Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 6, 2014

Phẩm chất Phạm Quỳnh – Ts Vĩnh Hoàn

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:46 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 11 năm 2014.

 

PHẨM CHẤT PHẠM QUỲNH

TS Vĩnh Hoàn

 

Lời dẫn của Phạm Tôn: Đây là chương VIII trong “tập viết Của César trả César” của tiến sĩ Vĩnh Hoàn viết từ San Francisco nước Mỹ, cũng là tư liệu của nhà văn Sơn Tùng gửi tặng nhạc sĩ Phạm Tuyên.

Để rộng đường dư luận, chúng tôi xin trích đăng để bạn đọc tham khảo.

—o0o—

Tôi viết về Phạm Thượng Chi trong hương đêm Cựu Kim Sơn (tức San Francisco, Mỹ – PT chú) với tâm trạng “hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê” vì chưa có cái thú “hồi hương ngẫu hứng” của Hạ Tri Chương. Họ Hạ ham công danh đến trên 80 tuổi mới nghỉ hưu về quê làm cho bạn bè buổi niên thiếu còn lại ngơ ngác không nhận ra. Còn tôi, mang kiếp viễn xứ cho nên vẫn đang “Ngược xuôi nhớ mấy cung đàn” vì, “Ai đem quán trọ mà ngăn lối về.

Phạm Thượng Chi tiên sinh,

Tên tuổi tiên sinh phổ cập từ Cao Bắc Lạng với rừng cây xanh xanh, núi xanh xanh cho đến nơi trăng thanh gió mát với biển sóng mênh mông Đông Hồ bát ngát; từ thành thị đến thôn quê, từ bậc thức giả ưu thời đến kẻ lỡ làng lang bạt, ai mà không biết, vị tất phải “vẽ rắn thêm chân”.

Nhắc đến tiên sinh là “kẻ tung người hứng”. Tiên sinh là nhà báo lỗi lạc, nhà văn xuất sắc, là học giả uyên bác, thâu thái Đông Tây phát triển dung hợp. Dung hợp tất cả Đông Tây Kim Cổ và cuối cùng là một nhà chính trị với chủ trương quân chủ lập hiến trong buổi giao thời; chính trị hiểu theo nghĩa rộng.

Phạm Thượng Chi ra đời trước trang sử thế kỷ XX được mở ra, khi mà đại thể nhân loại đang vận hành chuyển dịch khắp mọi địa vực trên mọi địa hạt, mang tín hiệu một thời đại mới với những biến cố phi thường. Vừa nhập thế thì tại Á Châu, Nhật vừa nhận chìm giấc mộng Đông Phương của Nga Hoàng, Cách mạng Tân Hợi 1911 cuốn phăng rác rưởi hàng ngàn năm phong kiến (Trung Quốc – PT chú). Trong nội bộ Đế quốc, việc chia sẻ quyền lợi không ổn thỏa. Đức bó tay lui vào bóng tối. Anh, Pháp lẫy lừng. Nhất là Anh! Cũng trong hào quang lấp lánh ấy, Anh nói lên một sự thật ngão nghễ “Mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Anh”.

Trong địa vực quốc nội, lịch sử cách mạng Việt Nam tự ngàn xưa vẫn là lịch sử một vận động liên tục, không ngừng nghỉ của những phong trào đối kháng ngoại xâm ngày càng tăng, càng mạnh. Từ Đông Kinh Nghĩa Thục đến Đông Du, từ Phan Bội Châu đến Phan Chu Trinh. Tình nghĩa Yên Bái chưa phôi pha thì Xô Viết Nghệ Tĩnh nổ ra. Đàn chim Việt tan tác bay đậu tán loạn, thỉnh thoảng vọng về tổ quốc những tiếng kêu hằn học.

Trong bối cảnh lịch sử ấy, Pháp muốn xoa dịu. Nhưng Đông Dương tạp chí cạn dòng. Louis Marty Giám đốc Chính trị Phủ Toàn Quyền Đông Dương, gốc là một tay mật thám trí thức “đánh hơi” được tư tưởng Phạm tiên sinh manh nha trong những bài viết ở Đông Dương tạp chí, móc nối để tiên sinh làm chủ báo Nam Phong. Nam Phong ra đời tháng 7-1917. Thoạt đầu, lấp lánh huyền thoại Pháp Việt Đề Huề, nhưng sau Pháp Du Hành Trình 1922, có dịp trắc nghiệm sự hiểu biết cơ hữu, tình cảm của trí thức và quan chức Pháp, thì khác hẳn.

A.Sarraut sang Đông Dương lần thứ hai sau thế chiến 1914-1918, là một Toàn quyền nổi trội nhất: uy tín, trí thức, hùng biện, hoạt bát, khôn khéo; hứa hẹn nhiều sự thay đổi hấp dụ, nhưng mới làm được một ít thì chính trường Pháp “rục rịch”, phải về nước.

Chính trường Pháp thay đổi. Tháng 10-1925, A.Varenne được phái sang Đông Dương với ý đồ muốn có một ít cải cách chính trị, nhưng vấn đề chính thể không giải quyết được, nên từ chức. P.Pasquier lên thay. “Đã mười năm qua chủ nghĩa quốc gia với nền quân chủ lập hiến một Hiến Pháp qui định rõ ràng quyền của Dân, của Vua và của Bảo Hộ. Trong đó Vua giữ quyền hành chánh, Thượng thư giữ các Bộ, chịu trách nhiệm với Dân, với Vua và với Bảo Hộ. Người Pháp đóng vai trò Cố Vấn. Về binh lực thì do người Pháp nắm giữ với mục đích chống ngoại xâm.

Tất cả những đề xuất trên, với thái độ ôn hòa, chừng mực, không làm cách mạng bạo động mà chỉ lấy Tư Duy Dung Hợp làm cơ sở cho mọi luận cứ, trở thành nguyên tắc căn bản cho sự hợp tác của Phạm Quỳnh và bộ máy cai trị của Pháp ở Đông Dương lọt vào mắt xanh của P.Pasquier. Tháng 3-1928, P.Pasquier thay Varenne. Ngày 28/10/1930 P.Pasquier đọc một bài diễn văn quan trọng, báo trước sự cải cách cần thiết để thích ứng với chủ quyền nội trị đúng theo tinh thần điều ước Patenôtre 1884.

Lá bài thành hình. P.Pasquier về Pháp để lo liệu. Tháng 10/1931, P.Raynaud sang An Nam rà tình hình. Phạm Quỳnh gửi một bản điều trần tóm tắt những điều mà ông theo đuổi, trong đó nổi lên một mệnh đề làm P.Raynaud giật mình: “Chúng tôi cần một quốc gia để thờ…” Điều ấy mang ý nghĩa chống lại mệnh đề: “Nos ancêtres sont des Gaulois” (Tổ tiên chúng ta là người Gô loa) trong bài sử học đầu tiên của trẻ con An Nam bậc tiểu học.

Tháng 3/1932 Bảo Đại về nước. Bảy tháng sau, Phạm Quỳnh nhận được “chỉ” nhà Vua triệu vào kinh nhận chức Thượng Thư sung Ngự Tiền Văn Phòng Đổng Lý. Bảo Đại lập nội các với Ngô Đình Diệm Thượng thư Bộ Lại, Phạm Quỳnh Bộ Học. Vấn đề Phạm Quỳnh nhận “chỉ” nhà vua, theo sự suy nghĩ của chúng tôi, trong thâm tâm tiên sinh, vào thời điểm ấy chế độ thực dân còn ở cao điểm, ông dự phóng dân trí còn thấp, dân tâm khảng tảng, đành phải chấp nhận biện pháp “chiết trung”, dựa vào chính thống nhà Nguyễn để buộc Pháp trả lại những quyền uy tối thượng cho nhà Vua. Bảo Đại phấn khởi, ban bố nhiều Đạo Dụ nhưng dến vấn đề thực thi thì Pháp lừng khừng. Bất hạnh nối tiếp bất hạnh. Cuối 1933, P.Pasquier cha đẻ giải pháp Bảo Đại/Phạm Quỳnh tử nạn máy bay tại Pháp. R.Robin lên thay, nắm lấy cơ hội bèn trở mặt “…Những điều ước (ám chỉ những điều ước 1884 – chú thích của người viết) Bảo Hộ tuy nhiên không phải là một trở ngại đối với những tiến hóa cần thiết”. Ngô Đình Diệm nhạy bén, treo ấn từ quan, quay lưng trở lại mang cái “thẻ ngà chí sĩ”. Phạm Quỳnh ở thế kẹt.

Nắm lấy cơ hội, số 14 tuần báo Phong Hóa đổi mới với Nhất Linh, Hoàng Đạo (Tứ Ly), Khái Hưng… ra ngày 2/9/1932 bắt đầu mở những trận cười vào Nam Phong. Từ ấy ngày đêm Phạm Quỳnh bị bêu riếu cho đến năm 1939. Sự cố ấy dễ hiểu, vì chỉ là hành động vác gậy đi đập đèn hàng xóm để giành ánh sáng cho đèn mình. Cũng cần mở một dấu ngoặc “là sự cố ấy tái diễn tại miền Nam khoảng trên dưới 20 năm sau, khi nhóm Sáng Tạo nhất trí tuyên bố làm văn học nghệ thuật hôm nay, phủ nhận Tự lực Văn Đoàn.

Một thời gian ngắn sau 2/9/1932, quốc dân quay lưng lại với Phạm Quỳnh, nhưng ông vẫn ẩn nhẫn. Năm 1939, Phạm Quỳnh tháp tùng Bảo Đại sang Pháp vận động chính phủ Daladier, yêu cầu Pháp tôn trọng chữ ký, nhưng nước Pháp đang đứng bên bờ vực thẳm Thế chiến thứ II. Và, thế chiến thứ II nổ ra. Pháp thất trận ngay.

Trong những năm tháng cuối cùng của Phạm Quỳnh, biết ông không ai bằng Haellewyn và hiểu ông cũng không ai hơn Haellewyn. Trong báo cáo tối mật ngày 8/1/1945 gửi lên Toàn Quyền Đông Dương, (trước gần đúng 90 ngày trong nháy mắt một đêm, đêm 9/3/1945), viên khâm sứ cuối cùng của Trung Kỳ Haellewyn, người từng nắm ngự bào Bảo Đại và cổ áo Phạm Quỳnh đã viết: “…Phạm Quỳnh cực lực công kích việc trưng dụng thóc gạo cho Nhật Bản (việc này đã gây nên nạn đói năm Ất Dậu (1945) làm chết khoảng 2 triệu người từ Quảng Trị ra Bắc Kỳ – Chú thích của người viết)… Đòi hỏi chúng ta, trong một thời gian ngắn nhất phải cam kết trả lại cho Triều Đình những biểu tượng quyền uy tối thượng của quốc gia, bao trùm Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn đe dọa khuyến khích các phong trào phản loạn nếu trong những tháng tới chúng ta không cam kết thương thảo với Hoàng Đế Bảo Đại một quy chế mới thay thế chế độ Bảo Hộ… và tạo dựng một quốc gia Việt Nam . Tôi xin lưu ý Ngài về điểm với bề ngoài lịch sự và chừng mực, ông này (Phạm Quỳnh) là một người quyết liệt tranh đấu cho Việt Nam độc lập và, chúng ta không nên hy vọng làm dịu tinh thần ái quốc của ông ta, một tinh thần chân thành không hề lay chuyển bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một chức vụ danh dự có nhiều bổng lộc. Ông ta là một đối thủ hòa hoãn nhưng quyết liệt của nền thống trị Pháp…” (Đoàn Văn Cầu dịch).

Nhưng cuối cùng cái nhịp tim nóng bỏng ấy đã ngừng thở giữa tiếng reo hò của cách mạng. Đó là một sự mất mát lớn. Một sự mất mát tức tưởi trong tay Ta, khi tiên sinh vừa qua cái tuổi biết mệnh trời.

Chúng tôi vừa lướt qua bối cảnh lịch sử. Bây giờ viết qua một ít về tiên sinh.

Viết về Phạm Thượng Chi tiên sinh là viết về một cuột đời éo le. Chín tháng tuổi, mẹ mất. Nội tổ sụt sùi, chùi nước mắt, ẵm thằng cháu bất hạnh mà đùm bọc. Chín tuổi đời cha về trời. Cô quạnh bủa vây nhưng, bẩm sinh thiên tư hơn người lại mẫn tiệp nên mấy năm sau đã đủng đỉnh vào/ra cổng trường Bưởi – hậu thân của trường Thông Ngôn – một vinh dự lớn đối với các cậu ấm hay con nhà thần thế đất Hà Nội bấy giờ và, bốn năm sau nhận lãnh bằng Thủ khoa Cao Đẳng tiểu học (Diplôme d’Études Française Supérieures) được bổ nhiệm ngay làm phụ tá tại trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội. Rảo bước khởi đi qua hành trạng Phạm Thượng Chi chúng ta thấy bốn năm đầu ở bậc cao đẳng tiểu học với bàn tay tận tình uốn nắn của các giáo viên người Pháp và mười năm sau bên cạnh những đồng nghiệp đại sư Trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ, ông đã tích lũy được nhiều, từ phương pháp tiếp nhận trí thức đến phương thức tổ chức, lề lối làm việc, nhưng cái sở đắc thành đạt của tiên sinh lại không do trường ốc đào tạo, môi trường huấn tập mà do trường đời. Đành rằng kiến văn quảng bác của tiên sinh đến từ các đại sư Bác Cổ, nhưng tài năng lại được tôi luyện và triển nở qua văn đàn, diễn đàn, mạn đàm, tiếp xúc, đối thoại…

Với tôi, ngoài bẩm sinh thông minh, mẫn tiệp, có chí khí, Phạm Thượng Chi còn có bản lãnh. Vốn dòng sĩ phu bén nhạy, năng động, tiết tháo lại đứng giữa dòng xoáy buổi giao thời với những đối cực: thực dân/bản xứ, phong kiến/dân chủ, tư bản/vô sản, cộng sản/quốc gia… và biết bao nhiễu nhương nhảm nhí do thời cuộc đưa đẩy nhưng tiên sinh vẫn không chạy theo bất cứ một xu hướng thời thượng nào như an nhàn hưởng thụ, đánh trống bỏ dùi, khua môi múa mép với đại ngôn hô hào cho có lệ mà chỉ dấn thân nhảy vào những chổ phải nhảy cho nên, đã tạo được một nhân cách mà trước giờ lâm chung của chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương, viên khâm sứ Haellewyn khi kêu cứu lên Toàn Quyền đã không ngại ngùng giấu giếm mà nói thẳng ra như chúng tôi đã trình bày trên đây.

Nói đến Phạm Quỳnh là nói đến cái tài, cái trí, cái dũng, cái chí nhưng trên tất cả là tấm lòng. Tấm lòng mang nặng tình tự dân tộc. Nói đến Phạm Quỳnh cũng không thể quên được cái đức nữa. Cái đức của Phạm Quỳnh là hành động cao cả ngay cả với kẻ thù. Còn cái chí là sự miên trường theo đuổi mục tiêu. Trí ấy là thâu thái Đông Tây, Dung Hợp Cổ Kim. Dũng ấy là dấn thân, không ngại thị phi, bất chấp nguy hiểm, dám làm và cũng dám chịu…

Tất cả những nhận thức trên, chúng tôi bắt gặp trong trước tác sâu sắc, ngôn từ thiết tha, bằng quốc ngữ thì nhiều mà Pháp văn cũng không ít; qua những cuộc mạn đàm, phỏng vấn, tiếp xúc, đối thoại và, nhất là những buổi khăn đóng áo dài, chễm chệ đăng đàn. Trong tất cả những người con yêu của tổ quốc tranh đấu cho sự nghiệp chung mà chúng tôi nghiêng mình kính cẩn mỗi khi nhắc đến, chúng tôi chưa hề bắt gặp một ai có tư tưởng sâu sắc, lời lẽ thiết tha, giọng điệu nài nỉ như tiên sinh. Bởi vậy, muốn tìm hiểu Phạm Quỳnh không thể trùm chăn tránh né mà phải dũng cảm xông vào trước tác của ông vì tư duy Phạm Quỳnh đi thẳng vào tác phẩm. Đứng xa xa mà nhìn nhìn ngó ngó, chỉ trỏ đó đây hay nghe ngóng thị phi, sờ sờ mó mó cái vỏ ngoài mang cái dạng vẻ nhất thời có một ít vuốt ve, đồng điệu với kẻ thù thì … chẳng nhằm nhè gì.

Phải dũng cảm nhảy vào chiến hào của Phạm Quỳnh mới thấy được cái nhất quán của tiên sinh. Chiến hào của Phạm Quỳnh không phải ở Nam Phong tùng thư hay mấy tập Thượng chi văn tập. Với tôi, chiến hào Phạm Quỳnh nằm trọn trong 210 quyển báo, từ số 1 tháng 7, 1917 đến tháng 1/1934. Tôi không thỏa mãn với từ ngữ thường dùng là tạp chí, tạp chí Nam Phong. Tôi lại càng dị ứng với từ tập san, tập san Nam Phong mà tôi muốn gọi nôm na “quyển báo”, quyển báo Nam Phong. Gọi thế mới thỏa. Chỉ có ở đây mới phát hiện được “Phạm Quỳnh Chân Diện Mục”. Nhà văn là tác phẩm hay ngược lại, tác phẩm là nhà văn. Nói một cách khác Phạm Quỳnh là Nam Phong.

Nói thế không có nghĩa là chúng tôi quên công nghiệp của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật… trong Nam Phong. Nói thế chỉ vì Phạm Quỳnh ký nhiều tên. Với Nam Phong họ Phạm “bao sân” cho nên ông ký Phạm Quỳnh, Thượng Chi, Hồng Nhân, Lương Ngọc, Thiếu Hoa Đường. Phần Pháp văn, những bài ông viết, ký tên Phạm Quỳnh. Những bài Pháp văn do chính ông viết hay chọn có chủ đích gửi cho trí thức hay các quan chức Pháp ở chính quốc cũng như ở Đông Dương không phải có mục đích viết cho đầy trang báo.

Về sứ mệnh của người cầm bút đối với dân tộc ông yêu cầu gây dựng một nền văn hóa thu hút được sự tín nhiệm của quốc dân trong một số giá trị được xác định về học thuật và luân lý. Còn phần ông, Phạm Quỳnh nhiều lần xác định trong Nam Phong đó là sứ mệnh nhằm vào công cuộc hướng dẫn quốc dân để bồi đắp tinh thần thực hiện chủ nghĩa quốc gia trên con đường văn hóa.

Mục tiêu trước mắt của Phạm Quỳnh là dựng một nền học vấn mới cho nước nhà để thay thế cái nền học nho gia trên đà cáo chung. Muốn vậy, trước hết ta phải tìm hiểu những bài luận thuyết và việc làm của ông. Ta thấy: 1/ Chủ trương thâu thái qua dịch thuật về Văn học Nghệ thuật rồi về sau thiên về luận thuyết của các tư tưởng gia như triết của Descartes, lý thuyết chính trị của Voltaire, Montesquieu, Rousseau. 2/ Thâu thái bằng cách đối chiếu Đông / Tây như triết học của người quân tử đạo Nho và người thanh cao (honnête homme) của Pháp, thơ ta với thơ Tây, tranh ta với tranh Tây… 3/ Thâu thái tư tưởng, không tập hư văn. Về vấn đề này, khi mới trên dưới 20 tuổi, đang ngồi trên ghế trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ khi viết trên Đông Dương tạp chí, ông bàn cũng “thấu tình đạt lý lắm”. Phạm Quỳnh đặt vấn đề: Việc học chữ Pháp đối với người mình là tối cần nhưng người mình đã nhận ra cái mục đích chân chính ấy chưa? Và, ông giải quyết vấn đề: ta học chữ Pháp chủ đích là chỉ muốn bổ cứu những khuyết điểm trong sự học của ta. Ta học chữ Pháp để biết xem sách Pháp mà luyện tập lấy tư tưởng chứ không nên xông vào những điều phiền toái, huyền diệu vì, nếu như thế thì Tây học có hơn gì Nho học khi xưa đâu. 4/ Học lấy khoa học Tây phương để bù vào nền Đạo học Đông Phương. Ông nhắc nhở nên biện biệt Đạo học với Khoa học. Đạo học thụ dụng, tự mình tìm lấy được, chứ không cần đợi ở ngoài; cổ kim, Đông Tây cũng chỉ có một chứ không có hai. Khoa học là phép học chỉ châu tuần trong thực tế, không mơ tưởng huyền vi. Khoa học lấy lý luận làm tiên phong, thực nghiệm làm hậu kính. Khoa học chuộng cái mới, Đạo học thích những lời lẽ tự ngàn xưa vẫn còn tồn tại và cuối cùng là -5/ Học phương pháp nghiên cứu của Tây Phương, Phạm Quỳnh chủ trương đem phương pháp nghiên cứu của Tây học mà nghiên cứu khoa Hán Việt cổ điển. Duy chỉ có cách ấy mới cứu được cái học ấy ra ngoài đường lối hẹp hòi tự xưa đến nay. Công ơn họ Phạm về những vấn đề nêu trên thật lớn.

Qua nhiều bước thăm dò, tiếp cận, tôi thấy rõ nhất ở Phạm Quỳnh là thái độ trí thức, sự liêm khiết trí tuệ. Họ Phạm trung thực với chính mình, trung thực trong đối nhân xử thế, học thuật tư tưởng và ngay cả lĩnh vực chính trị, một lĩnh vực mà trung thực lắm lúc dẫn đến nguy hiểm. Chính sự trung thực của ông ảnh hưởng đến sự thận trọng trong phán đoán cho nên, ông không cố chấp, say sưa mù quáng rồi quá khích mà… “khoát nước theo mưa”.

Tất cả những điều chúng tôi vừa đan cử trên, theo thiển ý, Phạm Quỳnh tiếp thu được qua mười năm làm việc bên cạnh các đại sư Viễn Đông Bác Cổ vì các vị ấy chẳng những được đào tạo ra mà còn sống trong môi trường thân thành, khiêm cung phát kiến, chứ không vỗ ngực cho mình nắm được chân lý, xem tất cả là ngụy tín. Họ phát kiến và trình bày một cách e dè, có lúc thẹn thùng nếu không muốn nói là ấp úng. Có lúc họ nhìn ngơ ngác vì không thấy một động thái nào có vẻ trái ngược.

Cái giá trị truyền thụ ấy, đối với tôi là họ đã truyền cho Phạm Quỳnh biết thế nào là học, thế nào là tìm hiểu, thảo luận, đối thoại, trình bày… Tất cả hội tụ vào một điểm, quy vào một phạm trù: Phạm trù Trí thức. Lấy sự hiểu biết nâng đỡ nhau, góp sức vào sự tìm kiếm chân lý vì, chân lý là cái đang tìm kiếm chứ không phải là cái đã kiếm được rồi giành nhau chiếm hữu, độc quyền phân phát. Cũng theo chỗ suy nghĩ của chúng tôi, bài học mà Phạm Quỳnh học được không phải là Thạc sĩ này Tiến sĩ nọ vì bằng cấp không tài nào chứng minh được mà chỉ có tri thức toát ra nơi phong cách, nơi con người, nơi tác phong trong cuộc sống của các vị ấy cho nên, nó không lỉnh kỉnh, lủng ca lủng củng mà như gia bảo giấu kín trong sự thanh cao của mình.

Nhưng có một điều, không phải ngày một ngày hai mà có cái phong cách ấy. Cũng như các vị đại sư trong Đại học Âu Mỹ, các vị ấy tắm mát hàng ngàn năm lịch sử của một nền văn hóa bắt nguồn từ một đấng luôn luôn xưng tụng là chân lý nhưng rồi lại cúi đầu rửa chân cho môn đệ trong tiệc ly cuối cùng[1], lấy bản thân mình mà san sẻ để nuôi sống tâm hồn các môn đệ. Quí hóa thay sự khiêm cung của Đấng Christ!

Đành rằng, qua báo chí, Phạm Quỳnh được biết đến nhờ bốn lần đăng đàn, trong đó có một lần ở Ban Luân lý Chính trị Viện Hàn Lâm Pháp với đề tài Một vấn đề dân tộc giáo dục và lần thứ hai tại trường Đông Phương Bác Ngữ. Tất cả những lần đăng đàn đều có tiếng vang, gây nhiều uy tín vì nội dung sâu sắc, phô diễn hấp dẫn, nhưng lần ở Viện Hàn Lâm lại thêm một điểm son nữa là khúc chiết hùng hồn. Nhưng với chúng tôi những điều đan cử trên chưa đủ. Những cái toát ra nơi con người, con người tình nghĩa qua phong cách thanh cao đóng vai trò không nhỏ.

Tưởng cũng cần nhắc lại là đối tượng tranh thủ của Phạm Quỳnh là trí thức, quan chức cao cấp và chính giới Pháp nhưng trong thời đại mà các nước nhược tiểu phải chấp nhận chế độ thực dân như một “Định mệnh lịch sử tất yếu” thì ở Tây Âu nếu có một người không có đầu óc thực dân, người ấy là đại thánh đại hiền. Thế mà, chỉ với vai trò đại diện cho một Hội Đoàn rồi “thao tác” trong một không gian Paris đầu thế kỷ XX với rất nhiều hạn chế, Phạm Quỳnh đã thăm viếng được hầu như tất cả những gia đình người Pháp mà trước đây là quan chức chỉ huy hay những người liên hệ trong hơn 10 năm tại Hà Nội. Tình nghĩa thay và cũng diệu kỳ thay!

*

* *

Sau hơn 40 năm, tôi về Hà Nội, vào một tiệm sách cũ lớn thấy bộ Từ điển Văn Học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, mừng thầm trong bụng, nhưng có điều thắc mắc là tại sao sách quý như thế này mà lại bán ở tiệm sách cũ và để ở chỗ ít khách qua lại. Tôi bắt một quyển tìm tên tuổi Phạm Quỳnh. Không thấy! Cũng đành! Lấy cái “có thể được” của hôm nay mà đòi cái “không thể được” của hôm qua là một việc làm khôi hài (…)

Hằng năm, kể từ 1998, cứ mỗi độ Xuân về, tôi trở lại khoảnh đất nơi tiền nhân an nghỉ và ghé vào hiệu sách. Năm 2005, tôi mua được Từ điển Văn Học, Bộ mới, NXB Thế Giới 2004, thấy tên tuổi tiên sinh. Cái “không thể được” hôm qua, bây giờ thành cái “có thể được”. Trong Bộ mới này nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi đã viết một bài dài về Phạm Quỳnh khá đầy đủ. Để giữ mối giao duyên trên những nẻo đường giao lưu, tôi xin trích đoạn cuối của bài viết. Đành rằng, đây chỉ là một đoạn nhỏ, một tiểu mục trong cái tiểu mục “Dùng chữ Hán Việt Âm” của Phạm Quỳnh, rồi lấy đó để kết thúc mục VIII – Phẩm chất Phạm Quỳnh trong tập viết Của César trả César:

“… Phạm Quỳnh hết sức du nhập và Việt Hóa nhiều khái niệm bắt nguồn từ Hán ngữ và làm cho tiếng Việt phong phú lên rất nhiều. Tiếng Việt qua thời Nam Phong có vẻ như đằm lại, pha phách nhiều chữ Hán hơn thời Đông Dương tạp chí, nhưng chính là với trường đào luyện của Nam Phong, nó đã có một bước ngoặt căn bản để đạt đến một hệ từ vựng cao cấp hơn hẳn trước, đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa giai đoạn 1932-1945, nhất là trong hệ thống ngôn từ học thuật biểu hiện ở các công trình biên khảo nở rộ từ sau năm 1945”. Và, một lần nữa tôi lại thêm vào tập viết của tôi năm 1992.

Phạm Thượng Chi tiên sinh,

Tiên sinh sống khôn, chết thiêng!

(…) Tôi kết thúc tập viết trong hương đêm tịch mịch của thành phố Cựu Kim Sơn, Hoa Kỳ, thỉnh thoảng có tiếng động trong không gian mấy căn phòng. Lòng vắng muôn bề, làm tôi lạnh người nhưng lại phấn khởi rồi lấy Dụ ngôn của Đấng Christ để làm cái Dấu Chấm cuối cùng của tiểu mục Phẩm chất Phạm Quỳnh và cũng là tiêu đề cho tập viết:

CỦA CÉSAR TRẢ CÉSAR

Bần bút

Lưu Thái Do

Kiếp Do Thái bị lưu đầy vĩnh viễn

Tháng 12/1992

Thêm một ít câu năm 1999 và 2005


[1] Trước khi kết thúc sự vụ công khai của Giêsu ở thế gian, Người biết giờ của Người ở thế gian đã đến, nhưng người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình, cho nên trong tiệc ly với các môn đệ Người đứng dậy, cởi áo ngoài ra, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khan lau (Trích Kinh Thánh)

Ý nghĩa trong việc đấng Christ rửa chân cho môn đệ là Chúa đã rửa chân cho môn đệ nghĩa là Chúa thương môn đệ thì môn đệ cũng phải thương nhau (rửa chân cho nhau)

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: