Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 6, 2014

Phạm Quỳnh, Chủ bút báo Nam Phong

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:56 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 11 năm 2014.

PHẠM QUỲNH, CHỦ BÚT BÁO NAM PHONG

Giáo sư Văn Tạo, Nguyên viện trưởng Viện Sử học Việt Nam

Lời dẫn của Phạm Tôn: Ngày báo chí Cách Mạng Việt Nam mà chúng tôi lại giới thiệu Phạm Quỳnh, một nhà báo không thể nói là…cách mạng được. Xem ra, có vẻ vô duyên và lạc điệu…

Nhưng, lý do là thế này:

Hình GS Van Tao

Ngày 27/8/1945, sau khi Cách Mạng Tháng Tám thành công tại Hà Nội vừa một tuần, đã có cuộc họp mặt hơn 100 thanh niên trí thức Hà Nội do Trần Quốc Hương triệu tập. Có người đã đứng trong tổ chức, có người mới chỉ cảm tình với Đảng. Tại hội quán Khai Trí Tiến Đức, cạnh trụ sở báo Nhân Dân hiện nay.

Tổng bí thư Trường Chinh trực tiếp chủ trì và nhà văn hóa Phạm Văn Đồng cùng tham dự. Mục đích là chuẩn bị mọi mặt để lancer (“tung”) tờ Cờ Giải Phóng ra công khai. Ngay giữa trận địa báo chí Hà Nội còn nguyên vẹn đủ màu sắc chính trị phức tạp lúc bấy giờ.

Chính trong cuộc gặp mặt quan trọng này của lịch sử báo chí Cách Mạng Việt Nam, Trường Chinh đã nói một câu đầy hoài bão:

“1917, Nam Phong; 1932, Phong Hóa-Ngày nay; 1945, Cờ Giải Phóng.

Mà Phạm Quỳnh, chính là linh hồn của Tạp chí Nam Phong, ông từng làm chủ nhiệm kiêm chủ bút trong gần suốt thời gian Nam Phong tồn tại (1917-1934).

Bài chúng tôi đăng dưới đây là của Giáo sư Văn Tạo, nguyên viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, đã từng gửi cho tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, sau đó, chỉ đăng ở một báo nhỏ, ít người biết, trong mục Ý kiến –Trao đổi (Khoa học và Ứng dụng, số 2, năm 2005, trên 2 trang 9 và 10). Rồi sau đó, đổi nhan đề thành Chủ bút báo Nam Phong-Ngự tiền văn phòng của Bảo Đại, Phạm Quỳnh đăng trên tạp chí Tia Sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ, một tạp chí có đông đảo bạn đọc là trí thức (số 12, ngày 20/6/2006). Và ngày 10/7/2006 thì lại đăng trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, một tờ báo cũng có đông đảo bạn đọc là trí thức (số 13 (278)).

Theo lệ thường thì người ta thường chọn bài đăng cuối cùng, vì cho là đã được tác giả xem xét và sửa chữa lại nên đầy đủ và chính xác hơn hết. Nhưng chúng tôi lại chọn bài đầu đầu tiên, vì bài đó có vai trò đặc biệt, đánh dấu một bước tiến trong việc nghiên cứu và đánh giá lại Phạm Quỳnh sau này.

Bốn tháng sau cái chết đột ngột và bí ẩn, mờ ám của Phạm Quỳnh, thì ở Thừa Thiên-Huế, có tờ nhật báo khổ A3, mỗi số 2 trang, là “Cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân cách mạng Huế” tên là Quyết Chiến, số 88, ra ngày thứ tư, 5/12/1945, đăng bản tin: “Ba tên Việt gian tối nguy hiểm Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân đã bị Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kết án tử hình và bị bắn ngay trong thời kỳ thiết quân luật.” Tin này rút ra từ “Thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa Án Quân Sự tỉnh Thuận Hóa”. Sau đó, tuần báo Quyết Thắng, khổ A3, mỗi số 4 trang, là “Cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung bộ”, số 11, ra ngày 9/12/1945 đã đăng toàn văn thông báo trên. Cuối bản thông báo, chỉ ghi “Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương”, không có ai đứng tên thay mặt tổ chức ký cả.

Kỳ lạ là sau cái bản án…tuyên sau khi hành quyết bốn tháng trời đó, mọi ý kiến phát biểu công khai ở tất cả mọi cấp, trong cả nước ta, đều theo cái cách không bình thường đó. Rồi vào cả lịch sử, cả văn học sử, cả sách giáo khoa… Ròng rã hơn 60 năm trời, người dân cả nước ta cứ phải nghe mãi một giọng ấy. Cho đến khi có bài báo nhỏ của giáo sư Văn Tạo, người dân mới được nghe một giọng khác, mở đầu cho hàng loạt bài ăm ắp tư liệu xác thực, giúp người đọc hiểu đúng chân tướng sự việc bị che giấu hơn nửa thế kỷ và dần dần hiểu rõ hơn Phạm Quỳnh là người như thế nào, đã bước đầu có những đánh giá sát sự thật hơn. Từ đó mới thấy các báo và tạp chí đăng các bài như Vai trò của trí thức trong quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 của Vương Trí Nhàn trên tạp chí Nghiên cứu Văn học tháng 7-2005. Bài này Vương Trí Nhàn đã đưa tạp chí từ năm 1992, 13 năm sau mới đăng, với nhan đề khác, sau khi đã cắt đi hai đoạn quan trọng. Tiếp đó là loạt bài của Xuân Ba Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ báo Nam Phong trên Tiền Phong Chủ Nhật các số 44 (30/10/2005), 45 (6/11/2005) và 46 (13/11/2005). Đến năm 2006 là các bài của Phạm Tôn đăng trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc, tháng 8: Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước và tháng 9/2006 trên bán nguyệt san Xưa và Nay: Người nặng lòng với nước, rồi Người nặng lòng với nhà trên tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 3 (56) 2006, bài của Nguyễn Trung: Phạm Quỳnh, người nặng lòng với tiếng ta trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 9/2006. Còn có bài Thử nhận dạng lại chân dung nhân vật Phạm Quỳnh của Trần Văn Chánh trên Nghiên cứu và Phát triển số 2 (55) 2006 và Lời giới thiệu Phạm Quỳnh và Thượng Chi văn tập của cùng tác giả in đầu bộ sách đồ sộ 1134 trang Thượng Chi văn tập do NXB Văn Học tái bản năm 2005. Rồi bài Đọc lại tạp chí Nam Phong và Phạm Quỳnh của Đỗ Lai Thúy trên tạp chí Tia Sáng số 12/6/2006. Và trên báo Thể thao và Văn hóa số 5 tháng 1/2005 bài Trở lại với khu vực đầu nguồn của văn học Việt Nam hiện đại: In lại Nhật Ký Đi Pháp của Phạm Quỳnh của Vương Trí Nhàn và bài của Xuân Ba trên tạp chí Sao Việt tháng 10/2006: Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục

Van Tao

Chúng tôi khâm phục lòng dũng cảm của giáo sư Văn Tạo, vì sự công minh của lịch sử mà ông suốt đời theo đuổi, nhất là trong những năm tháng không còn nhiều của mình, cho nên cứ đúng nguyên văn bản của ông gửi tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai học giả Phạm Quỳnh, ngày 16/5/2005 mà đăng. Mặc dù, chính ông cũng đã biết có sự việc nêu trong bài cơ bản là đúng, nhưng chi tiết lại có chỗ không sát sự thật, do nghe qua người này người khác kể chứ chưa được tiếp xúc tận gốc như gần đây đã có thêm nhiều tư liệu mới được công bố.

Chúng tôi quý bài đó vì tính lịch sử của nó ra đời trước Đại hội Đảng lần thứ X và đã mở đường cho một dòng chảy lành mạnh, chân thực trong nghiên cứu lịch sử.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết nhỏ mà rất lớn của giáo sư Văn Tạo và xin chúc ông luôn mạnh khỏe, minh mẫn, thanh thản ở tuổi ngoại bát tuần, để còn phấn đấu thực hiện cho được hoài bão của mình là thực hiện sự công minh lịch sử trên đất nước ta tươi đẹp có dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

—-o0o—-

Hồi còn nhỏ tôi học chữ Nho ông ngoại tôi. Một lần ông tôi nói: “Tỉnh Đông (tức tỉnh Hải Dương) ta là một trong những tỉnh có nhiều nhà khoa bảng nhất cả nước. Kể từ Tiến sĩ trở lên cũng đến dăm sáu trăm vị[1]. Còn riêng huyện Tứ Kỳ, như Phan Huy Chú viết, cũng có tới 47 vị, trong đó nổi bật nhất là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm[2]. Nhưng nhiều nhất phải kể đến hai huyện Bình Giang và Cẩm Giàng (thực tế là Nam Sách). Riêng Bình Giang có làng Mộ Trạch được gọi là “cái tổ Tiến sĩ” (Tiến sĩ sào), có tới 36 vị từ Tiến sĩ đến Trạng nguyên. Cạnh đó là làng Lương Đường, (xưa gọi là Hoa Đường, sau gọi là Lương Ngọc) cũng có nhiều Tiến sĩ, mà nổi danh nhất là Hoàng Giáp Hoa Đường Phạm Quý Thích[3]. Nay lại có Phạm Quỳnh đang làm quan tại triều”.

Ngừng một lát, ông tôi nói: Nhưng không hiểu mồ mả đất cát làm sao mà trong giới khoa bảng tỉnh Đông ta lại có câu tựa như sấm truyền, là:

“Lương Đường sỹ: Thiên hạ bĩ

Mộ Trạch quan: Thiên hạ an!”

Có lẽ là do phong thủy (tức “kiểu đất mồ mả”) gây nên chăng, như kiểu đất cha ông Nguyễn Trãi ở Nhị Khê, Hà Đông là:

“Nhị Khê: mạch đoản. Họa thảm: chu di”?

(Tức mạch đất bị đứt đoạn nên chịu thảm họa “chu di tam tộc”)

Pham Quynh_deo bai ngaÔng tôi bình luận thêm:

“Đâu phải là ngẫu nhiên mà các Tiến sĩ Mộ Trạch thường ra làm quan trong thời thái bình, thịnh trị nên mới nói là “Mộ Trạch quan, thiên hạ an”. Còn ở Lương Đường, những kẻ sĩ ra đời thường gặp “thời bĩ” mà đã làm quan “thời bĩ” thì cái xấu xa của triều đình cũng tránh không khỏi dây dưa, ảnh hưởng tới thân phận mình là bề tôi.”

Cách đây gần 10 năm (khi còn là huyện Cẩm Bình: Cẩm Giàng, Bình Giang hợp lại) tôi được Huyện ủy mời về thăm và làm việc trong một tuần lễ. Sau khi đi thực tế về, Huyện ủy có hỏi tôi:

“Nay các xã trong huyện đang định quy hoạch lại cơ sở hạ tầng để nâng cao kinh tế, phát triển văn hóa, vậy đối với Lương Đường, các di tích họ Phạm, nhất là gia đình họ Phạm Quỳnh nên như thế nào?”

Tôi nói: Sử học chúng tôi trọng “Công minh lịch sử” vốn là thuộc tính của ngành khoa học, vì có “Công minh lịch sử” mới có “Công bằng xã hội”. Xét về nhà trí thức Phạm Quỳnh ở tỉnh ta, thì mọi di tích lịch sử vẫn nên bảo tồn. Thực tế ông ra làm quan vào “thời bĩ” thì dẫu chúng ta không mê tín vào phong thủy cũng khách quan thấy được rằng sinh thời của ông là lúc phong kiến đi xuống, đất nước bị thực dân nô dịch…khiến chính vua Bảo Đại, người dùng Phạm Quỳnh làm “Ngự tiền văn phòng” cũng đã thừa nhận mình chỉ là một ông vua bù nhìn. Khi thoái vị, Bảo Đại còn nói: “Làm dân một nước độc lập còn hơn là làm vua một nước nô lệ”. Phạm Quỳnh với danh nghĩa “văn phòng” thì tránh sao khỏi phải thực thi mệnh lệnh của triều đình. Còn xét về hành động, Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ, tù đầy các nhà yêu nước.

Điều đánh chê trách (?) nhất ở Phạm Quỳnh là đã ra làm chủ bút báo Nam Phong , do tên trùm mật thám Đông Dương là Lu-i Mác-ty (Louis Marty-Inspecteur des affaires politiques de l’ Indochine) chủ trì. Với chức danh đó, ông không thể không có sai lầm làm hại đến quyền lợi dân tộc. Nhưng mặt khác, ông lại có công chuyển tải văn hóa Đông-Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hóa dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỷ XX, công lao đó đáng được ghi nhận. Nếu không xảy ra việc ông qua đời năm 1945, thì có thể ngày nay chúng ta dễ dàng đánh giá ông hơn.

Gần đây vẫn còn có người cho rằng: vì ông là phản động nên Việt Minh đã thủ tiêu ông? Với những tư liệu mà tôi thu thập được thì thấy sự thực không hẳn là như thế: Năm 1945, sau khi Bảo Đại vừa thoái vị, trao ấn kiếm cho Chính phủ lâm thời thì Pháp thả dù biệt kích và gián điệp xuống vùng ngoại vi thành phố Huế, mang theo chỉ thị mật của Chính phủ Đờ Gôn là phải tiếp xúc cho kỳ được với Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh. Lúc đó Bảo Đại đã được đưa ra Thanh Hóa, còn Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh vẫn ở Huế nên có lệnh cấp tốc phải di dời hai nhân vật này ra khỏi Huế. Chuyến di dời đó có bốn người là Ngô Đình Khôi (anh ruột Ngô Đình Diệm), Phạm Quỳnh, con trai Ngô Đình Khôi và Nguyễn Tiến Lãng, con rể Phạm Quỳnh. Nhưng phương tiện dời đi chỉ có chiếc ô tô cũ, ọc ạch đưa được ba người là Phạm Quỳnh và hai cha con Ngô Đình Khôi cùng du kích áp tải. Nguyễn Tiến Lãng phải ở lại đi bằng phương tiện khác. Chẳng may du kích áp tải đến một quãng rừng cách xa Huế thì xe bị hỏng, lại có tiếng ì ầm như có tiếng máy bay biệt kích Pháp thả dù. Các chiến sĩ du kích bí quá, sợ không hoàn thành trách nhiệm di dời, đã tự động thủ tiêu ba người, không chờ chỉ thị cấp trên.

Sự việc diễn ra như vậy là cái “ngẫu nhiên lịch sử”, tuy có phản ánh cái tất yếu, nhưng cái tất yếu chưa được nhận thức đầy đủ. Nó cũng để lại những dấu ấn tiêu cực trong các mối quan hệ nhân quả không lường trước được. Cụ thể như trong cuộc gặp gỡ với đồng chí Vũ Ngọc Nhạ (một anh hùng tình báo của ta vừa qua đời) tại cuộc Hội thảo Khoa học do Viện Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh tổ chức vào cuối năm 2001, tôi đã được nghe đồng chí Vũ Ngọc Nhạ cho biết “Có lần Ngô Đình Diệm đã bộc lộ lòng kính trọng Cụ Hồ, nhưng lại nói: Tôi không thể đi với Việt Minh được, vì nếu vậy thì biết nói gì với gia đình họ Ngô tôi về việc Việt Minh đã giết anh ruột tôi”

Thế đấy, một sự kiện lịch sử nếu được làm sáng tỏ cũng có thể có ích cho mối quan hệ giữa những người có liên quan, nhất là những nhân vật có trọng trách với quốc gia.

Cũng vậy, sự kiện về Phạm Quỳnh qua đời, nay vẫn còn chưa được làm rõ. Ngày 4/10/2002, nhân gặp đồng chí Cù Huy Cận (một trong ba người tước ấn kiếm của Bảo Đại sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945) ở cuộc nghiệm thu một công trình khoa học tại Hạ Long, tôi hỏi về cái chết của Phạm Quỳnh, đồng chí Cù Huy Cận nói:

“Chính tôi đã được Bác Hồ giao cho ra đón bà Phạm Quỳnh cùng con gái xin vào gặp Bác Hồ để minh oan. Vừa tới nơi, Bác đã ân cần hỏi thăm sức khỏe và nói ngay “Bà ơi! Đã lỡ mất rồi”…Bác còn dặn dò bà Phạm là cố gắng dạy dỗ con cháu tích cực làm việc cho dân cho nước”. Các con cháu bà cho đến nay đã thực hiện được lời khuyên của Bác như Phạm Khuê, Phạm Tuyên…

Một tư liệu nữa lại chứng minh thêm ý kiến trên của Bác Hồ:

Năm 1945, khi Bác Hồ gặp đồng chí Chu Đình Xương, giám đốc Sở Liêm phóng Bắc Bộ để chỉ thị về việc “Thả Ngô Đình Diệm’, Bác còn nói thêm “Nếu Cụ Phạm (tức Phạm Quỳnh) còn, thì nay chúng ta cũng mời Cụ ra giúp nước”. Không rõ tư liệu chính xác đến mức nào, nhưng qua mấy sự kiện trên ta có thể thấy cái “ngẫu nhiên lịch sử” nên vẫn còn cần được làm rõ.

Đối với quê hương Hải Dương chúng tôi, nếu làm rõ được sự kiện lịch sử này cũng có lợi cho việc thực hiện tính “Công minh lịch sử” nhằm bảo đảm tính “Công bằng xã hội” đúng với mục tiêu mà các Đại hội Đảng đã đề ra là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.


[1] Theo thống kê trong công trình “Tiến sĩ Nho học Hải Dương 1075-1919” của Hội đồng Chỉ đạo Biên soạn Địa chí tỉnh Hải Dương do Tăng Bá Hoành chủ biên, xuất bản năm 1999, trang 153, thì tính đến năm 1919, Hải Dương có tất cả là 637 Tiến sĩ (chưa kể biệt lục)

[2] Trong Lịch sử Hiến chương loại chí (tập 1, NXB Sử Học, 1960) mục Nhân Vật Chí (trang 102-103) viết: Phủ Hạ Hồng… về khoa mục thì huyện Gia Phúc, huyện Tứ Kỳ đỗ nhiều hơn (mỗi huyện 47 người). Những người học giỏi, những người bề tôi hiến phần quê ở trong hạt. Về thời Mạc có Nguyễn Bỉnh Khiêm ở làng Trung An, đỗ Trạng nguyên, có tài lưu tiếng nghìn đời. Như vậy trước kia quê hương Trạng Trình thuộc huyện Tứ Kỳ. Đến thời Nguyễn (1838) mới cắt 5 tổng của Tứ Kỳ, 3 tổng của Ninh Giang lập thành huyện Vĩnh Bảo nay thuộc Hải Phòng.

[3] Phạm Quý Thích đỗ Tiến sĩ năm 1779 thời Lê mạt nên không thi thố được tài năng đã về dạy học đào tạo được nhiều nhân tài

4 Về sai lầm của Phạm Quỳnh thì chí ít cũng như Phan Châu Trinh đương thời đã chê trách: “Còn như cái anh Phạm Quỳnh thì tôi thấy trong một, hai bài trong nhật trình không những là giả dối, vẽ vời mà lại nói lắm điều hại cho thanh niên nhiều” (Tuyển tập Phan Châu Trinh của Nguyễn Văn Dương – Đà Nẵng 1995, trang 33). Về đóng góp thì cho đến nay không ít nhà nghiên cứu về văn hóa Việt Nam đã ghi lại lời Phạm Quỳnh nhân kỉ niệm Nguyễn Du (Nam Phong 1919 kỷ niệm Nguyễn Du) là “Truyện Kiều còn! Tiếng ta còn! Tiếng ta còn! Nước ta còn!” coi đó là lời nói có ý nghĩa tích cực, đáng ghi nhận.

5 Có một chi tiết nữa: Có người cho rằng, trong số người đi áp tải đó có thân nhân gia đình Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài – người có mối hiềm từ lâu với Phạm Quỳnh nên đã lợi dụng việc này mà giải quyết ân oán.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: