyễn Du cho vừa phải, đừng cao quá, đừng hạ quá, thì trước hết phải hiểu trong cõi văn học của thế giới ngày nay có hai cái khuynh hướng trái nhau mà cũng có thế lực ngang nhau. Ấy là một phái chuyên trọng về nhân sanh ; một phái chuyên trọng về nghệ thuật.

Phái nhân sanh có một lời tiểu biểu rằng : Nghệ thuật vì nhân sanh (l’art pour la vie). Phái ấy chủ trương rằng cái mục đích của văn học là ở có ích cho xã hội, có lợi cho đạo đức, cho nên bất kỳ văn chương nào hay mấy đi nữa mà trái với cái mục đích ấy cũng thành ra đồ bỏ. Còn phái nghệ thuật lại có lời tiêu biểu phản lại nói rằng : Nghệ thuật vì nghệ thuật (l’art pour l’art). Đại khái phái nầy chủ trương rằng cái mục đích của văn học là ở sự đẹp, bên ngoài sự đẹp không còn có mục đích gì, cho nên bất kỳ văn chương nào miễn cho hay cho đẹp thì thôi, chớ không kể là có ích cho đời người cùng chăng. Ấy, cái đại thể trong cõi văn học của thế giới ngày nay có chia ra hai phái là như vậy.

Hai phái ấy phái nào cũng có cái lý thuyết của mình đủ mà thành lập, không ai nhượng ai. Bởi vậy, các nhà văn học trong các nước ngày nay tùy mình muốn ngả về phái nào thì ngả, và cả hai đều có giá trị hết.

Nếu cứ theo cái hiện tượng ấy và nếu nhận cho văn chương Truyện Kiều là đẹp là hay, thì cái người vì quốc ngữ mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du, chẳng phải là làm một việc không có ý thức. Vì trong khi làm việc ấy, người ta đứng về phái nghệ thuật, người ta chỉ sùng bái cái đẹp mà thôi, mà tự họ lại nghĩ rằng cái đẹp ấy chẳng có thể nào gây ra ảnh hưởng xấu cho xã hội.

Tôi không rõ lúc bấy giờ ông Phạm Quỳnh có bảo đem Truyện Kiều mà làm “sách học” không, có coi Truyện Kiều như sách giáo khoa không ; nếu vậy thì đáng công kích thật ; còn như lấy danh nghĩa “Văn học ban” của hội “Khai trí tấn đức”, khuynh hướng về cái thuyết “nghệ thuật vì nghệ thuật” mà cổ động cho Truyện Kiều, kỷ niệm ông Nguyễn Du, thì tôi chẳng thấy chỗ nào đáng công kích hết, mà tôi cho là việc ai thích thì làm, chẳng hại gì cả.

Cái hiện tượng trong cõi văn học thế giới ngày nay như đã giải ra trên kia đó, thì bên Tàu ngày xưa lại tương phản. Theo bên Tàu ngày xưa, cái quan niệm về văn học đại để khuynh hướng về phái nhân sanh hết. Tuy có một vài người chủ trương theo như phái nghệ thuật, song đã bị phái kia to thế lực hơn đánh đổ đi.

Như Chiêu Minh thái tử, người đã biên tập bộ Văn tuyển, có nói một câu rằng : “Cái đạo lập thân khác với văn chương : lập thân thì trước phải cẩn thận ; song văn chương thì hẵng cho phóng đãng”. (Lập thân chi đạo dữ văn chương dị; lập thân tiên tu cẩn thận ; văn chương thả tu phóng đãng). Câu ấy tức là đại biểu cho phái nghệ thuật của Trung Quốc đời xưa ; nhưng đã bị nhiều người bắt bẻ lắm, cho rằng văn chương như thế là hại đạo, cho nên phái ấy ở nước Tàu không mọc lên được.

Các nhà văn hào như Hàn Dũ thì nói : “Văn để mà chở đạo” (văn dĩ tải đạo), như Tăng Củng thì nói : “Văn chương phải cội gốc ở Lục kinh” (văn chương căn bổn Lục kinh).Ấy đó đều là những cái thuyết đại biểu cho phái nhân sanh. Đến đời sống đời Minh, lý học càng thạnh lên thì cái thuyết ấy lại càng mạnh lắm ; ai diễn được bổn tuồng nào, cũng mong có ích cho phong hóa ; ai làm ra cuốn sách chi, cũng tự phụ là có quan hệ với thế đạo nhân tâm.

Ở nước Tàu, cái thuyết của phái nhân sanh cầm trọn quyền như vậy đó, mà mười người mười than rằng phong tục mỗi ngày một suy, trải đời nọ qua đời kia, đời nào cũng thấy phàn nàn rằng “nhơn tâm bất cổ”[2]. Ấy là tại làm sao ? Có phải là tỏ ra rằng cái nguyên nhân của tội ác là nhiều lắm, không phải một mình văn chương đủ làm hại mà thôi chăng ? Cũng vì đó mà phái nghệ thuật đời nay mới hết sức khuynh hướng về cái đẹp mà tự tin rằng cái đẹp của mình khuynh hướng đó chẳng khi nào lại gây nên ảnh hưởng xấu cho xã hội.

Có lẽ Huỳnh tiên sanh cũng một hạng người như Hàn Dũ, Tăng Củng, lấy cái quan niệm về văn học đời xưa mà bắt thiên hạ phải theo một khuôn mẫu như mình, hầu cho duy trì phong hóa mà vãn hồi thế đạo nhân tâm. Như vậy, cái ý thì vẫn tốt, nhưng đối với cái trào lưu văn học của thế giới ngày nay, e khi không hạp.

Ở đời nay, bất kỳ một cái thuyết gì, hễ nó đã thành lập được thì người ta phải để cho nó tự do phát triển. Ngăn cản hay là hủy diệt nó đi, là việc vô ích mà có hại. Trong văn học mà khuynh hướng về thuần nghệ thuật, về mỹ, ấy là một sự chánh đáng ; cái khuynh hướng ấy hiện đương tận lượng mà phát triển ra trong các nước, dầu nước Tàu là nước ngày xưa rất nghiêm về văn học cũng vậy.

Muốn duy trì phong hóa thì kiếm cách mà duy trì ; muốn vãn hồi thế đạo nhân tâm thì cứ việc mà vãn hồi; còn Truyện Kiều, nếu đã nhìn nó là một thứ mỹ văn học thì phải để cho nó tự do phát triển. Chỉ có khi nào đủ tang chứng nói được rằng Truyện Kiều quả đã làm hại cho phong hóa, cho thế đạo nhân tâm, thì khi ấy hãy nên cấm hẳn đi mà thôi.

Trước khi có người đề xướng Truyện Kiều, phong tục của ta có quả là thật tốt chăng ? Kịp đến khi chỉ có người tán dương Truyện Kiều một cái, mà làm cho dứt cả nề nếp gia đình, trật tự xã hội, như thế thì cái hoạ Truyện Kiều lớn lắm thật. Song, chỗ nầy tôi không dám tin lời tiên sanh. Nếu tiên sanh lập ra được một cái biểu thống kê về tội ác trước hồi đó và sau hồi đó cho thiệt đành rành, mà tôi thấy ra tội ác sau nhiều hơn trước, thì tôi mới tin được vậy.

PHAN KHÔI

Trung lập, Sài Gòn, s.6266 (7.10.1930) ;

s.6267 (8.10.1930) ; s.6268 (9.10.1930)

*

*   *

TRẢ LỜI BÀI CẢNH CÁO CÁC NHÀ HỌC PHIỆT CỦA PHAN KHÔI TIÊN SANH

Phạm Quỳnh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Chắc các bạn đã đọc bài cuối trong 11 bài di cảo của Phạm Quỳnh, chúng tôi xin mời các bạn đọc thêm bài này, liên quan mật thiết đến “cuộc tranh luận về Truyện Kiều” nổi tiếng trong lịch sử văn học ta.

Nhiều năm rồi, người đọc đời sau đã biết đến các bài văn nảy lửa của cụ nghè Ngô Đức Kế kịch liệt chống lại chủ trương đề cao Truyện Kiều của Phạm Quỳnh như: Nền quốc văn (báo Hữu Thanh, tháng 4/1924) và bài Luận về chánh học cùng tà thuyết (báo Hữu Thanh, tháng 9/1924) bài này đã được đưa vào sách giáo khoa lớp cuối cấp trung học phổ thông cuối những năm 50 thế kỷ trước, “tố cáo” việc đề cao Truyện Kiều đã khiến cho “các gã thanh niên say đắm trong trời tình bể ái mà mềm nhũn cái lòng sắt đá, bỏ mất cái chí nguyện cao xa” (Từ điển Văn học Việt Nam, 2004). Đặc biệt, càng đông đảo người biết bài văn đanh thép của Phan Khôi Cảnh cáo các nhà học phiệt trên báo Phụ nữ tân văn số 62 (24/7/1930) và Trung Lập các số từ 6206 (26/7/1930) đến 6209 (30/7/1930), chỉ thẳng tên Phạm Quỳnh mà phê phán. Kế đó là bài của Huỳnh Thúc Kháng Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không? – Chiêu tuyết những lời bài báng cho một chí sĩ mới qua đời trên báo Tiếng Dân Huế, số 317 (17/9/1930) và Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 72 (2/10/1930). Nhưng, có điều là bài trả lời trên đây của chính Phạm Quỳnh, là đối tượng bị đả kích, phê phán, cũng đăng ngay trên báo Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 67 (28/8/1930) thì ngày nay lại ít người được đọc. Lạ thay, mà cũng tiếc thay.

—o0o—

Phan Khôi tiên sanh với tôi là chỗ quen biết cũ.

Từ khi tiên sanh dời Hà Nội vô Nam kỳ, không có dịp gặp nhau. Nhưng về phần tiên sinh, coi chừng vẫn nhớ đến tôi luôn. Khi viết báo Thần chung, khi viết báo Phụ nữ, tiên sanh thường nhắc đến tên tôi. Thậm chí có khi không sẵn đầu bài, tiên sanh lấy tôi làm đầu bài. Như mới đây, nhân tiên sanh soạn chưa xong “bài trả lời” ông Trần Trọng Kim về Nho giáo, tiên sanh lại sực nhớ đến tôi mà liền tặng cho cái huy hiệu làm lãnh tụ một đảng, tiên sanh đặt tên là đảng “học phiệt”, rồi nhân đó viết một bài đại luận để cảnh cáo cho những người trong đảng ấy.

Nếu về cảm tình người cũ mà Phan tiên sanh ân cần đến tôi như thế, tôi xin cám ơn.

Từ trước đến nay, sở dĩ tôi không trả lời tiên sanh là vì tiên sanh mới thỉnh thoảng tặng cho năm ba câu mát mẻ xa xôi mà thôi, xét ra cũng không có quan hệ gì.

Nhưng nay tiên sanh công nhiên làm án một phái cho là có tội với học thuật nước nhà, mà lại phân minh chỉ tên chỉ tuổi tôi là thủ lãnh, tức là thủ phạm trong phái đó, thì tôi dầu có muốn lên mặt kiêu căng cũng không thể sao làm thinh cho được.

Vả việc là việc quan hệ lớn, không phải chỉ thiết đến một cá nhân tôi thôi, mà thiết đến cả học giới trong nước, tất tôi phải cùng tiên sanh phân trần mấy lời, không thể để cho độc giả ngộ nhận được.

Vậy Phan tiên sanh kết án phái “học phiệt” về những tội gì?

Trước hết chữ “học phiệt” đó của tiên sanh tự đặt ra nghĩa là gì?

Tiên sanh cho nước ta có một bọn “học phiệt” tức cũng như nước Tàu có bọn “quân phiệt”, là một hạng người cũng sảo có(*) học vấn, có tư tưởng, nhưng phải cái tánh tự cao, tự phụ quá, dường như muốn chuyên chế dư luận, chỉ lên mặt làm thầy người ta, chớ không chịu người ta chỉ trích đến mình.

Tiên sanh buộc cho bọn đó hai cái tội: một là phàm ai nghị luận, chỉ trích, công kích, phẩm bình gì đến mình là cứ làm thinh hết thảy, người ta gọi đến tên mà “chửi” cũng không trả lời, đó là một cái thái độ rất khả ố, vì tỏ ra khinh người mà lại hèn nhát nữa; hai là chính vì cái thái độ khả ố đó mà cõi học nước nhà thành ra vắng vẻ lạnh lẽo không ai còn muốn bàn bạc cãi cọ gì nữa, rõ ra cái cảnh tro tàn khói tỏa, quạnh quẽ đìu hiu là cái cảnh chết.

Tiên sanh vì tiền đồ học thuật, hăm hở mạnh bạo đứng lên kết án phái “học phiệt” đó, lời lẽ nghiêm nghị như quan chưởng lý kết án đảng cộng sản vậy.

Vậy những bị cáo nhân là ai?

Tiên sanh chỉ nói phái “học phiệt” không có bao lăm người, mà không kể rõ có những ai, song kêu đích danh tôi là thủ phạm. Vậy có lẽ tiên sanh chỉ có ý muốn “gây sự” – xin miễn cho tiếng nôm na – riêng với tôi chăng?

Tiên sanh buộc tội cho tôi có cái dã tâm muốn chuyên chế dư luận, dường như muốn làm một tên Mussolini trong cõi học nước Nam nầy. Vậy ra tôi có oai quyền, có thế lực đến thế dư? Thế thì danh giá cho tôi quá! Dầu tiên sanh có đem cả đại đội đến mà công kích tôi, tôi cũng cam tâm mà lấy làm tự khoái.

Song phàm xử án công bằng, phải có chứng cớ hẳn hòi, chớ vì tình nghi, vì ác cảm với người nào mà kiếm cớ buộc tội cho người ta, thì cái án ấy không có giá trị gì nữa.

Tỉ như việc cộng sản. Ví chánh phủ vì không ưa người nào, sẵn lòng nghi, cho khám xét nhà, không thấy gì cả, chỉ bắt được mấy quyển sách Karl Marx hay Lénine, cũng buộc tội cho là muốn làm cộng sản, mưu nhiễu loạn cuộc trị an; như thế thì có phải là công bằng không?

Nay Phan tiên sanh đối với tôi mà khởi ra cái án “học phiệt” đó, có phải là chứng cớ rõ ràng không, hay là chỉ vì “tình nghi” mà bỗng dưng kết cấu ra? Có phải có sự thực hẳn hòi không, hay là chỉ là một cái “án về thái độ”, một cái “án về khuynh hướng” (procès de tendance) nghĩa là đoán phỏng chừng cái ý hướng của người ta mà đem lòng yêu ghét, buộc cho những tội không đâu?

Không biết chủ ý tiên sanh thế nào, nhưng trong bài đại luận của tiên sanh chỉ có thấy dẫn một việc làm chứng, là việc mấy năm trước ông nghè Ngô Đức Kế công kích tôi về Truyện Kiều, mà tôi cứ thủy chung làm thinh không trả lời; thế là phạm hai cái tội đã kể trên kia.

Ông nghè Ngô nay là người thiên cổ rồi. Kẻ khuất người còn, chuyện bao năm cũ kể ra làm gì? Nhưng Phan tiên sanh đã giở giói ra, thì tôi cũng phải nối lời phân trần cho rõ lẽ: xin vong linh ông Ngô chứng giám!

Họ Ngô với tôi vốn không có hiềm khích gì. Ông là người quốc sự phạm cũ, vì việc nước mà long đong chìm nổi trong bao năm, dầu người không đồng tư tưởng, đồng chánh kiến với ông cũng phải kính trọng cái thân thế của ông. Tôi cũng vậy, thủy chung vẫn coi ông như bậc đàn anh. Bấy giờ ông làm chủ bút báo Hữu Thanh mới lập. Báo Hữu Thanh là một cái tạp chí; báo Nam Phong của tôi cũng là một cái tạp chí. Báo Hữu Thanh ra sau, báo Nam Phong của tôi có từ trước. “Hàng thịt nguýt hàng cá”, là cái thói thường của bọn con buôn. Trong làng văn làng báo có khi cũng mắc phải cái thói đó. Xem chừng ra ngay từ đầu, báo Hữu Thanh đã không có ý thân thiện với chúng tôi rồi. Tôi đoán thế nào cũng có một cuộc phản đối. Nhân khi ấy hội Khai trí Tiến đức mới đặt ra lễ kỷ niệm cụ Tiên Điền là tác giả Truyện Kiều. Việc nầy tự tôi khởi xướng, mà ông Trần Trọng Kim cũng là một tay chủ động. Bữa ông Trần và tôi diễn thuyết ở nhà hội Khai trí, có tới hai ngàn người đến nghe, coi ra hoan nghinh cổ võ lắm. Ông chủ bút Hữu Thanh có ý căm tức, liền viết bài phản đối Truyện Kiều và nhân thể mạt sát tôi. Tôi giận lắm, hăng hái muốn ra quyết chiến với họ Ngô một phen. Vì tôi ôn hòa thì ôn hòa thật, nhưng không đến nỗi nhu nhược mà bị người công kích không biết đối phó lại. Nhưng tôi nghĩ kỹ, rồi quyết hẳn làm thinh không trả lời. Ai cũng biết rằng họ Ngô không phải vì Truyện Kiều mà bình phẩm Truyện Kiều, chỉ là kiếm cớ để gây cuộc “cãi lộn” với tôi, trước là làm một cách quảng cáo cho báo Hữu Thanh, sau cũng để thỏa một cái lòng ác cảm riêng chăng. Truyện Kiều là một nền văn chương kiệt tác, xét Truyện Kiều phải đứng về phương diện văn chương mà xét, nay họ Ngô lại đứng về phương diện đạo đức, – mà là cái đạo đức rất hẹp hòi của phái hương nguyện, – thì rõ là chủ ý lập luận thiên đi, để có chỗ mà công kích người ta. Như vậy không phải là một vấn đề văn chương học vấn gì nữa, chỉ là một vấn đề cá nhân mà thôi. Tôi bèn định cứ làm thinh, không bắt lời, tựu trung có hai lẽ như sau:

1) Đã là một vấn đề cá nhân thì việc chỉ can thiệp đến hai người đối thủ với nhau mà thôi. Bất luận tài học ông Nghè Ngô thế nào, ông có một điều hơn đứt hẳn tôi: là ông là người đã vì nước mà phải tù tội. Trên cái cân dư luận của quốc dân, ông đã có sẵn 10 năm Côn Nôn ở đó rồi. Như vậy thì cuộc tranh luận không được ngang sức nhau nữa. Vả lại tự ý tôi cũng không muốn tranh luận với ông, vì dầu thế nào mặc lòng, tôi cũng vẫn kính trọng cái thân thế của ông; nếu đã thành ra cuộc cãi lộn thì tất phải dùng những lời nặng tiếng nhẹ ông mục cho tôi là “văn sĩ lớp lép”, thì tôi nể gì ông mà không tặng cho ông những tên nọ tên kia, thành ra một cuộc đấu khẩu hàng rau hàng cá, còn có sự thể gì nữa!

2) Lẽ nữa, – mà lẽ nầy Phan Khôi tiên sanh đoán trúng lắm, – là ông chủ bút Hữu Thanh đã lập tâm “gây sự” với tôi để làm cách quảng cáo cho báo ấy, thì tôi là chủ báo Nam Phong, khi nào tôi chịu mắc mưu đó! Tôi làm thinh không trả lời chính là một cách phá cái dã tâm của họ vậy.

Ấy đầu đuôi câu chuyện như vậy. Rút lại là một câu chuyện cá nhân, câu chuyện quyền lợi cả, không có quan hệ gì đến học vấn tư tưởng hết.

Bởi thế nên tôi cứ làm thinh, không hề đả động đến nửa lời. Làm thinh là không muốn cãi lộn vô ích, chớ không phải là khinh hay là sợ gì dư luận.

Ôi! Dư luận! Dư luận vẫn đáng kính trọng lắm. Nhưng Phan tiên sanh còn lạ gì dư luận ở nước ta từ trước đến giờ hãy còn ấu trĩ lắm. Nhiều người không biết phân biệt chuyện nghĩa lý với chuyện cá nhân, không biết rằng người thức giả thảo luận với nhau là để tỏ bày chân lý, chớ không phải là cốt để thắng lẫn nhau, như trong cuộc đấu võ vậy.

Tôi chắc rằng có người đọc bài Cảnh cáo của Phan tiên sanh nghĩ bụng rằng: “Ông nầy tất có bụng ghen ghét gì Phạm Quỳnh mới kiếm chuyện cãi lộn như vậy”. Lại chắc có người không ưa tôi mà nghĩ rằng: “Đáng kiếp! Đã bị ông Nghè Kế trị cho một lần, lại bị ông Tú Khôi trị cho một lần nữa!” Như vậy chẳng là oan cả cho hai bên dư? Câu chuyện nghĩa lý mà biến thành câu chuyện cá nhân đó.

Đối với một cái dư luận còn bỡ ngỡ như vậy, tưởng cũng không nên câu nệ cho lắm. Không nên coi thường dư luận, nhưng cũng không nên làm nô lệ cho dư luận. Có nhiều điều dư luận nhao nhao lên đó, mà người thức giả nên làm thinh.

Sau cuộc phản đối của ông Nghè Ngô, trong nước liền nổi lên cái phong trào chánh trị mới! Có người nối gót ông Ngô cũng đem lời nọ tiếng kia mà phẩm bình tôi. Tôi đều nhứt thiết làm thinh cả. Là vì những lời bình phẩm đó là toàn về cái thái độ chánh trị của tôi, mà tôi vốn không phải là nhà chánh trị. Chẳng biết từ nay về sau vì thời thế bắt buộc có phải thực lực ra làm chánh trị hay không, – đó là một cái nghĩa vụ, nếu phải làm thì cũng không dám từ, – chớ từ trước đến nay thì sở chí sở sự không phải chuyên chủ về mặt chánh trị; dầu có tham dự vào chút đỉnh, cũng chỉ là tham dự một cách gián tiếp, đứng về địa vị khách quan, để làm một món khảo cứu mà thôi.

Tôi vốn là nhà làm văn, nhà học vấn. Cái chủ nghĩa tôi phụng sự bấy lâu nay, – kể có trên dưới mười lăm năm trời, thật là dốc một lòng, chuyên một dạ, – chính là chủ nghĩa quốc gia, nhưng chỉ mới phụng sự về phương diện văn hóa, chưa hề chuyển di sang phương diện chánh trị.

Tôi thiết nghĩ rằng muốn cho nước nhà được độc lập, thì phải gây lấy cái hồn độc lập cho quốc dân. Muốn gây lấy cái hồn độc lập cho quốc dân thì phải có cái khí cụ để tuyên truyền giáo dục. Cái khí cụ để tuyên truyền giáo dục là ngữ ngôn văn tự trong nước. Bởi thế nên trong mười lăm năm nay, tôi không làm một việc gì khác cả: chỉ cúc cung tận tụy về một việc là cổ động cho quốc văn, tài bồi cho quốc văn, gây dựng cho quốc văn thành một nền văn chương đích đáng, có thể dùng làm cái lợi khí để truyền bá văn minh trong nước. Các bạn đồng chí trong Nam ngoài Bắc cũng đã từng công nhận cho cái công phu ấy không phải là vô ích.

Vì tôi chỉ chuyên chủ về một việc tài bồi quốc văn như vậy, cho nên thật không để chí vào việc chánh trị. Ai bình phẩm tôi về chánh trị là bình phẩm sai cả. Tôi cho là bất túc khinh trọng, nên không hề đối đáp, không hề cải chánh bao giờ.

Nhưng đến việc văn chương học vấn thì tôi rất vui lòng thảo luận. Bởi vậy Phan tiên sanh khởi ra cái án li kỳ là cái án “học phiệt” này, tôi liền cầm bút để cùng tiên sanh phân trần các lẽ. Tôi thật không dám khinh dư luận, nếu dư luận ấy là ở những người thức giả như tiên sanh.

Tiên sanh thấy cái cảnh tiêu điều, trong học giới nước nhà, lấy làm buồn, buồn sanh bực, bực bèn muốn quy cữu cho người nào, liền quy cữu cho tôi. Thế là tiên sanh phán đoán vội vàng: nếu trong cõi học nước nhà có kẻ nào là tội nhân, thì tôi đây không dám tự cao, cũng có thể cho là một kẻ nhẹ tội hơn cả.

Nhưng học giới nước nhà không phải ngày nay mới tiêu điều. Đương lúc khoa cử còn thạnh, đã có cái cảnh tiêu điều đó rồi, vì cái học khoa cử, chỉ là cái học để thi đỗ làm quan mà thôi, không phải là học thuật chơn chánh. Nói đến học thuật chơn chánh thì cổ lai nước ta đã có gì? Không dám bội bạc tiền nhân, nhưng thật không có người nào vậy. Tương truyền lý học thâm thúy có cụ Chu An, cụ Trạng Trình. Nhưng các cụ phát minh được những điều gì, trứ thuật được những sách gì có giá trị? Nào đâu là những phái Vương học, phái Thiền tôn như ở Nhật Bản, cũng học chữ Tàu mà khám phá được nhiều điều người Tàu không nghĩ tới? Nước mình tịnh không có gì cả. Đó chẳng qua là bởi cái tinh thần học vấn của mình nó bạc nhược quá. Lại bởi cái mô phỏng của người mình nữa. Xưa kia phỏng chép người Tàu, ngày nay bắt chước người Tây. Xưa kia động nói là dương danh ông Khổng, ông Mạnh, ông Chu, ông Trình; ngày nay động nói là giở ra khoa học với lý luận, dân chủ với dân quyền! Nghe người ta nói mình cũng nói, chớ vị tất đã thấu hiểu đến chỗ tinh vi.

Ấy là cái hiểm tượng của học giới ta ở đó, ở cái tánh nô lệ của người mình đó, chớ không phải là lỗi tại người nầy hay người nọ.

Nay muốn cho cõi học được vui vẻ sầm uất, không cần phải dùng đến những cách dương đông kích tây, nay công kích người này mai phản đối người nọ, để làm một trò chơi cho khách bàng quan.

Phải nên cùng nhau hiệp lực, cố gây dựng cho nước nhà một nền “quốc học” đích đáng, không Tây mà không Nho, có cái tánh cách đặc biệt, tiêu biểu được cho cái tinh thần cố hữu của nòi giống. Cái ý tưởng đó ngày nay Phan tiên sanh mới đề xướng, mà về phần tôi chủ trương đã lâu năm rồi.

Vậy ngày nay chúng ta có nên cổ động lập một hội “Chấn hưng quốc học”, họp tập những người có chí học vấn trong Nam ngoài Bắc, mỗi năm hội nghị một lần để bàn các kế hoạch nên thi hành cho nước nhà có một nền quốc học xứng đáng không?

Thiết tưởng thế còn hơn là cãi vã nhau vô ích.

Phan tiên sanh nghĩ sao?

P.Q.

*

*   *

PHẠM QUỲNH VẪN ĐƯỢC BẠN ĐỌC BÁO PHỤ NỮ TÂN VĂN

BẦU LÀ MỘT TRONG MƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN VIỆT NAM

 Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là phần chúng tôi trích trong bản tin đăng trên báo Phụ nữ tân văn (Sài Gòn) số 50 ngày 1/5/1930 và số 64 ra ngày 7/8/1930. Đầu đề là của chúng tôi.

Như vậy là sau lễ Kỷ niệm Cụ Nguyễn Du năm 1924, suy tôn Truyện Kiều với câu nói bất hủ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn, Phạm Quỳnh đã bị “búa rìu dư luận” nặng nề. Các chí sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng gọi ông là kẻ gieo rắc tà thuyết, Phan Khôi, cây bút chính luận chủ yếu của Phụ nữ tân văn sau này gọi ông là học phiệt và lớn tiếng “cảnh cáo các nhà học phiệt”.

Nhưng, chính bạn đọc của báo này vẫn tỏ ra công bằng, ghi nhận những đóng góp của ông, không để tình cảm yêu ghét nhất thời làm lầm lẫn.

Chúng tôi xin mời các bạn đọc tư liệu đáng chú ý này của một tờ báo có ảnh hưởng lớn đương thời, đáng mặt đối thủ của Tạp chí Nam Phong.

—o0o—

“Phụ nữ tân văn ra đời ngày 2 Mai (tức tháng 5 – PT chú) năm 1929 đến hôm nay, 1er Mai (1 tháng 5 –PT chú) 1930 là đúng một năm. Vậy ngày hôm nay, ra số báo nầy chính là ngày kỷ niệm đệ nhất châu niên của bổn báo vậy”. (P.N.T.V. số 50 ngày 1/5/1930).

Chào mừng một năm góp mặt với văn đàn, P.N.T.V. tổ chức một cuộc thi mà báo gọi là cùng chung vui với độc giả.

Đề thi đăng báo gồm có 3 phần:

  1. Một câu thai
  2. Một bài toán đố
  3. Một câu hỏi mang màu sách chánh trị, được xem như “trưng cầu ý kiến” độc giả P.N.T.V.

Câu hỏi ấy như sau:

  • Cuộc tuyển cử

Nếu có cuộc tuyển cử 10 vị Việt Nam Nhơn dân Đại biểu, mà những vị kể tên sau nầy ra ứng cử thì quý độc giả sẽ cử những vị nào.

NGUYỄN HỮU BÀI, Thủ tướng Nam triều

BẠCH THÁI BƯỞI, Chủ hãng tàu và mỏ than.Phu nu tan van

BÙI QUANG CHIÊU, Lãnh tụ đảng Lập hiến

VƯƠNG TỨ ĐẠI, Thượng thơ Lễ bộ

DƯƠNG VĂN GIÁO, Trạng sư

HUỲNH THÚC KHÁNG, Chủ báo Tiếng Dân

TRẦN TRỌNG KIM, Thanh tra sơ học

DIỆP VĂN KỲ, Nhà làm báo

LƯU VĂN LANG, Kỹ sư sở Tạo tác

NGUYỄN PHAN LONG, Chủ báo Đuốc Nhà Nam

LÊ QUANG LIÊM, Hội đồng Quản hạt

HOÀNG TRỌNG PHU, Tổng đốc Hà Đông

PHẠM QUỲNH, Chủ báo Nam Phong

NGUYỄN HỮU THU, Phó nghị trưởng kinh tế hội nghị

NGUYỄN TRÁC, Nghị trưởng Nhơn dân đại biểu viện Trung Kỳ

NGUYỄN BÁ TRÁC, Bố chánh tỉnh Bình Định

TRẦN TRINH TRẠCH, Điền chủ ở Bạc Liêu

LÊ QUANG TRINH, Y khoa Tấn sĩ

PHAN VĂN TRƯỜNG, Luật khoa Tấn sĩ

NGUYỄN VĂN VĨNH, Chủ báo Trung Bắc Tân Văn

Trong ba đầu bài thi, hai đầu bài trên thì khỏi giải nghĩa rồi, còn đầu bài thứ ba, tưởng nên bày tỏ ý kiến bổn báo vì sao mà có cuộc tuyển cử đó.

Các vị mà bổn báo liệt phương danh trên đây đèu là những vị đã từng có làm việc xã hội, bổn báo theo vần a,b,c, trong tên mà sắp thứ tự vào đây, và ví dụ nếu như có cuộc tuyển cử Việt Nam Nhơn dân Đại biểu mà các vị ấy ra ứng cử, quý độc giả có quyền bỏ thăm, thì bỏ thăm cho những vị nào.

Vì các vị ấy đều là người có danh trong xã hội cho nên bổn báo có ý tôn mà đem ra, chớ không phải lấy danh hiệu của những bực hữu danh mà làm trò du hí đâu. Bổn báo không theo đảng phái nào hết, cho nên mới chọn lựa 20 vị ở trên, là người thuộc về đủ các chức nghiệp, để chất vấn lòng khuynh hướng của các độc giả đối với các vị ấy ra sao. Nói tóm lại, bổn báo tưởng tượng ra cuộc tuyển cử ấy là do ở thành tâm, xin các vị có phương danh trong ban ứng cử kia, cùng các độc giả biết cho.

Cách tuyển cử thì quý độc giả phải làm như vầy:

Phải sấp thứ tự theo ý mình muốn, như ông X xứng đáng hơn hết thì sấp đứng số 1, ông Z xứng đáng thứ nhì thì biên vào số 2; biên như vậy cho đủ số 10 vị.

Về cuộc tuyển cử này, bổn báo có đặt riêng một ban ủy viên để xét thăm.

Đến ngày khóa sổ thì ban ủy viên sẽ soạn thăm và cộng coi cho biết 10 vị nào trúng tuyển.

Vị nào nhiều thăm hơn hết thì sắp số 1, rồi tuần tự, do theo số thăm mà sấp xuống số 2, số 3 kỳ cho tới đủ số 10 vị.

Khi sấp xong sẽ soạn lại những bài đáp, coi vị nào đáp trúng theo bản kết quả đó.

Hễ bài nào được trúng y theo bảng kết quả thì trúng phần thưởng nhất, người kế đó thì lãnh phần thưởng nhì.v.v…

Nếu không có bài đáp nào trúng y theo bản kết quả thì sẽ chấm bài nào đáp trúng gần hơn hết mà phát thưởng.

  • Kết quả “Trưng cầu ý kiến”

Ban ủy viên trước hết lo chấm cuộc tuyển cử mấy ngày ròng rã soạn lựa các số thăm, lại còn phải dò đi xét lại rất cẩn thận. Chúng tôi xin lấy danh dự của cả tòa báo và các đồng nhơn trong tòa soạn mà nói quyết rằng: cuộc soạn thăm này làm rất là quang minh chánh đại, không để cho có một mẩy nào sai sót hoặc tư vị.

Khi cộng thăm gộp lại thì mười vị này trúng tuyển:

  1. Phan Văn Trường 1133 thăm
  2. Huỳnh Thúc Kháng 1062
  3. Nguyễn Phan Long 1057
  4. Diệp Văn Kỳ 986
  5. Lưu Văn Lang 910
  6. Bùi Quang Chiêu 885
  7. Trần Trọng Kim 794
  8. Dương Văn Giáo 788
  9. Trần Trinh Bạch 671
  10. Phạm Quỳnh 667

(P.N.T.V số 64 ngày 7/8/1930)

[1] Hai chỗ này, do báo rách, mỗi chỗ mất một từ.

** temps des verbes: thì của các động từ

[2]Nhân tâm bất cổ”: lòng người chẳng giống như xưa, nghĩa là nó đã hóa nên xấu xa (theo H.T. Paulus Của, sđd).

 

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: