Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Hai 12, 2014

Danh hương Hoa Đường xưa

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 3:34 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 3 tháng 12 năm 2014.

DANH HƯƠNG HOA ĐƯỜNG XƯA

Nhà giáo Ưu tú Vũ Thế Khôi.

Lời dẫn của Phạm Tôn: Dưới nhan đề của chúng tôi, Blog PhamTon trích đăng bài Danh hương Hoa Đường xưa trong sách Vũ Tông Phan với văn hóa Thăng Long – Hà Nội do Vũ Thế Khôi chủ biên (NXB Lao Động, Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây 2010) từ trang 232 đến trang 249.

—o0o—

Làng Hoa Đường huyện Đường An trấn Hải Dương xưa, một thời từng là danh hương: đầu thế kỷ này trong dân gian còn truyền tụng câu “Nam Hành Thiện, đông Hoa Vu tong phanĐường” để chỉ hai làng khoa bảng nổi tiếng đã tiếp nối được truyền thống đỗ đạt của “Tiến sĩ sào”: Mộ Trạch. Riêng Hoa Đường có 12 Tiến sĩ cả văn lẫn võ!

(…)

Văn hóa Việt truyền thống trước hết là văn hóa làng xã. Có một ý kiến chí lí: trong hơn nghìn năm Bắc thuộc, Việt Nam mất nước, nhưng không hề mất làng. Chứng cớ hiển nhiên là các phong tục, tập quán ứng xử, lễ hội cùng ngôn ngữ chuyển tải chúng là tiếng Việt, dẫu có tiếp thu một số yếu tố, một số từ nhất định của văn hóa Hán, vẫn giữ nguyên gốc Việt cổ bản địa. Ngược lại, không ít quan tướng đô hộ đã Việt hóa hoàn toàn chỉ sau 3-4 đời nhập tịch làng Việt và viên quan nhà Đường, Vũ Hồn (804-853) là một trường hợp điển hình: vốn người huyện Long Khê, tỉnh Phúc Kiến, được cử sang làm An Nam kinh lược sứ (801-843), (theo Đại Việt sử ký toàn thư), đứng đầu bộ máy cai trị của nhà Đường ở Giao Châu, khi hết nhiệm kỳ ông không trở về Trung Hoa đang lâm vào cảnh rối loạn cuối triều Đường, các phe phái tàn sát nhau, mà ở lại “mảnh đất yên ổn của nhà Đường” (huyện Đường An), lấy vợ Việt, lập ra “tổ Tiến sĩ” Mộ Trạch và trở thành Thủy tổ của họ Vũ ở đất Đường An. Chính vì không để mất làng cùng các truyền thống văn hóa bản địa cổ truyển mà cuối cùng người Việt đã giành lại được nước. (…)

Đất Đường An xưa (nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) nổi tiếng nhiều làng văn hiến. Cách đây thế kỉ rưỡi, danh sĩ Vũ Tông Phan (1800-1851) từng khẳng định trên Đường An văn chỉ bi, hiện vẫn sừng sững trong sân đình làng Vạc, rằng: “Đại Việt ta là nước văn hiến, mà huyện Đường An cũng là đất như vậy”.

(…)

Trong quyển Phả họ Vũ cụ Vũ Huy Chân viết: “(…) Sau hồi quân Mông Cổ xâm lăng đất nước, có một nhóm người họ Vũ và họ Phạm rời khỏi lũy tre làng tới sinh cơ lập nghiệp trên một khoảng gò đống, phá đất hoang để làm ruộng rẫy. Chỉ trong một thời gian mà ở đó mọc lên một thôn ấp mới có ao có vườn, giàn hoa cây cảnh trông có vẻ an cư lạc nghiệp. Do cảnh vật mà thành tên, người trong vùng liền đặt tên là thôn Bông”.

(…)

Tóm lại, có thể khẳng định rằng địa bàn của xã Hoa Đường sau này đã được khai phá, cư trú và giáo hóa chí ít từ đời Trần. Tuy nhiên, phải đến đời Lê sơ (thế kỷ XV) thôn Bông cùng xã Ngọc Cục, cũng như toàn bộ làng xã lân cận Mộ Trạch mới thực sự trở thành một khu vực trù phú và phát triển cao về văn hóa. Chứng thực điều này là tấm bia chúng tôi mới phát hiện lại ở làng Vạc (Hoạch Trạch) – Đường An văn chỉ bi, bài kí do Tiến sĩ Vũ Tông Phan soạn, cho thấy rằng đến cuối đời Lê sơ, các làng quê xung quanh Mộ Trạch nhất loạt khai đại khoa: Thời Cử – 1453, Hoạch Trạch – 1493, thôn Bông Ngọc Cục – 1493, Tông Tranh – 1499, Châu Khê – 1502. Nên nhớ rằng, làng Mộ Trạch có từ thế kỉ thứ IX, nhưng vì gánh nặng sứ mạng khai thiên lập địa cho nên phải bốn trăm năm sau, năm 1247, Vũ Vị Phủ mới đỗ Ất khoa thi Tam giáo và đến khoa Giáp Thìn 1304, hai anh em Vũ Nghiêu Tá và Vũ Nông mới mở đầu danh sách hơn ba chục Tiến sĩ họ Vũ làng Mộ Trạch. Vậy thì để có thể khai khoa vào năm 1493, thôn Bông, dẫu được trải qua ít nhất hàng trăm năm khai phá, phát triển, tất cả bắt đầu từ khoảng thế kỷ XIII-XIV.

(…)

Đình vọng Lương Ngọc

Tại làng Lương Ngọc ngày nay vẫn lưu truyền câu chuyện thầy địa lí lừng danh Tả Ao (thế kỉ XVIII?), có lần qua Hoa Đường, khen đình đẹp, nhưng thấy đình xây ngoài lũy tre, phán: “Đất này đãi ngoại, đi khỏi làng làm ăn xa thì thành đạt”. Có lẽ đấy là một cách dân gian giải thích về việc dân Hoa Đường từ xưa đã đi lập nghiệp trong khắp tứ trấn và tại kinh đô Thăng Long, do đặc thù nghề truyền thống của mình là làm thư lại. “Dân đâu, thần thánh đó”. Sách Đường phố Hà Nội (1979) của Nguyễn Vĩnh Phúc và Trần Huy Bá có nhắc đến ngôi đình vọng của làng Lương Ngọc ở 68A Hàng Bông – Hà Nội. Đầu năm Nhâm Thân 1992, chúng tôi lên làng Đại Yên thăm cụ Hoàng Đạo Thúy, được cụ chỉ bảo cho biết đây là một đình vọng lớn nhất Hà Nội, xưa xuân thu nhị kì tế lễ linh đình, vì dân Lương Ngọc ra Hà Nội làm ăn, đã lập cả một “Lương Ngọc xã thuộc Hà” có tới ba nghìn nhân khẩu! Cụ nói: ở đó còn phải có tấm bia gắn trên tường kể rõ lai lịch ngôi đình này, sao không thấy sách Đường phố Hà Nội nhắc tới?

(…) Văn bia đề Lương Ngọc vọng từ bi chí, lạc khoản ghi bia lập ngày 1/1/1918 đời Khải Định nhân dịp trùng tu đình vọng.

(…) Qua văn bia chúng ta được biết đích xác thời điểm lập đình này là tháng 5/1892 đời vua Thành Thái, lí do lập đình vọng là vì từ đời vua Tự Đức giặc giã liên miên, đi lại cách trở, không về quê được, đành bái vọng tại gia, nên các vị làm quan bàn với chức sắc mua đất, rồi quyên góp tiền bầu hậu, lập đình thờ vọng. Phần Điều lệ cho biết việc thờ cúng ở đình vọng phải tiến hành theo nghi thức đúng như ở đình chính trong nguyên quán, kể cả việc giỗ hậu cụ Nghè Lập Trai và bà chính thất họ Phạm của quan Tạo sĩ.

Vậy ngôi đình này là sở hữu của đồng hương Lương Ngọc tại Hà Nội và là một di tích lịch sử – văn hóa, cho phép tìm hiểu nguồn gốc, quá trình phát triển dân cư và phố phường Hà Nội cũng như tục thờ vọng như một truyền thống văn hóa “uống nước nhớ nguồn”.

(…) Như vậy, tổng cộng Hoa Đương có 12 vị đỗ đại khoa.

Ngoài ra, có đến 11 Cử nhân triều Nguyễn quê gốc tại đây, trong đó một số vị nổi tiếng không kém gì các ông Nghè, như: Ông Cử Dưỡng Am Phạm Hội, ông Cử Kim Cổ Ngô Dạng.

(…)Nếu tính cả 12 vị Tiến sĩ trong hai thế kỉ XVIII-XIX, khoa trước đó đều phải thi đỗ Cử nhân, thì trong suốt hai trăm năm, trung bình cứ năm, sáu năm Hoa Đường lại có một đám khao vọng và vinh quy bái tổ. Năm Kỉ Hợi (1779), một lúc phát cả văn (Tiến sĩ Phạm Quý Thích) lẫn võ (Tạo sĩ Vũ Tá Cảnh). Trong thời kì đó, mạch đại khoa của Mộ Trạch lại kiệt hẳn từ 1754, tiếng tăm Hoa Đường càng nổi lên như cồn!

(…)

Sự nghiệp khoa bảng của Hoa Đường bước sang thế kỉ XVIII nở rộ như vậy không ngẫu nhiên.

Nhân tố khách quan là môi trường tự nhiên và xã hội mà người xưa gọi là “địa linh nhân kiệt”. Hoa Đường vừa gần chợ, vừa ven sông – “thứ nhất cận thị, thứ nhì cận giang”, thuận tiện cho giao lưu, mà giao lưu là tiền đề cho phát triển. Hoa Đường lại được hưởng trực tiếp sự lan tỏa văn hóa từ hai trung tâm văn hiến cổ đại: từ “Tiến sĩ sào” Mộ Trạch (cùng chung một cánh đồng, Vũ Tộc hoa phả viết: “mạch đất từ Mộ Trạch, qua Ngọc Cục dẫn vào địa phận Hoa Đường; họ Vũ ở Lương Ngọc chiếm đến 1/3 dân số và đến ½ số nhà khoa bảng, hẳn cũng có những người gốc gác họ Vũ ở tổ Tiến sĩ Mộ Trạch”) và từ cổ danh hương Phù Ủng (cùng chung một dòng sông phố Ủng) và chợ Hoa Đường xưa họp ở cả đôi bờ, nên vùng này xưa dân gian vẫn gọi là Ủng Hoa Đường).

Nhân tố chủ quan là người Hoa Đường làm một nghề truyền thống mà cái gốc là văn chương chữ nghĩa. Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí (tập I), ở đoạn liệt kê những nghề truyền thống của các làng quê thuộc huyện Đường An, Phan Huy Chú viết: “… làng Hoa Đường về huyện Đường An, quen việc viết, tính toán, không thể kể hết ra được”. Lại nữa, tòng chức thư lại đương nhiên phải rời quê đi làm ăn xa, nhưng đó chính cũng là điều kiện thuận lợi cho cá nhân mở mang đầu óc, học hỏi vươn lên ở các trung tâm phủ huyện trấn hoặc kinh đô, để rồi lại về đóng góp phát triển làng quê. Bởi vì truyền thống và phong tục buộc phải vinh quy bái tổ, thăm viếng phần mộ tiên liệt và bái yết từ đường, cho nên ngày xưa làm quan to đến đâu, thành đạt đến đâu cũng không dám quên nghĩa vụ đóng góp xây dựng quê cha đất tổ, không đứt mối liên lạc với làng quê.

(…)

Lương Ngọc, danh hương văn hiến xưa và căn cứ kiên cường của du kích đường số 5 trong kháng chiến (chống thực dân Pháp – PT chú), hiện nay theo chủ trương của Đảng bộ xã Thúc Kháng đang xây dựng “làng văn hóa”. Cách đây vài năm xã đã xây trường học mới. Thôn Lương Ngọc đã dựng Nhà văn hóa trên nền trường Tống sư xưa (do Thượng Thư bộ Học Phạm Quỳnh đặc cách cho đặt ở nguyên quán mình). Ngày Thương binh liệt sĩ năm nay xã đã khánh thành Nghĩa trang liệt sĩ, quy tập hài cốt 162 người bỏ mình vì nước.

(…)

Ngày nay, ơn nhờ đường lối Đổi mới, sự sáng suốt và năng nổ của lãnh đạo, sự đồng tâm hiệp lực của dân làng và đồng hương Lương Ngọc khắp nơi, danh hương Hoa Đường xưa đang bước vào một giai đoạn phát triển mới đầy hứa hẹn.

V.T.K.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: