Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Một 23, 2014

Phạm Quỳnh – Một nhân cách về lòng tự tôn dân tộc

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:40 sáng

Blog PhamTon năm thứ  sáu, tuần 4 tháng 11 năm 2014

PHẠM QUỲNH – MỘT NHÂN CÁCH

VỀ LÒNG TỰ TÔN DÂN TỘC

(Bài có số lượt người truy cập nhiều thứ chín kể từ ngày ra đời Blog PhamTon,

tính đến 6 giờ ngày 23/4/2013 đã có 14.142 lượt người truy cập.)

Nguyễn Thúc Chuyên

Lời dẫn của Phạm Tôn: Blog PhamTon ra đời đã được hơn ba năm. Trong thời gian ấy, Blog PhamTon đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đón nhận nồng nhiệt. Không ít bài đã có trên dưới 10.000 lượt người truy cập. Toàn bộ Blog PhamTon đã đạt hơn một triệu lượt người truy cập. Có ngày lên hơn 10.000.

Đó là điều đáng chú ý đặc biệt. Vì Blog PhamTon là một blog cá nhân lại chỉ chuyên viết các đề tài liên quan đến một con người đã ra đi cách ngày nay ngót 70 năm trời.

Từ kỳ này, chúng tôi sẽ lần lượt đăng lại để bạn đọc không có điều kiện theo dõi thường xuyên đọc được những bài được đông đảo bạn đọc truy cập trong ba năm qua, mong bạn đọc chú ý theo dõi.

Xin chân thành cảm ơn các bạn đã có lòng yêu mến Thượng Chi – Phạm Quỳnh và do đó quan tâm theo dõi cuộc sống của Blog PhamTon chúng tôi.

Bài này của nhà giáo hưu trí thành phố Huế Nguyễn Thúc Chuyên đã đăng trên tạp chí Huế xưa & nay, số 94 tháng 9, 2009 (các trang 63-69).

—-o0o—-

Năm tôi học bậc tiểu học trường Pháp – Việt, lúc rảnh rỗi thường lấy Nam Phong tạp chí của cha tôi mua để xem (cha tôi là nhà nho). Thấy tôi ham đọc, cha tôi bảo: “Báo này đọc có ích, con lấy mà xem, chẳng khác gì cuốn bách khoa thư”! (Tất nhiên có nhiều nội dung tôi không hiểu). Hồi đó và kể cả khi lên học bậc trung học, tôi chỉ biết Phạm Quỳnh qua báo Nam Phong, cũng như chỉ biết Đào Duy Anh qua cuốn Hán Việt từ điển. Học sinh, sinh viên ngày nay, có lẽ chỉ biết Phạm tiên sinh qua câu nói nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”.

Cuộc đời của cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh, theo tôi nghĩ, thời ông làm chủ bút tạp chí Nam Phong suốt trong 15 năm (hai năm sau người khác làm) là “đắc ý nhất”. Đây là nơi ông gửi gắm lòng tự hào dân tộc, sự tôn trọng, yêu mến nền văn hóa truyền thống Việt Nam, trong đó có nền Quốc văn… Về sau ông ra làm quan cho Nam triều. Thông cảm với Phạm tiên sinh, nhà văn Nguyễn Công Hoan xây dựng nên truyện ngắn Kép Tư Bền, phản ánh cuộc “ép duyên” của thực dân Pháp, dẫn đến sự “tiến thoái lưỡng nan” của ông chủ bút Nam Phong, cũng như Kép Tư Bền phải lên sân khấu làm trò cười cho khán giả, trong lúc ở nhà cha mình đang hấp hối… Cuộc đời làm quan của ông, từ ngự tiền văn phòng đến thượng thư bộ Học rồi bộ Lại, cả thảy hơn 12 năm. Bấy giờ tôi học trung học ở Huế, thỉnh thoảng vẫn thấy ông ngồi trên xe tay kéo sơn đen, gọng đồng, đầu đội khăn xếp, mặc áo dài thâm, đi giày, mang kính trắng, không hề thấy đeo bài ngà, với vẻ hồn nhiên như một thư sinh. Ông là người có thể rất tâm đắc với hai câu thơ của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị:… “Thuở ra sân khấu không làm rộn/ Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi”, chăng! Do đó nhiều người cảm thấy hình như ông không chút “mặn mà” gì khi nhận các chức vụ trên. Sau cuộc đảo chính Nhật lật đổ Pháp (9/3/1945), ông về hưu, làm kẻ ẩn sĩ, trong nhà “không có gì là sang trọng, không có những đồ đạc của tầng lớp quý phái, không có đồ cổ đắt tiền…” (dẫn theo Nhật Hoa Khanh, Xưa và Nay, số 269, tháng 10 năm 2006).

Là chủ nhiệm kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí, ông đã thu hút nhiều cộng tác viên nổi tiếng thời bấy giờ với số lượng kể đến hàng trăm người. Đó là nhờ nhân cách và học vấn của ông. Số cộng tác viên của Nam Phong tạp chí có nhiều vị vào hàng khoa bảng như: Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, phó bảng Hoàng Yến, cử nhân Bùi Kỷ… cùng với các vị đường quan tuần vũ Trần Mỹ, Tế tửu Quốc tử giám Ưng Trình, án sát Nguyễn Đình Chi, đốc học Trần Thất Phán, huấn đạo Nguyễn Kinh Chu…và các học giả, nhà văn, nhà thơ khác như: Phan khôi, Dương Quảng Hàm, Phạm Duy Tốn, nữ sử Đạm Phương, thi sĩ Tương Phố… và có các anh sinh viên Đặng Nguyên Khu (trường Cao đẳng Thương mại), Tôn Quang Phiệt (trường Cao đẳng Sư phạm Đông dương)… Nhiều cộng tác viên không chỉ viết một đôi bài mà viết hàng chục bài. Ông chủ bút Nam Phong rất tôn trọng các tác giả. Đó cũng là nét nhân cách đẹp của Thượng Chi tiên sinh. Ví dụ, khi tác giả Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến viết trong mục “Tồn cổ lục” nêu bà Nguyễn Thị Điểm diễn Nôm khúc ngâm “chinh phụ” là em gái tiến sĩ Nguyễn Trác Luân, người huyện Đông Hào, tỉnh Hải Dương…, ông chủ bút Phạm tiên sinh vẫn để nguyên xi sự lầm lẫn trên của tác giả và cho đăng tải lên báo Nam Phong tạp chí với một câu chú thích rất tế nhị: “Sách Đăng Khoa lục cho bài là người Bình Lao, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; Tang thương ngẫu lục cho bà là người Bắc Giang, bà ấy là họ Đoàn không phải họ Nguyễn, không biết lời nào nói phải?”. Với một bài báo khảo cứu ai là dịch giả Chinh phụ ngâm khúc đăng trên báo Nam Phong số 24 tháng 6 năm 1919, cách đây gần 90 năm, đã khuấy động nhiều học giả, giáo sư, các nhà nghiên cứu… tốn không biết bao nhiêu giấy mực, bao nhiêu cuộc hội thảo khoa học…mà nay vẫn còn tồn nghi. Gần đây (2007) giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã tỏ ra nghi ngờ, nên đã viết một bài báo khuyên các thầy cô giáo: … “Khi giảng Chinh phụ ngâm cũng nên chọn một hai đoạn hay của Đoàn Thị Điểm, trước khi chọn các đoạn của Phan Huy Ích để học sinh thấy đúng được thực tế tiến lên của lịch sử văn học” (Văn hóa Nghệ An, số 110).

Đối với một số ít tác giả cố tình làm tổn thương tinh thần tự tôn dân tộc, thì Phạm Quỳnh tiên sinh không chút ngần ngại vạch mặt trên báo. Sự việc được thể hiện qua sự đối đáp của ông với một vị “Tây dương[1]” về một bài báo ông này dịch từ chữ Hán trên báo Nam Phong ra tiếng Pháp, rồi đưa đăng trên tờ báo Avenir du Tonkin (tức Tương lai của Bắc Kỳ – PT chú) xuất bản tại Hà Nội. Dịch giả đã cố ý dịch sai. Ông đọc bài báo này thấy đụng đến lòng tự trọng và tự tôn dân tộc, ông bèn đi “thương thuyết” với Louis Marty nhờ viết một bài báo bằng tiếng Pháp, dịch lại cho ông “Tây dương” nọ thấy chỗ dịch sai, rồi đăng lên báo Nam Phong số 24 (tháng 6 năm 1919) kèm theo bài viết bằng tiếng Việt của ông chủ bút họ Phạm với tiêu đề Về mấy bài bình phẩm báo Nam Phong. Mấy câu đầu Phạm tiên sinh viết đại ý: Ngài quá khen bỉ nhân cùng bạn đồng sự là Nguyễn chủ bút (tức Nguyễn Bá Trác, phụ trách phần chữ Hán – TG)… “Chúng tôi lấy làm vinh dự và cảm ơn ngài lắm… Ngài cũng biết rằng chúng tôi một lòng yêu thương nước chúng tôi, là một nước cổ mấy ngàn năm đã từng có một cuộc lịch sử cũng lắm phen hiển hách vẻ vang. Chúng tôi yêu thương nước chúng tôi, đó cũng là cái thường tình của người ta, phàm những trí thức ai cũng có bụng ấy… Duy trong bài ngày 20 Juin (Tháng 6 – PT chú) 1919, thượng nhân có dịch một đoạn Hán văn của ông Nguyễn Bá Trác, phải câu cuối cùng dịch sai nghĩa…, có thể khiến cho người không biết xét lầm và nghi cái bụng thành thực của chúng tôi. Bởi vậy, chúng tôi có cậy quan cai trị Marty thảo mấy lời thuyết minh bằng tiếng Pháp, trước là chỉ rõ thượng nhân biết sự sai lầm đó, có thiệt hại cho danh dự của bản báo đối với chính phủ, sau là nhân thể bộc bạch cho những người Pháp hay có tính đa nghi biết cái thái độ của chúng tôi là rất phân minh, rất chính đáng vậy” (PH.Q – Nam Phong tạp chí số 24).

Năm 1922, Phạm Quỳnh tiên sinh có đi mấy tháng sang Paris (Pháp) với tư cách đại diện hội “Khai trí tiến đức” dự cuộc đấu xảo Marseille, lại được toàn quyền đặc phái sang diễn thuyết ở một số trường học lớn tại Ba Lê; ông đã đăng đàn 4 lần về các đề tài: 1. Về thi ca Việt Nam; 2. Sự tiến hóa chữ quốc ngữ; 3. Sự tiến hóa của dân An Nam; 4.Tình trạng giáo dục ở An Nam. Một năm sau (1923) những bài diễn thuyết trên được tập hợp in thành sách, xuất bản tại Pháp với tiêu đề: À propos des Quelques conférences à Paris de Monsieur Pham Quynh (dịch: Lời bình phẩm về sách: “Mấy bài diễn thuyết ở Paris của Phạm Quỳnh) Sách xuất bản ở Pháp, thì mấy tháng sau đã thấy xuất hiện ở Đông Dương (Việt Nam – Lào – Campuchia). Một trí thức người Pháp, có bút danh là Sérénus đọc khen hay và rất tán thưởng, bèn viết một bài bình phẩm bằng tiếng Pháp đăng trên báo France – Indochine, một tờ báo có uy tín ở Bắc kỳ thời bấy giờ. Phạm Quỳnh tiên sinh đã xem bài báo này; có người đề nghị ông dịch ra Quốc ngữ để đăng tải ở Nam Phong tạp chí. Ông đã từ chối. Về sau, bạn bè ông là trí thức Tây học cũng đã đọc bài báo này, liền đến gặp ông khen và phân tích giải bày với ông, dần dà ông bị “lung lay”, từ thái độ từ chối, dẫn đến sự do dự, ngập ngừng… cuối cùng ông đã suy nghĩ rằng: “Lời khen của vị quan ấy không phải là khen riêng một mình tôi, mà có ý khen cả dân tộc Việt Nam, tưởng cũng nên in lại và dịch ra để công chúng cùng lãm” (ghi theo lời chú thích – Nam Phong tạp chí số 75 tháng 9 năm 1923).

Thượng Chi Phạm Quỳnh sinh ra trong một gia đình nhà Nho có nền nếp (cụ thân sinh mất sớm). Với kiến thức uyên bác Đông Tây kim cổ, ông đã thấm nhuần lời dạy của thánh nhân: “nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” (lời nói viết ra, bốn ngựa đuổi không kịp). Khi làm chủ bút Nam Phong, ngoài một số bài báo do Pháp điều khiển (vì Pháp tài trợ hằng tháng) còn lại phần lớn những bài ông cho đăng trên báo, về mặt khách quan nói chung, đều là những điều bổ ích cho người đọc. Một vị thượng thư trí sự ở Huế (Vĩ Dạ) đã nói với cha tôi rằng: “Ông ấy trẻ nhưng suy nghĩ và tài năng hơn chúng ta”. Với sự giao lưu nền văn hóa Pháp, Phạm tiên sinh được tiếp xúc văn học Pháp từ nhỏ. Tôi chắc rằng ông đã đọc sách Pháp khá nhiều, trong đó có các tác phẩm của nhà văn Alphonse Daudet (1840-1897). Trong một tác phẩm của nhà văn này có truyện ngắn Buổi học cuối cùng (La dernière classe), A. Daudet viết: (dịch) “Khi một nước đã bị hãm vòng nô lệ, mà còn giữ được quốc văn cho hoàn toàn, thì cũng hình như là giữ được cái chìa khóa để mở cửa ngục giam mình vậy” (nguyên văn: … “Quand un peuple tombe esclave, tant qu’il tient bien sa langue, c’est comme s’il tenait la clef de sa prison”Contes du Lundi, page 12. (Những mẩu chuyện ngày thứ hai, trang 12 – PT chú). Theo chú thích của A.Daudet thì ý tưởng này là của Fréderic Mistral[2]). Cùng với ý tưởng trên, ngoài câu nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn…” của Phạm tiên sinh, thì trong tạp chí Nam Phong số 101 tháng 12 năm 1925, ông còn có viết câu: “Tiếng là nước, tiếng còn thì nước còn; tiếng mất thì nước mất, mà mất đó mới thật là mất hẳn, không sao vãn hồi được nữa”. Ngày nay khi khảo cứu về nội dung báo Nam Phong, trừ các mặt tiêu cực do Pháp lợi dụng, nhìn chung, Phạm tiên sinh đã có vai trò góp phần phát triển kho từ vựng chữ quốc ngữ và tiếng nói của dân tộc ta vào nửa đầu thế kỷ XX. Với sự điều hành của ông chủ bút họ Phạm, kiêm phụ trách phần tiếng Việt, kết quả khách quan đưa lại là chữ quốc ngữ được sử dụng như một phương tiện để biểu đạt các loại vấn đề mà trước đó hàng chục thế kỷ chữ Hán giữ vai trò độc tôn nhưng lại khó hiểu đối với quần chúng.

Ngày 31 tháng 5 năm 1922 (thứ tư), trong bài diễn thuyết về đề tài: “Sự tiến hóa của dân An Nam từ khi đặt bảo hộ Pháp” tại Trường Thuộc địa (bộ Thuộc đại Pháp) có 300 người dự, Phạm tiên sinh mặc quốc phục khăn đen áo dài làm lễ phục, đã chững chạc và hùng hồn diễn thuyết bằng tiếng Pháp rất trôi chảy, rằng: “Người Pháp phải tôn trọng chủ quyền và truyền thống văn hóa Việt Nam. Dân tộc Việt Nam chúng tôi là một quyển sách dày, đầy những chữ viết bằng thứ mực không phai đã hàng mấy mươi thế kỷ. Quyển sách cổ ấy có thể đóng theo kiểu mới cho phù hợp với thời trang, nhưng không thể đem một thứ chữ ngoài in lên những dòng chữ cũ… Vấn đề là phải giáo dục người Việt Nam thế nào cho vừa truyền được học thuật cao thượng đời nay, vừa không đến nỗi khiến chúng tôi mất giống, không có quốc tính để biến thành một dân tộc vô hồn, không có tinh thần đặc sắc gì nữa như mấy thuộc đia cũ của Pháp…”[3]

Cũng trên Nam Phong tạp chí, số 107 tháng 7 năm 1926, Phạm tiên sinh viết bài báo với nhan đề Văn hóa và Chính trị, một bài luận thuyết hay, trả lời tác giả Trần Văn Tăng ề bài báo Quá khứ và hiện tại đăng ở báo Nam Phong số 106 (tháng 6-1926). Sau một hồi phân tích mục đích bài báo của tác giả họ Trần là muốn giúp cho công việc “Vãn hồi quốc vận, phù cứu quốc nguy”. Mục đích chánh đáng vô cùng. Phàm kẻ làm văn, kẻ tư tưởng ở nước ta ngày nay, không thể có mục đích khác được… “Tôi cũng xin vì mục đích ấy mà thể cái lòng nhiệt thành của tác giả, muốn xét lại cái vấn đề trên kia về một phương diện thiết thực với thời thế hiện nay là: Làm thế nào cho nước Nam ta thật trở nên một nước chân chính? Làm thế nào cho nước Nam chân chính đó có một cái bản lĩnh chánh đáng về tinh thần và về thực tế để vĩnh viễn sinh tồn?… Hai câu đó mới xét tựa hồ như rời nhau, một câu thuộc về hiện tại, một câu thuộc về tương lai; có giải quyết được câu thứ nhất thời mới giải quyết được câu thứ nhì; nhưng xét kỹ hai câu cũng là một, câu trên thuộc về chính trị, câu dưới thuộc về văn hóa, mà chính trị rút lại cũng gồm ở trong phạm vi văn hóa… Sau đây xin bàn rõ về hai phương diện chính trị và văn hóa và chứng giải rằng trong hai phương diện ấy, phương diện văn hóa thật là quan hệ và bao quát hơn, dẫu có lúc tùy từng thời thế, tùy cơ hội, phải chuyên chủ về phương diện chính trị cũng không thể nhãng bỏ phương diện văn hóa, một đàng là gốc, một đàng là ngọn, gốc có vững thì ngọn mới tốt được… Nước Nam ta hiện chưa được là một nước chân chính, điều đó hiển nhiên ai cũng biết. Sở dĩ chưa được là một nước chân chính là bởi vì không có chủ quyền về chính trị, điều đó cũng hiển nhiên ai cũng biết… Một nước đã mất quyền chính trị mà muốn thu phục lại, thời chỉ có hai cách: Một cách bạo động, một cách ôn hòa…”

Cụ Phạm Quỳnh là một con người say mê trong sự nghiệp “văn chương chữ nghĩa”. Chỉ một tờ bìa của Nam Phong tạp chí mà đã làm tôi ngạc nhiên và mến phục tài ứng xử, đối đáp khéo léo để thắng đoạt mọi sự phản đối của ông quan cai trị Louis Marty. Đó là việc ông chủ bút họ Phạm đã thay đổi biểu trưng (logo) trên bìa 1 của tờ báo. Mấy năm đầu thì logo in hình “con gà trống Gôloa” (Gaulois)[4] đứng toàn thân trong hình vành khăn với 3 từ tiếng Pháp dàn đều quanh vòng: Liberté (Tự do) Égalité (Bình đẳng) Fraternité (Bác ái), đến năm 1920 thì hủy bỏ logo này, thay vào biểu trưng hình bầu dục với hai đường viền xung quanh, ở giữa in hai từ tiếng việt: “Nam Phong” lồng vào nhau. Từ năm 1926 về sau thì logo lại là một con dấu hình chữ nhật có 3 đường viền đậm nhạt khác nhau, in hai chữ Hán “Nam Phong” kiểu chữ triện. Sự thay đổi của ông chủ bút Nam Phong thể hiện rất rõ ý thức tự hào, tự tôn dân tộc. Năm 1931, nhân dịp Tổng trưởng Thuộc địa Pháp Paul Reynaud qua Đông Dương kinh lý, Phạm tiên sinh đã gửi bức thư ngỏ yêu cầu Chính phủ Pháp “hãy cho chúng tôi một Tổ quốc để tôn thờ; vì đối với dân tộc Việt Nam, Tổ quốc đó không phải là nước Pháp”. Phải chăng các ý tưởng trên đây là sản phẩm của nhân cách Phạm Quỳnh, ông phát biểu và viết ra đem in trên tờ Nam Phong tạp chí để đến với công chúng bạn đọc.

Thay lời kết:

Gần đây, trong một buổi giới thiệu sách dịch: Phạm Quỳnh, những tiểu luận viết bằng tiếng Pháp của Trung tâm Văn hóa – Ngôn ngữ Đông Tây, có đông người đến dự, trong đó có nhiều giáo sư, các giảng viên, các nhà nghiên cứu, các dịch giả, các nhà khoa học…, giáo sư Nguyễn Đình Chú có nói một câu tự đáy lòng rằng: “Phạm Quỳnh đối với riêng tôi là một cuộc sửa sai chính mình, một cuộc nhận thức lại những định kiến…Tôi cảm thấy xấu hổ”. Còn ông Chu Hảo, giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, nơi phối hợp xuất bản cuốn sách, đã nói: “Tôi quan niệm người trí thức đích thực là người truyền bá được những giá trị khoa học, văn hóa, người có ý thức trách nhiệm với dân tộc… đóng vai trò trung tâm hướng dẫn dư luận xã hội, Phạm Quỳnh chính là người trí thức như thế” (Văn hóa Nghệ An, số 116).

Huế, tháng 8 năm 2009.

N.T.C.

Tài liệu tham khảo:

–          Phạm Quỳnh. Pháp du hành trình nhật ký, Nxb Hội Nhà Văn và Công ty Văn hóa Phương Nam.

–          Nam Phong tạp chí các số: 13, 24, 46, 75, 101, 106, 107, 159…

–          Nguyễn Hoàng Diệu Thúy. Phạm Quỳnh, một nhận thức lại (Văn hóa Nghệ An số 116 tháng 1 năm 2008)

–          Vĩnh Ba. Nhà văn hóa Phạm Quỳnh (Huế Xưa và Nay số 82).


[1] Bút danh: Tây Dương

[2] F. Mistral (1830-1914): “S’il tient sa langue, il tient la clef qui, de ses chaines, le délivre” (tạm dịch: Nếu ai giữ được tiếng nói, tức là nắm được chìa khóa để tự giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ). F.Mistral nhận giải thưởng Nobel năm 1904.

[3] Trong sách Phạm Quỳnh tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (ESSAIS 1922-1932) do nhà xuất bản Tri thức, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, xuất bản năm 2007, ta thấy ông lại nhấn mạnh ý này trong bài diễn văn đọc trước Viện Hàn lâm Pháp ngày 22/7/1922, nhan đề là Một vấn đề giáo dục cho nòi giống chúng tôi (PT chú)

[4]Con gà trống Gôloa”: Biểu trưng cho xứ Gaule thời cổ đại về nhà nước của người Gaulois; có thời biểu trưng này được trang trí trên ngọn cờ cách mạng Pháp, sau bị xóa đi thời Đế chế, sau lại xuất hiện (1830) rồi lại bị xóa bởi Napoléon III. Lịch sử Pháp có câu: “Tổ tiên ta là người Gôloa” (Nos ancêtres sont les Gaulois). Thực dân Pháp đã đưa câu này dạy cho học sinh Việt Nam trong các trường Pháp – Việt từ bậc tiểu học.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog tại WordPress.com.

%d bloggers like this: