Pham Ton’s Blog

Tháng Mười Hai 26, 2014

Phạm Quỳnh với sự hình thành và phát triển của kịch nói đầu thế kỷ XX_P1

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:43 chiều

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 1 tháng 1 năm 2015.

PHẠM QUỲNH VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KỊCH NÓI ĐẦU THẾ KỶ XX

Nguyễn Thị Hiền

(Bài đăng mục Nghiên Cứu – Trao Đổi – Phê Bình tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam số (168) 1/2009)

Đầu thế kỉ XX, Phạm Quỳnh (1892-1945) hoạt động với tư cách là một nhà báo, nhà văn, nhà chính trị. Từ 1917 đến 1932, ông làm chủ nhiệm, kiêm chủ bút Nam Phong tạp chí có nhiều đóng góp cho công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Ngoài những bài viết quan trọng và có ý nghĩa về thơ, tiểu thuyết, Phạm Quỳnh quan tâm đến sự hình thành và phát triển của thể loại kịch nói trong văn học hiện đại Việt Nam. Quan niệm về kịch của ông được thể hiện rải rác trong các bài viết: Một tháng ở Nam Kì, Một sự thí nghiệm đã nên công, Pháp du hành trình nhật ký, Thuật chuyện du lịch ở Pháp…, đặc biệt là công trình Khảo về diễn kịch.

Là người nhạy cảm với các hoạt động văn học, năm 1918, trong bài Một tháng ở Nam kỳ, Phạm Quỳnh viết: “Nay muốn cho nghề diễn kịch nước ta phát đạt được thì phải quyết chí cải cách mới xong. Thứ nhất, phải phân biệt chốn kịch trường với nhà ca quán và nơi võ đài, cho nghề tuồng, nghề hát, nghề múa mỗi nghề thông một cõi, nghề nào giữ cho thuần cái tôn chỉ, cái tinh thần của nghề ấy, không lẫn lộn với nhau, thì mỗi nghề mới phát đạt đến cực điểm được”. Như vậy, Phạm Quỳnh đã chỉ rõ yêu cầu, điều kiện để phát triển nền sân khấu kịch nói lúc bấy giờ. Theo ông, để xây dựng nền kịch nói, một mặt, lấy cái tinh thần trong kịch phương Tây để gây dựng thành một hình thức nghệ thuật biểu diễn mới, mặt khác, song song phát triển các loại hình sân khấu truyền thống sao cho loại hình nào cũng có chỗ đứng của nó. Hay nói như PGS. Tiến sĩ Phan Trọng Thưởng: “Sự ra đời của kịch nói không dẫn đến sự tận diệt của Tuồng, Chèo mà trái lại dẫn đến sự cách tân hai thể loại này để cùng tồn tại”. Phạm Quỳnh cũng chỉ rõ sự khác nhau giữu kịch nói và sân khấu truyền thống là ở hình thức ngôn ngữ. Tuồng, Chèo là múa và hát, còn kịch nói là hành động và đối thoại. Sau bài Một tháng ở Nam Kỳ (1918), tháng tư năm 1920 Phạm Quỳnh viết Một sự thí nghiệm đã nên công đánh giá vở Người bệnh tưởng do Nguyễn Văn Vĩnh dịch, được công diễn lần đầu ở Việt Nam. Có thể thấy, Phạm Quỳnh là người rất quan tâm đến xây dựng nền kịch nói ở nước ta.

Cho đến trước năm 1921, ở Việt Nam chưa xuất hiện những nhà viết kịch chuyên nghiệp, lối văn này cũng mới chỉ vào Việt Nam thông qua một số tác phẩm dịch của Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh. Xét về đóng góp của Phạm Quỳnh ở lĩnh vực lí luận kịch, trước hết phải kể đến công lao của ông trong dịch kịch bản Pháp. Ông dịch Le Cid của Corneille thành tuồng Lôi Xích (Nam Phong số 38, 39), dịch Horace của Corneille tuồng Hòa Lạc (Nam Phong số 73, 74, 75), dịch Trò chơi tình yêu và ngẫu nhiên của Marivaux thành Chàng Ngốc hóa khôn vì tình… Mục đích của Phạm Quỳnh khi dịch kịch nói Pháp là nhằm giới thiệu cho độc giả Việt Nam làm quen với một thể loại văn học mới và mong muốn học tập để sáng tác.

Ngoài dịch thuật, Phạm Quỳnh còn đưa lí luận sáng tác kịch từ phương Tây vào Việt Nam giúp các nhà soạn kịch nước ta có cơ sở để sáng tạo nên những tác phẩm kịch nói đầu tiên. Những vấn đề lí luận này được thể hiện tương đối rõ qua bài viết Khảo về diễn kịch. Trong bài viết này, ông chỉ rõ: “diễn kịch cũng như tiểu thuyết, diễn thuyết, là những lối văn chương mới ngày nay, nhiều người ưa nhưng ít người hiểu phép tắc ra thế nào”. Như vậy, soạn Khảo về diễn kịch, ông muốn đem đến cho những người yêu thích, quan tâm đến thể loại văn học này một cái nhìn toàn diện, chính xác từ phương diện lí luận.

Quan niệm về kịch, Phạm Quỳnh viết: “Diễn kịch là gì? Diễn kịch tiếng Pháp là drame (genre dramatique), do chữ Hi Lạp mà ra, nghĩa đen là “hoạt động”. Diễn kịch là một lối văn chương bày diễn ra một việc gì hoặc có thực, hoặc đặt ra, bằng những vai người hành động và nói năng hiển nhiên như thực”. So với ngày nay, những ý kiến này đã có phần lạc hậu, nhưng về cơ bản nó đã đề cập đến đặc trưng cơ bản của kịch là xung đột và chỉ ra yêu cầu của kịch là phải chân thực, gắn với đời sống. Ông chỉ rõ “trong kịch toàn là hành động cả, hoạt động cả, không phải là tự thuật như trong lối tiểu thuyết, lối sử ký”. Đây là cái cốt lõi của kịch nói mà đến nay lí luận về thể loại này vẫn không thay đổi “Kịch là một hình thức văn học phản ánh những vấn đề của cuộc sống bằng hành động”. “hành động là đặc trưng của kịch”.

Phạm Quỳnh cho rằng: “Diễn kịch không tất nhiên phải là việc đã có xảy ra thực, miễn là việc có thể xảy ra được”. Như vậy, nội dung kịch nói phải chân thực, gắn với cuộc sống. Kịch vốn có quan hệ với đời sống hiện thực, từ đời sống hiện thực, nếu có “bịa đặt” thì cũng trong khuôn khổ của cuộc sống “có thể xảy ra được”. Kịch thường viết về “những việc cũ trong lịch sử, hoặc những truyện truyền kì cổ tích, sửa sang xếp đặt lại cho thành bài kịch… gần về đời nay thời phần nhiều người với việc bịa đặt ra hết”. Muốn cho kịch nói có nội dung hiện thực, trước hết là ở sự sáng tạo, tài năng của người soạn kịch “nhà soạn kịch giỏi phải biết khéo xếp đặt thế nào cho rõ là việc phi thường mà vẫn ở trong sự thực”. Một phần quan trọng khác đặt lên vai các diễn viên trên sân khấu. Khi diễn kịch, vai diễn trong kịch phải “hành động, nói năng hiển nhiên như thực” để làm sao mô phỏng cho hệt như sự thực ở đời. Có thế mới đem đến sự hứng khởi, hấp dẫn cho người xem.

Bàn về kịch nói, Phạm Quỳnh rất xem nặng chức năng giáo dục khi cho rằng: kịch nói phải bảo vệ cho luân lí đạo đức mới có giá trị. Ông cho rằng kịch “không phải là một lối văn chương bại hoại phong tục, cũng không phải là một cái mạt nghệ của bọn xướng ca vô loại. Cái tôn chỉ của diễn kịch chính là để phù trì cho đạo đức, làm sáng cho luân lí”. Mục đích diễn kịch không gì khác là phải “bày ra một cái đại công đức, đại sự nghiệp gì để cho người ta cảm động mà muốn theo (như trong Tuồng), hay là vẽ ra những thói hư tính xấu của người đời để cho người ta buồn cười mà muốn chừa (như trong Chèo), cốt là khiến cho sinh ra lòng mến điều thiện và ghét sự ác. Mục đích ấy, tuy về sau này cũng có nhiều nhà soạn kịch làm sai đi nhưng nguyên là có quan hệ với luân lý, với đạo đức lắm”. Theo Phạm Quỳnh, ở giai đoạn phát triển thứ nhất của nghề diễn kịch thì nó phải có quan hệ với luân lí đạo đức, khi phát triển cao hơn nó mới thoát li dần ra khỏi luân lí và hướng về đường mĩ thuật, nhưng đây là một quá trình phát triển lâu dài. Thực ra, quan niệm này đã thể hiện ngay trong việc Phạm Quỳnh lựa chọn dịch kịch Corneille. Chọn bi kịch của Corneille, nghĩa là ông quan tâm nhiều hơn đến lối văn chương gắn với luân lí đạo đức. Ông cho rằng, Corneille là ông tổ nghề diễn kịch ở Pháp, chuyên về lối bi kịch. Đặc điểm kịch Corneille là nghiên về vấn đề luân lí xã hội “Đại ý các bài tuồng của ông là tả những cái thủ đoạn anh hùng của các bậc siêu quần, bạt chúng và thường là tả tình dục phản đối với nghĩa vụ, mà sau nghĩa vụ thắng đoạt được. Các bài tuồng của ông có thể cho là những bài dạy đạo đức rất cao thượng”. Và khi nhìn nhận giá trị kịch của Racine, ông cũng đề cập đến khía cạnh giáo huấn đạo đức mà ca ngợi “Ông tả về nhân tình thế thái một cách sâu sắc… Racine không có dạy đạo đức cho người ta, nhưng ông thuộc tâm lí người ta không ai bằng. Đọc những bài bi kịch của ông cũng có thể khôn người ra”

Có thể thấy, Phạm Quỳnh đã đề cao thể loại kịch nói và hoạt động diễn kịch, có công giới thiệu, đưa thêm một thể loại nghệ thuật của phương Tây vào văn học nước nhà. Nhưng giới hạn mục đích của kịch vào phạm vi luân lí đạo đức, vô tình Phạm Quỳnh đã bó hẹp phạm vi đời sống của kịch nói. Đây là điểm hạn chế, song đặt vào hoàn cảnh lúc bấy giờ, cái công của Phạm Quỳnh đối với kịch nói Việt Nam không phải là nhỏ. Quan niệm của ông ảnh hưởng mạnh mẽ đến diện mạo kịch nói mười năm đầu. Những tác phẩm kịch nói đầu tiên của sân khấu kịch nói Việt Nam phần lớn đều thiên về những vấn đề đạo đức xã hội như Chén thuốc độc, Tòa án lương tâm của Vũ Đình Long; Uyên ương Hoàng Mộng Điệp của Vi Huyền Đắc…Phải từ sau 1930, kịch nói Việt Nam mới có những chuyển biến quan trọng cả về chất lượng nội dung nghệ thuật, đội ngũ sáng tác và sự đa dạng của các khuynh hướng.

N.T.H.

(Còn tiếp một kỳ)

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: