Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 6, 2014

Làng cổ Hoa Đường – Khúc Hà Linh

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:13 sáng

Blog PhamTon năm thư  sáu, tuần 2 tháng 11 năm 2014.

LÀNG CỔ HOA ĐƯỜNG

Khúc Hà Linh

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là bài đã đăng trên các trang 44 và 45 Tạp chí Văn hóa – Thể thao – Du lịch, Hải Dương số 1 (78) Xuân Canh Dần 2010

—o0o—

Tỉnh Hải Dương có nhiều làng cổ. Nhưng có lẽ làng cổ Hoa Đường có nhiều đặc sắc. Đây không chỉ có nhiều nhà khoa bảng, đình chùa miếu, bi ký mà còn để lại những sự tích như huyền thoại, gắn với số phận những con người…

Từ thị trấn Kẻ Sặt, theo quốc lộ số 38 đến ngã ba chợ Cống Tranh thì rẽ trái vào một con đường nhỏ, ven theo một dòng sông. Qua ngôi đền nhỏ nằm sát đường, đó là đền thờ Phạm Sĩ, một danh tướng đời Trần.

Hỏi ra đây là đất Châu Khê, trước khi vào làng văn hóa Lương Ngọc, một trong 7 thôn của xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang.

Lương Ngọc là tên mới. Xa xưa đất ấy có tên Hoa Đường. Chữ Hoa có nghĩa là đẹp, không phải nụ hoa. Tháng 3 năm 1841 Hoa Đường phải đổi là Lương Đường, vì kỵ húy một trong 43 bà vợ vua Minh Mạng là Hồ Thị Hoa, người sinh ra vua Thiệu Trị, nối ngôi tháng 1 năm 1841. Tháng 12 năm 1885, Lương Đường lại một lần phải đổi thành Lương Ngọc, vì phạm vào tên của vua Đồng Khánh, húy là Ưng Đường!

Phong thổ Hoa Đường

Làng Hoa Đường hình thành bao giờ không thấy sách nào ghi chép…Trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (1768-1839) danh sĩ làng Đan Loan quê phủ Bình Giang, có viết: “Còn như làng Hoa Đường, nguyên trước là thôn Bông, thuộc xã Ngọc Cục sau Lê trung hưng mới phân ra làm xã riêng…”

Theo Vũ Thế Khôi, trong Vũ Tông Phan với văn hóa Thăng Long – Hà Nội, thì thôn Bông tách khỏi Ngọc Cục, lập xã riêng và tên Hoa Đường chắc chắn có từ đầu nhà Mạc. Còn nhớ, năm 1527 khi Mạc Đăng Dung vừa lên ngôi, muốn xây dựng căn cứ địa chống Lê – Trịnh, đã đặt Hải Dương làm Dương Kinh. Nhà Mạc có ý bành trướng thế lực của mình đã cắt phủ Thuận An của Kinh Bắc và các phủ Khoái Châu, Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình của Sơn Nam cho thuộc về Dương Kinh. Nhân cơ hội ấy cho phân định lại địa giới các phủ, huyện, xã, trong phạm vi Dương Kinh và lập nên những đơn vị hành chính mới.

Trong quyển Phả họ Vũ, cũng viết: “Đến khoảng đời Trần, đất Ngọc Cục trở nên thịnh vượng, dân cư chen chúc…Sau hồi quân Mông Cổ xâm lăng đất nước, có một nhóm người họ Vũ và họ Phạm rời khỏi lũy tre làng tới sinh cơ lập nghiệp trên một khoảng gò đống, phá đất hoang để làm ruộng nương. Chỉ trong một thời gian mà ở đó mọc lên một thôn trang có vườn, giàn hoa cây cảnh trông có vẻ an cư lạc nghiệp. Do cảnh vật mà thành tên, người trong vùng liền đặt tên là thôn Bông”.

Khi đã trở thành đơn vị hành chính độc lập, thì làng phải đổi tên nôm thành chữ để giao dịch cho chính xác. Bởi thế mà thôn Bông được gọi Hoa Đường.

Dẫu vậy, Hoa Đường được khai phá và có người dến cư trú sinh sống từ thời Trần (thế kỷ XIII-XIV), đến đời Lê sơ (thế kỷ XV) thôn Bông cùng xã Ngọc Cục cũng như lân cận xã Mộ Trạch mới thực sự phát triển trù phú về vật chất và văn hóa….

Nằm ở phía tây phủ Bình Giang và khu vực tây tỉnh Hải Dương, Hoa Đường phía bắc giáp Kẻ Sặt và làng Châu Khê; đông và nam giáp các làng Mộ Trạch, Hoạch Trạch và Ngọc Cục; ranh giới phía tây là con sông Nghĩa Giang, gọi là sông Cửu An, ngăn cách Hoa Đường với làng Phù Ủng.

Hoa Đường là vùng đất cổ. Qua những tấm bia khắc bằng chữ Hán đặt rải rác trong làng, người đời sau biết được một phần về cuộc đời cụ cống Phạm Hội (Anh Sơn giáo thụ Dưỡng Am), về cụ Tú tài Phạm Hữu Điển, thân phụ Phạm Quỳnh (PT nhấn mạnh). Ở đây còn ngôi đình thờ thành hoàng là Tiến sĩ Vũ Thiệu, vị khai khoa cho bản xã, đỗ khoa Quý Sửu 1493 đời Lê Thánh Tông. Sách Đại Nam thực lục có ghi rõ việc này “ Trung đẳng thần Chí Đức Ngọ Lang Vũ. Thần họ Vũ, lấy hiệu là Ngọ Lang cư sĩ, đỗ Tiến sĩ khoa Quý Sửu (1493) triều Lê, làm quan đến Giám sát ngự sử. Khi nhà Mạc cướp ngôi vua, ông không muốn làm tôi nhà Mạc, bèn về ở ẩn nơi ruộng vườn. Về sau Mạc triệu ra, ông nhảy xuống sông tự tử. Lâu năm tích tụ thành linh thiêng, dân Hoa Đường lập đền thờ cúng”.

Hoa Đường còn có 3 ngôi chùa cổ. Một làng có tới ba ngôi chùa cũng là hiếm. Nhưng đến nay chỉ có một chùa Sùng Nghiêm vẫn còn, mới được tôn tạo khoảng đầu thế kỷ XX. Từ tấm bia Sùng Nghiêm tự lập năm 1702 nhân dịp trùng tu ngôi chùa cũ, mới ước lượng rằng ngôi chùa xưa đã xuất hiện từ nửa sau thế kỷ 17. Khoảng hơn chục năm nay, thôn Lương Ngọc đã dựng nhà văn hóa trên nền trường Tổng sư xưa, do Thượng thư Phạm Quỳnh cho đặt ở nguyên quán mình. (PT nhấn mạnh)

Hoa Đường có ngôi đình ở bìa làng, xanh rợp bóng cây và thơm ngát ao sen. Nhưng qua chuyện kể của ông Chủ tịch xã Vũ Đình Năng lại càng cảm động, bởi vì làng Hoa Đường xưa, còn có một ngôi đình vọng.

Câu chuyện bắt nguồn từ một lần thầy địa lý Tả Ao đi qua Hoa Đường, khen đình làng đẹp, nhưng xây ngoài lũy tre, mới phán “Đất này đãi ngoại, ai ra khỏi làng làm ăn mới phát”. Chẳng biết thật giả ra sao, nhưng bao đời người dân Hoa Đường đã tiếp nối nhau ra khỏi làng để lập thân lập nghiệp. Nhưng đông nhất vẫn là ở Thăng Long đô hội. “Dân đâu thần thánh đó”. Thành ra ở Hà Nội có hẳn một “Lương Ngọc xã thuộc Hà” có đến ba nghìn nhân khẩu.

Đình vọng Lương Ngọc ở số nhà 68A phố Hàng Bông, Hà Nội. Các thế hệ người dân Lương Ngọc xa quê đã cùng nhau góp công sức lập nên đình này để thờ cúng thành hoàng, khi mà từ thời Tự Đức giặc giã liên miên, binh đao khói lửa, đường đi cách trở, không thể về làng thờ phụng được. Đình vọng này là khu đất gia cư, được mua lại vào tháng 5 năm Thành Thái thứ 2 (1890) có bề ngang 16 thước, bề dài như trong địa đồ. Tháng 5 năm 1892 niên hiệu Thành Thái 4 đình được dựng lên. Từ đáy xuân thu nhị kỳ, quan dân sĩ tử, sinh sống ở Hà thành tới đây thờ vọng.

Thế rồi cuối năm 1969 đầu năm 1970, đình bị bán lại cho một hợp tác xã làm chỗ kinh doanh…!? Rồi HTX nọ lại sang tên cho một tư nhân khác. Toàn bộ đồ thờ tự không cánh mà bay đi hết. Con cháu làng Hoa Đường – Hà Nội cùng bản xã Lương Ngọc vất vả ba năm (1993-1996), mới chuộc được các đồ thờ tự còn sót lại. Cũng may người mua lại đình cũng có tâm, họ đã đem đồ thờ cúng này vào Đền Bạch Mã gửi, mới còn. Tết Đoan Ngọ năm 1996, Ban liên lạc đồng hương Lương Ngọc – Hà Nội đã tạm mang đồ thờ về để nơi quê gốc.

Hoa Đường là đất văn chương, chữ nghĩa. Vũ Thiệu là người khai khoa như đã nói phần trên. Trong làng trước sau có 12 vị đỗ tiến sĩ. Trong đó 4 Hoàng giáp, 8 Tiến sĩ văn và võ. Nếu tính cả các Cử nhân, thì Hoa Đường có thời kỳ trong khoảng hai trăm năm, trung bình cứ 5-6 năm lại có một đám khao vọng và vinh quy bái tổ. Năm Kỷ Hợi 1779 Hoa Đường phát cả đường văn (Tiến sĩ Phạm Quý Thích), cả đường võ (Tạo sĩ Vũ Tá Cảnh). Điều lạ là tuy Mộ Trạch khai khoa sớm trước chín mươi năm (khai khoa cho làng là 2 người họ Vũ đậu Hoàng giáp năm 1304), nhưng từ sau năm 1754 thì cạn kiệt mạch đại khoa. Còn Hoa Đường dẫu mở khoa muộn hơn, mà nối dài như nguồn nước sông Cửu An, cứ đều đặn tuôn ra cho đến tận năm 1901. Vì thế những năm ấy hình ảnh Hoa Đường trong thi cử sáng ngời lên rực rỡ khiến cho Mộ Trạch bị nhạt mờ…

Sự nghiệp khoa bảng của Hoa Đường thăng hoa có phần do ảnh hưởng của phong thủy. Người xưa nói: Nhất cận thị, nhị cận giang – thứ nhất gần chợ, thứ nhì gần sông. Đất Hoa Đường thuận lợi cho giao thông và sinh hoạt. Đây là vùng sóng giao thoa của mảnh đất võ Phù Ủng và đất khoa bảng Mộ Trạch, từng được mệnh danh là trung tâm văn hiến cổ đại “Tiến sĩ sào” (cái tổ sinh ra tiến sĩ).

Sách cũ chép: “Mạch đất từ Mộ Trạch qua Ngọc Cục dẫn vào địa phận Hoa Đường”. Họ Vũ ở Hoa Đường chiếm đại bộ phận dân số trong làng, lại chiếm nửa phần khoa cử, có họ hàng từ họ Vũ Mộ Trạch chỉ cách một cánh đồng. Với danh hương Phù Ủng, người Hoa Đường cùng uống chung một nguồn nước sông, họp cùng một phiên chợ tết. Con gà cất lên tiếng gáy, gọi bao ngọn lửa bừng lên mỗi bếp nhà. Đến thời vụ nông nhàn, tiếng hát trống quên tha thiết ở đôi bờ sông Cửu An đã gắn bó bao nhiêu lứa đôi kết thành chồng vợ, cũng chứng kiến bao nhiêu tiếng than thở nhớ mong?

Người Hoa Đường chỉ quen làm nghề có nguồn gốc là chữ nghĩa. Học hành hiển đạt, chỉ có cách đi làm thơ lại. Sách Lịch triều hiến chương loại chí tập I của Phan Huy Chú đã ghi các ngành nghề truyền thống như sau: “Làng Hoa Đường quen việc tính toán, thông hiểu việc làm thông lại ti thuộc, ở các vệ trong kinh, ngoài trấn”. Truyền thống và phong tục làng quê lại buộc phải vinh quy bái tổ, thăm viếng phần một tiên liệt. Đi đâu, làm gì người dân vẫn tự hào mình là người quê gốc Hoa Đường, hình ảnh làng quê đã ăn vào máu thịt con người. Phạm Quỳnh khi làm quan trong Huế, có một biệt thự bên dòng sông An Cựu, cũng lấy tên biệt thự Hoa Đường, để nhớ về cội nguồn họ Phạm?

K.H.L.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: