Pham Ton’s Blog

Tháng Một 6, 2015

Phạm Quỳnh với sự hình thành và phát triển của kịch nói đầu thế kỷ XX

Filed under: Ý kiến — phamquynh @ 12:59 sáng

Blog PhamTon năm thứ sáu, tuần 2 tháng 1 năm 2015.

PHẠM QUỲNH VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KỊCH NÓI ĐẦU THẾ KỶ XX

Nguyễn Thị Hiền

(Tiếp theo kỳ trước)

Nghệ thuật viết kịch cũng là một vấn đề được Phạm Quỳnh bàn đến trong Khảo về diễn kịch. Lời bàn của ông là những gợi ý xây dựng một vở kịch từ khâu sáng tác đến công diễn. Chặt chẽ và thấu đáo, bài viết của ông đã cung cấp rất nhiều ý kiến bổ ích cho sự hình thành, phát triển kịch nói ở nước ta đầu thế kỉ XX.

Từ nghiên cứu kịch cổ điển phương Tây, đặc biệt là kịch Pháp, xét về nguyên lí soạn kịch, Phạm Quỳnh cho là có ba phần cốt yếu: “một là sáng ý (invention), hai là bố cục (disposition), ba là lập từ (élocution)”

Về “sáng ý”, ông cho rằng: “Sáng ý tức là đặt truyện, nghĩa là nghĩ ra người ra việc. Những người những việc trong bản kịch, cũng phải bày phải vẽ ra cho hệt cho khéo như trong tiểu thuyết mà lại phải linh hoạt hơn, vì tiểu thuyết là tự sự, diễn kịch là hoạt động”. Theo ông, để sáng ý, trong kịch phải có một vai chính, các vai khác là phụ, có vai trò làm nổi rõ vai chính. Nhà soạn kịch phải làm cho tính cách của vai chính được vẽ ra rõ rệt, thống nhất, xuyên suốt vở kịch, mà không nên quá rườm rà. Muốn vậy phải có những tính cách đối lập: “vai trung” thì phải có “vai nịnh”, “thật thà” phải có “quỷ quái”… Sự đối lập này không chỉ làm rõ tính cách của vai kịch mà còn là điểm thu hút, hấp dẫn người xem, tạo sự thú vị cho vở kịch.

Trong kịch nói, vì đảm bảo yêu cầu “chân thực” nên phải bỏ những tính hoang đường, kì dị của kịch truyền thống, cần theo lối cổ kịch châu Âu, trọng phép “Tam duy nhất”. Sau đó, Phạm Quỳnh phân tích, giảng giải tỉ mỉ nội dung của từng cái trong phép “Tam duy nhất” ấy. Nghệ thuật này của kịch phương Tây được các nhà lí luận kịch Việt Nam giai đoạn sau bàn đến nhiều, nhưng bàn như Phạm Quỳnh đã là khá kĩ càng, và cũng có thể coi ông là người đầu tiên giới thiệu nghệ thuật viết kịch của phương Tây vào Việt Nam.

Phân tích kĩ càng, đánh giá sâu sắc, ông đã nhận ra những nhà soạn kịch mới ở phương Tây thường không giữ được đúng ba phép duy nhất này. Ông cũng nhìn thấy hạn chế của ba phép này là quá nghiêm khắc, vì thế các nhà soạn kịch phải tìm cách mở rộng phạm vi của hai phép sau. Song phép “hành động duy nhất” thì “các nhà soạn kịch cổ kim đều cho là cần cả, không hề dám sai”. Như vậy, hành động trong kịch là quan trọng, hành động phải thống nhất, xuyên suốt vở kịch.

“Sáng ý tức là đặt truyện”, là xây dựng cố truyện. Cốt truyện thì phải như thực, gắn với đời sống. Đây là điều quan trọng, ông viết: “soạn kịch phải chủ lấy cho hệt, cho đúng như sự thực, khéo châm chước biến báo mà được hệt được đúng thời dẫu có sai lề lối một ít cũng không ngại gì, còn như chỉ biết giữ cho đúng lề lối mà truyện đặt ra không được hệt sự thực,thời bài kịch cũng không có giá trị gì”. Ngoài ra, kịch phải có cái ngụ ý sâu xa, khuyên điều thiện, răn điều ác, kịch phải quan hệ với luân lí đạo đức.

Về bố cục, Phạm Quỳnh chỉ rõ kịch nói phải chia thành hồi (actes), hồi chia ra kịch (scènes), (Thực ra, “scènes” có nghĩa là “lớp”, cách dịch của Phạm Quynh chưa chính xác – NTH). Ông viết: “mỗi một hồi là một đoạn lớn trong bài kịch, còn các kịch là các phần trong một hồi, hễ khi nào có một vai ra hoặc một vai vào là phải chuyển kịch này sang kịch khác”. Kịch thường có năm hồi, còn các kịch trong hồi thì không cố định. Trong bố cục, Phạm Quỳnh quan tâm đến đoạn “giải đề”, tức là phần nói rõ chủ ý của vở kịch cho người xem rõ. Cách nói phải thật khéo léo, vừa đủ, không quá rõ. Cách nói phải thật khéo léo, vừa đủ, không quá rõ, phải hơi mập mờ để gây hứng thú cho người xem. Tiếp theo là chỗ “thắt nút”, “nghĩa là dấu cả những sự khó khăn trở ngại vào mộ chỗ, để rồi gỡ ra dần dần. Thắt phải cho chặt rồi gỡ ra mới thú, nhưng cũng không lộng xảo mà làm rắc rối quá, khiến người xem phải khó nhọc mới hiểu thời không sướng nữa”. Như vậy, Phạm Quỳnh đã chỉ rõ cho nhà soạn kịch cách tạo nên những mâu thuẫn, xung đột kịch. Ông cũng đưa ra những yêu cầu cụ thể cho phần “thắt nút” này, cho đấy là cái khó của kịch vừa phải làm thế nào tạo ra hứng thú bất ngờ cho người xem, vưa phải phù hợp với luân lí và có ý nghĩa khuyên răn. Tất cả phụ thuộc vào tài năng của nhà soạn kịch.

Trong bố cục của kịch nói, đối thoại là một vấn đề quan trọng. Vì kịch nói diễn trên sân khấu, các diễn viên nói với nhau theo vai. Để đối thoại đạt hiệu quả, thu hút người xem, trước hết phải quan tâm đến số lượng nhân vật trên sân khấu. Lối đối thoại trong kịch nói phải tự nhiên như nói chuyện thường, luân chuyển, hoạt bát tránh rơi vào lối diễn thuyết. Ngoài ra, kịch còn có lời nói độc thoại. Độc thoại là khi nhân vật nói một mình trên sân khấu, bộc lộ tâm sự mình nên cần phải ngắn gọn, không làm cho người nghe nhàm chán.

Về Ngôn ngữ, theo Phạm Quỳnh, “Văn diễn kịch thứ nhất phải tự nhiên, như lời nói chuyện, nhưng là một cách nói chuyện có ý nghĩa…”, “không được cầu kì kiểu sức một tí nào”. Ông chỉ ra điểm khác của kịch nói so với các thể loại văn học khác là tác giả không xuất hiện trong vở kịch, mà chỉ là lời của nhân vật, thông qua diễn viên diễn xuất trên sân khấu. “Trong một bài kịch, người soạn kịch không có lộ ra, chỉ có các vai nói năng hành động trước mặt ta”.

Ngôn ngữ kịch phải phù hợp với tính cách của nhân vật, với hoàn cảnh, “giọng phải tùy từng hạng người, người đài các phải ra giọng đài các, người tầm thường phải ra giọng tầm thường: lại phải tùy mỗi lúc, lúc bình thường, lúc giận dữ, lúc vui vẻ, lúc buồn rầu”. Vì tác giả kịch không lộ ra nên trong ngôn ngữ của nhân vật còn có sự “sáp nhập” của ngôn ngữ nhà văn. Sự mượn lời này phải thật khéo léo, không tự phô trương.

Từ quá trình nghiên cứu, Phạm Quỳnh không chỉ đưa ra những mô hình chung của kịch, mà còn gợi ý, mở ra hướng đi cần thiết để kịch nói có thể phát triển ở nước ta. Với một thể loại hoàn toàn mới mẻ, những chỉ dẫn này của ông có ý nghĩa to lớn đối với những người có ý cổ vũ cho tân kịch. Những mô tả này vẫn là những vấn đề lí thuyết cơ bản cho sân khấu kịch nói ngày nay.

Cuối bài khảo cứu, Phạm Quỳnh chỉ ra cách phân loại kịch nói. Từ lịch sử nghề diễn kịch ở châu Âu, ông nhận định: “nghề diễn kịch từ lúc đầu đã chia ra hai lối kịch khác nhau: một lối bi kịch… và một lối hí kịch”. Ông nói thêm “Bi kịch, hí kịch, đó là hai thể lớn trong nghề diễn kịch”. Hai lối này khác nhau kiểu như sự khác nhau giữa Tuồng và Chèo của ta. Ông phân tích rất kĩ lưỡng và chỉ ra sự khác nhau xuất phát từ mục đích của bi kịch và hí kịch khác nhau, phạm vi, công hiệu của chúng khác nhau. Từ nguyên nhân khác nhau giữa hai lối kịch, Phạm Quỳnh phân tích đặc điểm của bi kịch và hí kịch một cách rõ ràng. Nó là những vấn đề cơ bản nhất của hai khuynh hướng kịch mà ông rút ra từ kịch cổ điển Pháp, giúp cho những nhà văn nước ta bắt tay vào soạn kịch. Ngoài ra, tác giả bài khảo cứu còn giới thiệu với người đọc một số lối diễn kịch khác như: ca kịch (opéra), ca kịch (vaudeville), tạp kịch (mélodrame) nhằm giúp độc giả có thểm hiểu biết về kịch.

Nói về hai lối lớn của kịch, trong bài Pháp du hành trình nhật kí, ông phân biệt “Những bài bi kịch thời hành động mau và giống hệt như thực vì lối diễn kịch này không có dung được những cách giả dối. Phàm diễn ra đều diễn cái chân tướng của sự đời, nồng nàn, mãnh liệt, khốc hại, hung tàn, cốt lấy thực mà trong sự thực có cái vẻ đẹp thâm trầm ở đó. Hí kịch thì bao giờ cũng có văn chương, cũng có trí tuệ, khi thời sự xảy đột ngột, khi thời đối đáp dĩnh ngộ, làm cho tức cười không nhịn được”. Cả hai lối kịch đều có mục đích, công hiệu tác động trực tiếp vào đời sống xã hội. Nhưng cần lưu ý “diễn kịch mà phải đường, có ích cho phong hóa không phải là nhỏ; nhưng diễn kịch mà sai đường thời hại cho phong hóa cũng không biết bao nhiêu mà kể. Người soạn kịch, kẻ xem kịch, phải nên cẩn thận”. Có thể nói, ông là người cẩn trọng và những lời bàn của ông thể hiện tinh thần trách nhiệm cao đối với sự phát triển của văn học dân tộc.

Thực ra, những ý kiến của Phạm Quỳnh về kịch chưa thành hệ thống, Khảo về diễn kịch chỉ là một bài khảo luận, chứ chưa phải là một công trình lí luận chuyên sâu về thể loại này, nhưng đặt trong hoàn cảnh nền văn học nước ta lúc bấy giờ, thể loại kịch nói mới hình thành thì mới thấy hết ý nghĩa, vai trò quan trọng của bài viết này, cũng như vị trí của Phạm Quỳnh trong nền kịch nói Việt Nam. Bài viết trở thành cẩm nang giới thiệu với giới văn nghệ sĩ và bạn đọc Việt Nam một thể loại văn học mới, hướng dẫn bước đầu cho kịch nói Việt Nam cách tạo dựng một vở kịch sao cho có hiệu quả. Chính vì vậy, giá trị của nó vượt ra ngoài khuôn khổ một bài khảo cứu, đem đến cho văn học Việt Nam những kiến thức mới mẻ về một thể loại chưa từng có trong văn học truyền thống nước ta, giúp ích cho những nhà soạn kịch và công chúng của thể loại này. Và khi kịch nói ra đời, văn học Việt Nam hiện đại sẽ thêm điều kiện trở nên hoàn chỉnh. Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh là những người khởi động, chuẩn bị về phương diện lí luận cho một thể loại văn học mới, thể loại kịch nói, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam hội nhập vào văn học hiện đại thế giới.

N.T.H.

Advertisements

Gửi bình luận »

Không có bình luận

RSS feed for comments on this post. TrackBack URI

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một website miễn phí hoặc 1 blog với WordPress.com.

%d bloggers like this: